• Lưu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản


Văn bản pháp luật về Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

 

Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996

Tải về Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
Bản Tiếng Việt

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 52-L/CTN

Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 1996

LUẬT

BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng pháp luật, kịp thời thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng, đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này quy định thẩm quyền, thủ tục và trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:

1- Văn bản do Quốc hội ban hành: Hiến pháp, luật, nghị quyết ;

Văn bản do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành: pháp lệnh, nghị quyết;

2- Văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ở trung ương ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

a) Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

b) Nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ;

c) Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ;

d) Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

đ) Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội;

3- Văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; văn bản do Uỷ ban nhân dân ban hành còn để thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp:

a) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân;

b) Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân.

Điều 2. Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.

Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật.

Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

Văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ, đình chỉ việc thi hành.

Điều 3. Tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

1- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân có quyền tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

2- Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, căn cứ vào tính chất và nội dung của dự án, cơ quan, tổ chức hữu quan tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân nói tại khoản 1 Điều này tham gia góp ý kiến và tiếp thụ ý kiến đóng góp để xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Điều 4. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật quy định hiệu lực về thời gian, không gian và đối tượng áp dụng.

Điều 5. Ngôn ngữ của văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện bằng tiếng Việt.

Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu. Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì phải được định nghĩa trong văn bản.

Văn bản quy phạm pháp luật có thể được dịch ra tiếng các dân tộc thiểu số.

Điều 6. Số và ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật phải được đánh số thứ tự cùng với năm ban hành và ký hiệu cho từng loại văn bản.

Điều 7. Văn bản quy định chi tiết thi hành

1- Luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác phải được quy định cụ thể để khi các văn bản đó có hiệu lực thì được thi hành ngay.

Trong trường hợp luật, pháp lệnh có điều, khoản cần phải được quy định chi tiết bằng văn bản khác, thì ngay tại điều, khoản đó, phải xác định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và thời hạn ban hành văn bản.

2- Văn bản quy định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời ban hành khi luật, pháp lệnh có hiệu lực.

Điều 8. Rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật

Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thường xuyên rà soát, định kỳ hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật; nếu phát hiện có quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển của đất nước, thì tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.

Cơ quan, tổ chức và công dân có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

Điều 9. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng một văn bản quy phạm pháp luật do chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, điều, khoản của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.

Văn bản quy phạm pháp luật khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành, thì vẫn còn nguyên hiệu lực và phải được nghiêm chỉnh thi hành.

Điều 10. Đăng Công báo, yết thị và đưa tin

Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo hoặc yết thị, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước.

Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương phải được đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.

Chính phủ thống nhất quản lý Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam.

Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân phải được yết thị tại trụ sở của cơ quan ban hành và những địa điểm khác do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân quyết định.

Điều 11. Gửi, lưu trữ văn bản quy phạm pháp luật

1- Văn bản quy phạm pháp luật phải được gửi kịp thời đến cơ quan nhà nước cấp trên trực tiếp và đến các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hữu quan.

2- Bản gốc của văn bản quy phạm pháp luật phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Điều 12. Dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài

Văn bản quy phạm pháp luật có thể được dịch ra tiếng nước ngoài.

Việc dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài do Chính phủ quy định.

Chương 2:

CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CÓ THẨM QUYỀN BAN HÀNH VÀ HÌNH THỨC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Điều 13. Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội

1- Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.

Quốc hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp.

Việc soạn thảo, thông qua, công bố Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và thủ tục, trình tự giải thích Hiến pháp do Quốc hội quy định.

2- Căn cứ vào Hiến pháp, Quốc hội ban hành luật, nghị quyết.

3- Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh, nghị quyết.

Điều 14. Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định.

Điều 15. Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Chính phủ ban hành nghị quyết, nghị định.

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định, chỉ thị.

Điều 16. Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư.

Điều 17. Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư.

Điều 18. Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan, tổ chức sau đây có thể phối hợp ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch để hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình:

1- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

2- Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

3- Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

4- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội trong trường hợp pháp luật có quy định việc tổ chức chính trị - xã hội tham gia quản lý nhà nước.

Điều 19. Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết.

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, Uỷ ban nhân dân ban hành quyết định, chỉ thị.

Thẩm quyền, thủ tục và trình tự ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân do pháp luật quy định.

Chương 3:

VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA QUỐC HỘI, ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Mục 1: NỘI DUNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA QUỐC HỘI, UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Điều 20. Luật, nghị quyết của Quốc hội

1- Luật quy định các vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.

2- Nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, tôn giáo, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, điều chỉnh ngân sách nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, phê chuẩn điều ước quốc tế, quyết định chế độ làm việc của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

Điều 21. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

1- Pháp lệnh quy định về những vấn đề được Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành thành luật.

2- Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được ban hành để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, giám sát việc thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân, quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc từng địa phương và quyết định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Mục 2: CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH

Điều 22. Lập chương trình, thông qua chương trình

1- Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của công dân.

2- Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật được quy định tại Điều 87 của Hiến pháp năm 1992 gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và đồng thời gửi đến Chính phủ, trong đó phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, xác định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của văn bản, các điều kiện cần thiết cho việc soạn thảo văn bản; kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội cũng được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ.

Chính phủ lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội và phát biểu ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.

3- Uỷ ban pháp luật của Quốc hội chủ trì và phối hợp với Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội thẩm tra dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Chính phủ, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.

4- Căn cứ vào dự kiến chương trình của Chính phủ, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội, ý kiến thẩm tra của Uỷ ban pháp luật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội lập dự án Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Quốc hội quyết định.

5- Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ Quốc hội và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm.

6- Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cả nhiệm kỳ trong năm đầu tiên của mỗi khoá Quốc hội; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm tại kỳ họp cuối năm của năm trước.

Điều 23. Điều chỉnh chương trình

Khi xét thấy cần thiết, Quốc hội quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội khi kiến nghị về việc điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh phải có tờ trình nêu rõ lý do việc điều chỉnh.

Thủ tục, trình tự điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được thực hiện theo quy định tại Điều 22 của Luật này.

Điều 24. Bảo đảm thực hiện chương trình

Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự án pháp lệnh đã được quyết định trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm tổ chức việc soạn thảo, bảo đảm chất lượng và thời hạn trình dự án.

Mục 3: SOẠN THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA QUỐC HỘI, UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Điều 25. Thành lập Ban soạn thảo

1- Cơ quan, tổ chức trình dự án luật, dự án pháp lệnh thành lập Ban soạn thảo. Trong trường hợp dự án luật, dự án pháp lệnh có nội dung liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo gồm đại diện có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức hữu quan.

Đối với dự án luật do Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo. Đối với dự án luật, dự án pháp lệnh do Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội trình, thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo theo đề nghị của cơ quan, đại biểu Quốc hội trình dự án.

2- Việc soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh do Ban soạn thảo đảm nhiệm.

Ban soạn thảo chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án về tiến độ và chất lượng dự án.

3- Cơ quan, tổ chức hữu quan có thành viên trong Ban soạn thảo có trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về những nội dung liên quan đến lĩnh vực công tác của cơ quan, tổ chức hữu quan đó và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình.

Điều 26. Soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh

Trong việc soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh, Ban soạn thảo tiến hành các công việc sau đây :

1- Tổng kết tình hình thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dự án; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự án;

2- Tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên quan đến dự án;

3- Chuẩn bị đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự án;

4- Tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan bằng các hình thức thích hợp tuỳ theo tính chất của từng dự án;

5- Chuẩn bị tờ trình và tài liệu liên quan đến dự án. Tờ trình nêu rõ sự cần thiết phải ban hành, mục đích, yêu cầu, phạm vi, đối tượng và nội dung chính của dự án, những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau;

6- Phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành;

7- Trong việc soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh, phải tính đến điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

Điều 27. Bố cục của luật, pháp lệnh

1- Luật, pháp lệnh phải có tên, căn cứ pháp lý để ban hành. Tuỳ theo nội dung, luật, pháp lệnh có thể có lời nói đầu, được bố cục theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm; phần, chương, mục phải có tiêu đề.

2- Luật, pháp lệnh được ban hành phải xác định các văn bản, các điều, khoản của văn bản bị bãi bỏ.

Điều 28. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự án pháp lệnh

1- Cơ quan, tổ chức trình dự án luật, dự án pháp lệnh có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Chỉ đạo Ban soạn thảo và thường xuyên cho ý kiến về việc soạn thảo dự án;

b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến dự án.

c) Mời chuyên gia tham gia xây dựng dự án;

d) Xem xét, quyết định việc trình dự án luật ra Quốc hội, trình dự án pháp lệnh ra Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Trong trường hợp chưa trình được dự án luật, dự án pháp lệnh theo chương trình, thì phải kịp thời báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội và nêu rõ lý do;

2- Đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự án pháp lệnh có nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều này. Văn phòng Quốc hội bảo đảm điều kiện cần thiết cho Ban soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh do đại biểu Quốc hội trình.

Điều 29. Trách nhiệm của Chính phủ đối với dự án luật, dự án pháp lệnh

1- Chính phủ có trách nhiệm xem xét, thảo luận tập thể những dự án luật, dự án pháp lệnh do Chính phủ trình, biểu quyết theo đa số để quyết định việc trình dự án luật ra Quốc hội, trình dự án pháp lệnh ra Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Đối với những dự án luật, dự án pháp lệnh do cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình, thì Chính phủ có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản.

2- Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản về dự án luật, dự án pháp lệnh mà nội dung của dự án liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ quản lý ngành, lĩnh vực của mình.

3- Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định các dự án luật, dự án pháp lệnh để Chính phủ xem xét trước khi quyết định trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc để Chính phủ tham gia ý kiến đối với những dự án do cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Điều 30. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tham gia ý kiến vào dự án luật, dự án pháp lệnh

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có quyền tham gia ý kiến vào dự án luật, dự án pháp lệnh.

Đối với dự án luật, dự án pháp lệnh có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về tổ chức bộ máy nhà nước, thì cơ quan soạn thảo có trách nhiệm gửi dự án luật, dự án pháp lệnh đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên để lấy ý kiến.

Điều 31. Soạn thảo dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội do Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội phân công soạn thảo. Dự thảo nghị quyết được gửi để lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

Mục 4: THẨM TRA DỰ ÁN LUẬT, DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI, DỰ ÁN PHÁP LỆNH, DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Điều 32. Việc thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội

1- Dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban hữu quan của Quốc hội thẩm tra (gọi chung là cơ quan thẩm tra).

Trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình dự án luật thì Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra hoặc thành lập Uỷ ban lâm thời để thẩm tra dự án luật đó; đối với dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội trình, thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra.

2- Cơ quan thẩm tra có quyền yêu cầu cơ quan soạn thảo báo cáo về những vấn đề thuộc nội dung của dự án; tự mình hoặc cùng cơ quan soạn thảo tổ chức khảo sát thực 52-L/CTN tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được cơ quan thẩm tra yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.

3- Đối với dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra, thì Uỷ ban pháp luật của Quốc hội tham gia thẩm tra nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Điều 33. Thời hạn gửi dự án luật, dự án pháp lệnh và dự thảo nghị quyết để thẩm tra

Chậm nhất là ba mươi ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội hoặc chậm nhất là hai mươi ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án phải gửi tờ trình, dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tới cơ quan thẩm tra để tiến hành thẩm tra.

Điều 34. Phạm vi thẩm tra

Cơ quan thẩm tra tiến hành thẩm tra về tất cả các mặt của dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nhưng tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau đây :

1- Sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh;

2- Sự phù hợp của nội dung dự án với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp của dự án và tính thống nhất của văn bản với hệ thống pháp luật;

3- Việc tuân thủ thủ tục và trình tự soạn thảo;

4- Tính khả thi của dự án.

Điều 35. Phương thức thẩm tra

Dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết có thể được thẩm tra một lần hoặc nhiều lần.

Đối với dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội để xin ý kiến, thì phải được cơ quan thẩm tra tiến hành thẩm tra sơ bộ.

Đối với dự án luật, dự thảo nghị quyết trình Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định thông qua, thì phải được cơ quan thẩm tra tiến hành thẩm tra chính thức.

Khi thẩm tra chính thức, cơ quan thẩm tra phải tiến hành phiên họp toàn thể.

Trong trường hợp dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết được giao cho nhiều cơ quan phối hợp thẩm tra, thì cơ quan được giao chủ trì thẩm tra có trách nhiệm tổ chức phiên họp liên tịch để tiến hành thẩm tra.

Báo cáo thẩm tra phải phản ánh đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan thẩm tra.

Mục 5: UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI XEM XÉT, CHO Ý KIẾN VỀ DỰ ÁN LUẬT, DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT

Điều 36. Thời hạn gửi dự án luật, dự thảo nghị quyết để Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến

Chậm nhất là hai mươi ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết phải gửi tờ trình, dự án và các tài liệu có liên quan đến cơ quan thẩm tra để tiến hành thẩm tra sơ bộ.

Chậm nhất là bảy ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết phải gửi tờ trình, dự án và tài liệu có liên quan ; cơ quan thẩm tra phải gửi báo cáo thẩm tra về dự án luật, dự thảo nghị quyết đó đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Điều 37. Trình tự xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết

1- Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự án luật, dự thảo nghị quyết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết một lần hoặc nhiều lần.

2- Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết theo trình tự sau đây :

a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết thuyết trình về dự án và những vấn đề thuộc nội dung dự án luật, dự thảo nghị quyết cần xin ý kiến;

b) Đại diện cơ quan thẩm tra trình báo cáo thẩm tra ;

c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

d) Các thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận ;

đ) Chủ toạ phiên họp kết luận.

Điều 38. Việc tiếp thụ và chỉnh lý dự án luật, dự thảo nghị quyết theo ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Trên cơ sở ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thụ ý kiến và tổ chức việc chỉnh lý dự án.

Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết có ý kiến khác với ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.

Mục 6: LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN VỀ DỰ ÁN LUẬT, DỰ ÁN PHÁP LỆNH

Điều 39. Quyết định việc lấy ý kiến nhân dân về dự án luật, dự án pháp lệnh

1- Căn cứ vào tính chất và nội dung của dự án luật,dự án pháp lệnh, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định việc lấy ý kiến nhân dân về dự án luật, dự án pháp lệnh.

2- Nội dung, phạm vi, thể thức và thời gian lấy ý kiến nhân dân về dự án luật, dự án pháp lệnh do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân và việc tiếp thụ ý kiến nhân dân để chỉnh lý dự án.

Điều 40. Tham gia góp ý kiến vào dự án luật, dự án pháp lệnh

1- Công dân góp ý kiến về dự án luật, dự án pháp lệnh thông qua cơ quan, tổ chức của mình, trực tiếp hoặc gửi thư góp ý tới Văn phòng Quốc hội, cơ quan, tổ chức soạn thảo dự án hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.

2- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân có trách nhiệm tổ chức, tạo điều kiện để công dân thuộc tổ chức, cơ quan, đơn vị mình tham gia ý kiến vào dự án luật, dự án pháp lệnh.

Điều 41. Tập hợp, tiếp thụ ý kiến nhân dân để chỉnh lý dự án luật, dự án pháp lệnh

Ý kiến của nhân dân về dự án luật, dự án pháp lệnh phải được tập hợp, nghiên cứu, tiếp thụ để chỉnh lý dự án.

Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm tập hợp đầy đủ ý kiến của nhân dân.

Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án phối hợp với cơ quan thẩm tra nghiên cứu, tiếp thụ ý kiến nhân dân, chỉnh lý dự án và báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Mục 7: LẤY Ý KIẾN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VỀ DỰ ÁN LUẬT, DỰ ÁN PHÁP LỆNH

Điều 42. Đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tham gia ý kiến về dự án luật

Trong quá trình soạn thảo, nếu được Uỷ ban thường vụ Quốc hội đồng ý thì dự án luật được gửi lấy ý kiến đại biểu Quốc hội.

Chậm nhất là hai mươi ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, dự án luật phải được gửi đến đại biểu Quốc hội.

Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tổ chức thảo luận dự án luật tại địa phương và gửi biên bản thảo luận về Văn phòng Quốc hội chậm nhất là bảy ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp.

Điều 43. Đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tham gia ý kiến về dự án pháp lệnh

Khi xét thấy cần thiết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi dự án pháp lệnh để lấy ý kiến đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội chậm nhất là hai mươi ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức thảo luận dự án pháp lệnh tại địa phương và gửi biên bản thảo luận về Văn phòng Quốc hội chậm nhất là bảy ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội .

Điều 44. Tiếp thụ và chỉnh lý dự án theo ý kiến của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội

Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm tập hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội về dự án luật, dự án pháp lệnh. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án phối hợp với cơ quan thẩm tra nghiên cứu, tiếp thụ ý kiến của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội để chỉnh lý dự án.

Mục 8: THÔNG QUA DỰ ÁN LUẬT, DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI, DỰ ÁN PHÁP LỆNH, DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Điều 45. Trình tự xem xét, thông qua dự án luật

1- Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự án luật, Quốc hội có thể xem xét dự án luật tại một hoặc nhiều kỳ họp của Quốc hội. Trong trường hợp dự án luật được xem xét tại nhiều kỳ họp của Quốc hội, thì trong lần xem xét đầu, Quốc hội thảo luận và cho ý kiến về đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nội dung cơ bản và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án luật. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật có trách nhiệm tiếp thụ, chỉnh lý dự án.

2- Quốc hội xem xét , thông qua dự án luật theo trình tự sau đây :

a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án thuyết trình về dự án;

b) Đại diện cơ quan thẩm tra trình báo cáo thẩm tra;

c) Quốc hội thảo luận dự án luật tại phiên họp toàn thể. Việc thảo luận có thể tiến hành theo từng vấn đề, từng chương hoặc toàn bộ dự án. Trước khi thảo luận ở phiên họp toàn thể, dự án luật được trao đổi ở Đoàn, ở Tổ đại biểu Quốc hội.

Trong quá trình thảo luận, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án được trình bày bổ sung về những vấn đề liên quan đến dự án;

d) Đoàn thư ký kỳ họp phối hợp với cơ quan thẩm tra và cơ quan soạn thảo tiếp thụ ý kiến của đại biểu Quốc hội, dự kiến chỉnh lý dự án và báo cáo với Uỷ ban thường vụ Quốc hội trước khi trình Quốc hội quyết định.

Đối với những dự án luật có nhiều vấn đề phức tạp, còn có nhiều ý kiến khác nhau, thì Quốc hội có thể thành lập tổ công tác gồm đại diện cơ quan thẩm tra, cơ quan, tổ chức soạn thảo, một số đại biểu Quốc hội và một số chuyên gia để chỉnh lý dự án;

đ) Quốc hội thông qua dự án luật bằng cách biểu quyết từng điều, từng chương, nghe đọc toàn văn, sau đó biểu quyết toàn bộ hoặc nghe đọc toàn văn rồi biểu quyết toàn bộ dự án một lần.

Dự án luật được thông qua khi quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

3- Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật.

4- Trong trường hợp dự án luật chưa được thông qua, Quốc hội cho ý kiến về những vấn đề cần được tiếp tục chỉnh lý và giao cho cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án phối hợp với cơ quan thẩm tra chỉnh lý trong thời hạn do Quốc hội quyết định.

Điều 46. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Quốc hội

1- Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, Quốc hội có thể xem xét dự thảo tại một hoặc nhiều kỳ họp.

2- Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ quan, tổ chức được phân công chuẩn bị dự thảo nghị quyết thuyết trình và đọc toàn văn dự thảo;

b) Đại diện cơ quan thẩm tra trình báo cáo thẩm tra;

c) Quốc hội thảo luận;

d) Quốc hội thông qua dự thảo nghị quyết bằng cách biểu quyết từng vấn đề và sau đó biểu quyết toàn bộ dự thảo hoặc biểu quyết toàn bộ dự thảo một lần.

Dự thảo nghị quyết của Quốc hội được thông qua khi quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, trừ trường hợp quy định tại Điều 88 của Hiến pháp năm 1992.

3- Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực nghị quyết của Quốc hội.

Điều 47. Trình tự xem xét, thông qua dự án pháp lệnh

1- Tuỳ theo tính chất, nội dung của dự án pháp lệnh, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể xem xét dự án tại một hoặc nhiều phiên họp.

2- Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án pháp lệnh theo trình tự sau đây :

a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án thuyết trình và đọc toàn văn dự án;

b) Đại diện cơ quan thẩm tra trình báo cáo thẩm tra;

c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

d) Các thành viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận;

đ) Chủ tọa phiên họp kết luận;

e) Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết.

Dự án pháp lệnh được thông qua khi quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành.

3- Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh.

4- Trong trường hợp dự án pháp lệnh chưa được thông qua thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến về những vấn đề cần được tiếp tục chỉnh lý và giao cho cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án phối hợp với cơ quan thẩm tra chỉnh lý trong thời hạn do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định.

Điều 48. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

1- Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể xem xét dự thảo tại một hoặc nhiều phiên họp.

2- Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ quan, tổ chức được phân công chuẩn bị dự thảo nghị quyết thuyết trình và đọc toàn văn dự thảo;

b) Đại diện cơ quan thẩm tra trình báo cáo thẩm tra;

c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

d) Các thành viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận;

đ) Chủ tọa phiên họp kết luận;

e) Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết.

Dự thảo nghị quyết được thông qua khi quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành.

3- Chủ tịch Quốc hội ký nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Điều 49. Việc xem xét lại pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Đối với pháp lệnh, nghị quyết đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua mà Chủ tịch nước đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại theo quy định tại khoản 7 Điều 103 của Hiến pháp năm 1992, thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại những vấn đề mà Chủ tịch nước có ý kiến. Nếu pháp lệnh, nghị quyết đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất.

Mục 9: CÔNG BỐ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA QUỐC HỘI, ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Điều 50. Công bố luật, nghị quyết của Quốc hội

Chủ tịch nước ban hành lệnh để công bố luật, nghị quyết của Quốc hội mà việc công bố nghị quyết đó thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày luật, nghị quyết được thông qua.

Điều 51. Công bố pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

1- Chủ tịch nước ban hành lệnh để công bố pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội mà việc công bố nghị quyết đó thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày pháp lệnh, nghị quyết được thông qua.

2- Đối với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã được thông qua mà Chủ tịch nước đề nghị xem xét lại hoặc trình Quốc hội quyết định, thì thời hạn công bố chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua, sau khi đã xem xét lại hoặc kể từ ngày Quốc hội quyết định.

Mục 10: GIẢI THÍCH LUẬT, PHÁP LỆNH

Điều 52. Thẩm quyền giải thích luật, pháp lệnh

Uỷ ban thường vụ Quốc hội giải thích luật, pháp lệnh.

Cơ quan, tổ chức theo quy định tại Điều 87 của Hiến pháp năm 1992, đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội giải thích luật, pháp lệnh. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định việc giải thích.

Điều 53. Soạn thảo, thông qua dự thảo nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh

1- Tuỳ theo tính chất, nội dung của vấn đề cần được giải thích, Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

2- Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ quan, tổ chức hữu quan, đại biểu Quốc hội đã có đề nghị giải thích được mời tham dự phiên họp trình bày ý kiến ;

b) Đại diện cơ quan được phân công chuẩn bị dự thảo nghị quyết giải thích thuyết trình và đọc toàn văn dự thảo;

c) Đại diện cơ quan thẩm tra trình báo cáo thẩm tra về sự phù hợp của dự thảo nghị quyết giải thích với tinh thần và nội dung của văn bản được giải thích;

d) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

đ) Các thành viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận;

e) Chủ tọa phiên họp kết luận;

g) Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết.

Dự thảo nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh được thông qua khi quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành.

3- Chủ tịch Quốc hội ký nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh.

4- Nghị quyết về việc giải thích luật, pháp lệnh được đăng Công báo và đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Chương 4:

VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC

Điều 54. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp, luật quy định.

Điều 55. Soạn thảo dự thảo lệnh, quyết định

1- Chủ tịch nước tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định cơ quan soạn thảo dự thảo lệnh, quyết định.

2- Cơ quan được giao soạn thảo tổ chức nghiên cứu, soạn thảo dự thảo lệnh, quyết định.

3- Tuỳ theo nội dung của dự thảo lệnh, quyết định, Chủ tịch nước quyết định việc lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

4- Cơ quan được giao soạn thảo chỉnh lý dự thảo lệnh, quyết định và báo cáo Chủ tịch nước về dự thảo, ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

5- Chủ tịch nước xem xét, ký lệnh, quyết định.

Chương 5:

VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ, CÁC BỘ, CƠ QUAN NGANG BỘ, CƠ QUAN THUỘC CHÍNH PHỦ

Mục 1: NỘI DUNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ, BỘ TRƯỞNG, THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN NGANG BỘ, THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN THUỘC CHÍNH PHỦ

Điều 56. Nghị quyết, nghị định của Chính phủ

1- Nghị quyết của Chính phủ được ban hành để quyết định chính sách cụ thể về xây dựng và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở, hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; bảo đảm thực hiện Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân; thực hiện chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo; quyết định chủ trương, chính sách cụ thể về ngân sách nhà nước, tiền tệ; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường; củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh; thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước, các biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; các biện pháp chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; phê duyệt các điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền của Chính phủ.

2- Nghị định của Chính phủ bao gồm :

a) Nghị định quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ thành lập; các biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ;

b) Nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Việc ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Điều 57. Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ

1- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành để quyết định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; quy định chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.

2- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ quy định các biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; đôn đốc và kiểm tra hoạt động của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quyết định của Chính phủ.

Điều 58. Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ

1- Quyết định của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc; quy định các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm và các định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách; quy định các biện pháp để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách và những vấn đề được Chính phủ giao.

2- Chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quy định các biện pháp để chỉ đạo, đôn đốc, phối hợp và kiểm tra hoạt động của các cơ quan, đơn vị thuộc ngành, lĩnh vực do mình phụ trách trong việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và của mình.

3- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ được ban hành để hướng dẫn thực hiện những quy định được luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ giao thuộc phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách.

Mục 2: SOẠN THẢO, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ, BỘ TRƯỞNG, THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN NGANG BỘ, THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN THUỘC CHÍNH PHỦ

Điều 59. Chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định

Để bảo đảm thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước và căn cứ vào yêu cầu quản lý nhà nước, Chính phủ quyết định chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định ba tháng, sáu tháng và hàng năm của Chính phủ theo sáng kiến của mình và đề nghị của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

Trong trường hợp cần thiết, Chính phủ điều chỉnh chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định.

Điều 60. Thành lập Ban soạn thảo nghị quyết, nghị định

1- Chính phủ quyết định cơ quan chủ trì soạn thảo nghị quyết, nghị định.

Cơ quan chủ trì soạn thảo sau khi thoả thuận với các Bộ, ngành hữu quan thành lập Ban soạn thảo.

2- Đối với nghị định quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 của Luật này, thì Chính phủ quyết định thành lập Ban soạn thảo.

Điều 61. Soạn thảo dự thảo nghị quyết, nghị định

Trong việc soạn thảo dự thảo nghị quyết, nghị định, Ban soạn thảo phải tiến hành các công việc sau đây:

1- Tổng kết tình hình thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan;

2- Tổ chức nghiên cứu, xây dựng dự thảo;

3- Lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan; tập hợp ý kiến và chỉnh lý dự thảo;

4- Chuẩn bị tờ trình cùng với dự thảo và các tài liệu cần thiết khác để trình Chính phủ.

Điều 62. Tham gia ý kiến xây dựng dự thảo nghị quyết, nghị định

Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, nghị định, cơ quan soạn thảo gửi dự thảo tới Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan, tổ chức hữu quan, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) để tham gia ý kiến.

Điều 63. Thẩm định dự thảo nghị quyết, nghị định

Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định các dự thảo nghị quyết, nghị định trước khi trình Chính phủ để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của văn bản trong hệ thống pháp luật.

Chậm nhất là hai mươi ngày, trước ngày Chính phủ họp, cơ quan soạn thảo gửi dự thảo nghị quyết, nghị định và các tài liệu liên quan đến Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp có trách nhiệm chuẩn bị ý kiến thẩm định bằng văn bản và gửi văn bản thẩm định đến Chính phủ chậm nhất là năm ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp của Chính phủ.

Điều 64. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết, nghị định

1- Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, nghị định Chính phủ có thể xem xét dự thảo nghị quyết, nghị định tại một hoặc nhiều phiên họp của Chính phủ;

2- Tại phiên họp của Chính phủ, đại diện cơ quan soạn thảo, thuyết trình về dự thảo; Bộ trưởng Bộ Tư pháp trình bày ý kiến thẩm định dự thảo; đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

3- Các thành viên của Chính phủ thảo luận;

4- Dự thảo nghị quyết, nghị định được Chính phủ thông qua khi quá nửa tổng số thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành;

5- Thủ tướng Chính phủ ký nghị quyết, nghị định;

6- Trong trường hợp dự thảo nghị quyết, nghị định chưa được thông qua, Chính phủ cho ý kiến về những vấn đề cần phải chỉnh lý và định thời hạn trình lại dự thảo.

Điều 65. Soạn thảo, ban hành quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ

1- Dự thảo quyết định, chỉ thị do Thủ tướng giao và chỉ đạo cơ quan soạn thảo.

2- Cơ quan được giao soạn thảo có trách nhiệm xây dựng dự thảo.

3- Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, chỉ thị, cơ quan soạn thảo gửi lấy ý kiến các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

4- Bộ Tư pháp có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản về dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.

5- Cơ quan soạn thảo chỉnh lý dự thảo và báo cáo Thủ tướng Chính phủ về ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

6- Thủ tướng Chính phủ xem xét, ký quyết định, chỉ thị.

Điều 66. Soạn thảo, ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ

1- Dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ giao và chỉ đạo đơn vị trực thuộc soạn thảo.

2- Đơn vị được giao soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu và xây dựng dự thảo.

3- Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư, dự thảo được gửi để lấy ý kiến của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

4- Đơn vị được giao soạn thảo chỉnh lý dự thảo, trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư và ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

5- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ xem xét, ký quyết định, chỉ thị, thông tư.

Chương 6:

VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO, VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

Điều 67. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử.

Điều 68. Soạn thảo, ban hành nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

1- Dự thảo nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

2-Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định gửi lấy ý kiến Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

3- Dự thảo nghị quyết được thảo luận tại phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

4- Dự thảo nghị quyết được thông qua khi quá nửa tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.

Trong trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp không nhất trí với nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thì có quyền báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội để Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại phiên họp gần nhất.

5. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ký nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Điều 69. Quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định các biện pháp để bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Điều 70. Soạn thảo, ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

1- Dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

2- Dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thảo luận và cho ý kiến. Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định gửi dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư để lấy ý kiến của Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện kiểm sát quân sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

3- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký quyết định, chỉ thị, thông tư.

Chương 7:

VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT LIÊN TỊCH

Điều 71. Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Thông tư liên tịch giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được ban hành để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó.

Điều 72. Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa Toà án nhân dân tối cao với Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Thông tư liên tịch giữa Toà án nhân dân tối cao với Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó.

Điều 73. Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội

Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội được ban hành để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tổ chức chính trị - xã hội đó tham gia quản lý nhà nước.

Điều 74. Soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch

1- Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật liên tịch do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội hữu quan thoả thuận, phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo.

2- Cơ quan, tổ chức được phân công chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức xây dựng dự thảo văn bản và lấy ý kiến cơ quan, tổ chức hữu quan.

Đối với dự thảo thông tư liên tịch giữa Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải được lấy ý kiến các thành viên Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thành viên Uỷ ban Kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tập hợp ý kiến và chỉnh lý dự thảo.

3- Thủ trưởng cơ quan, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội cùng ký nghị quyết, thông tư liên tịch.

Chương 8:

HIỆU LỰC CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Điều 75. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

1- Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có hiệu lực kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác.

2- Văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước có hiệu lực kể từ ngày đăng Công báo, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác.

3- Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các văn bản quy phạm pháp luật liên tịch có hiệu lực sau mười lăm ngày, kể từ ngày ký văn bản hoặc có hiệu lực muộn hơn nếu được quy định tại văn bản đó. Đối với văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, thì văn bản có thể quy định ngày có hiệu lực sớm hơn.

Điều 76. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật

1- Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước.

2- Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:

a) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;

b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.

Điều 77. Những trường hợp ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật

1- Văn bản quy phạm pháp luật bị đình chỉ thi hành, thì ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc :

a) Không bị huỷ bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực ;

b) Bị huỷ bỏ thì văn bản hết hiệu lực.

2- Thời điểm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực của văn bản hoặc hết hiệu lực của văn bản phải quy định rõ tại quyết định đình chỉ thi hành, quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3- Quyết định đình chỉ, quyết định xử lý văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải được đăng Công báo, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Điều 78. Những trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực

Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:

1- Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản;

2- Được thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó;

3- Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

4- Văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành của văn bản hết hiệu lực cũng đồng thời hết hiệu lực cùng với văn bản đó, trừ trường hợp được giữ lại toàn bộ hoặc một phần vì còn phù hợp với các quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới.

Điều 79. Hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng

1- Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trung ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước và được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam, trừ trường hợp văn bản có quy định khác.

2- Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân có hiệu lực trong phạm vi địa phương.

3- Văn bản quy phạm pháp luật cũng có hiệu lực đối với cơ quan, tổ chức, người nước ngoài ở Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.

Điều 80. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

1- Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực.

Trong trường hợp văn bản có quy định hiệu lực trở về trước, thì áp dụng theo quy định đó.

2- Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

3- Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật về cùng một vấn đề do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau, thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau.

4- Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực, thì áp dụng văn bản mới.

Chương 9:

GIÁM SÁT, KIỂM TRA, KIỂM SÁT VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN TRÁI PHÁP LUẬT

Điều 81. Quốc hội giám sát, xử lý văn bản trái pháp luật

1- Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với văn bản quy phạm pháp luật của các các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Chương II của Luật này.

2- Theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, đại biểu Quốc hội, Quốc hội xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ luật, nghị quyết của Quốc hội trái Hiến pháp; xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

Điều 82. Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát, xử lý văn bản trái pháp luật

1- Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện quyền giám sát đối với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

2- Theo đề nghị của Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, đại biểu Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó; xem xét, quyết định huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Điều 83. Chính phủ kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật

1- Chính phủ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

2- Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trái Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; xem xét, quyết định đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ.

Điều 84. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật.

1- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về những nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ trách.

2- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quản lý ngành, lĩnh vực có quyền kiến nghị với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ đã ban hành văn bản trái với văn bản về ngành, lĩnh vực do mình phụ trách bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản đó; nếu kiến nghị đó không được chấp nhận thì trình Thủ tướng Chính phủ quyết định; kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái với văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, hoặc của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về ngành, lĩnh vực do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phụ trách ; đình chỉ việc thi hành và đề nghị Thủ tướng chính phủ bãi bỏ quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trái với văn bản quy phạm pháp luật về ngành, lĩnh vực do mình phụ trách; nếu Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh không nhất trí với quyết định đình chỉ thi hành, thì vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ.

Điều 85. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với văn bản quy phạm pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân nhằm bảo đảm các văn bản đó không trái pháp luật.

Thủ trưởng cơ quan nhà nước nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm trả lời kháng nghị trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị.

Chương 10:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 86. Kinh phí xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Kinh phí xây dựng văn bản quy phạm pháp luật do ngân sách nhà nước cấp.

Điều 87. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1997.

Nghị quyết của Hội đồng Nhà nước về Quy chế xây dựng luật và pháp lệnh ngày 6 tháng 8 năm 1988 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 12 tháng 11 năm 1996.

 

 

Lê Đức Anh

(Đã ký)

 

- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 1 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 1. Văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có đầy đủ các yếu tố sau đây:

a) Văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành với hình thức được quy định tại Điều 1 của Chương I và Chương II của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

b) Văn bản được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương ban hành theo đúng thủ tục, trình tự được quy định tại các chương III, IV, V, VI và VII của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các quy định tại Nghị định này;

c) Văn bản có chứa các quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần, đối với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng, có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương.

Quy tắc xử sự chung là những chuẩn mực mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo khi tham gia quan hệ xã hội được quy tắc đó điều chỉnh;

d) Văn bản được Nhà nước bảo đảm thi hành bằng các biện pháp như tuyên tryền, giáo dục, thuyết phục, các biện pháp về tổ chức, hành chính, kinh tế; trong trường hợp cần thiết thì Nhà nước áp dụng biện pháp cưỡng chế bắt buộc thi hành và quy định chế tài đối với người có hành vi vi phạm.

2. Những văn bản cũng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành mà không có đầy đủ các yếu tố nói trên để giải quyết những vụ việc cụ thể đối với những đối tượng cụ thể, thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật và không chịu sự điều chỉnh của Luật ban hành văn, bản quy phạm pháp luật và Nghị định này như: quyết định lên lương, khen thưởng, kỷ luật, điều động công tác, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ, công chức, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định phê duyệt dự án, chỉ thị về việc phát động phong trào thi đua, biểu dương người tốt, việc tốt và những văn bản cá biệt khác.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:

1. Điều 1 được sửa đổi, bổ sung như sau:

''Điều 1. Văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:

1. Văn bản do Quốc hội ban hành: Hiến pháp, luật, nghị quyết.

Văn bản do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành: pháp lệnh, nghị quyết;

2. Văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ở trung ương ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

a) Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

b) Nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ;

c) Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ;

d) Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; quyết định, chỉ thị, thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

đ) Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội;

3. Văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; văn bản do Uỷ ban nhân dân ban hành còn để thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp:

a) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân;

b) Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân.''

Xem nội dung VB
- Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương được hướng dẫn bởi Điều 3 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 3. Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương

1 . Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương theo quy định lại Nghị định này phải có đầy đủ các yếu tố sau đây:

a) Do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theo hình thức quy định tại Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

b) Được ban hành theo thủ tục, trình tự quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các quy định của Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan,

c) Có chứa quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần đối với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng và có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương (quy phạm pháp luật);

d) Được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật.

2. Các văn bản do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành, nhưng không có đầy đủ các yếu tố của văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này, như: nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và nghị quyết về điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; nghị quyết của Chính phủ về chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định; nghị quyết về điều chỉnh chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ; nghị định của Chính phủ phê chuẩn đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); nghị quyết của Quốc hội về miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê duyệt kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội và các chức vụ khác; quyết định phê duyệt đề án khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính của cơ quan, đơn vị; quyết định về thành lập cơ quan, đơn vị; quyết định giao chỉ tiêu kinh tế - xã hội cho cơ quan, đơn vị; quyết định thành lập các Ban Chỉ đạo, Hội đồng, Ủy ban lâm thời để thực hiện nhiệm vụ trong một thời gian xác định; lệnh công bố luật, pháp lệnh của Chủ tịch nước; quyết định phê duyệt điều lệ của hội, tổ chức phi Chính phủ; quyết định lên lương, khen thưởng, kỷ luật, điều động công tác; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho từ chức, tạm đình chỉ công tác cán bộ, công chức; quyết định phê chuẩn kết quả bầu cử các thành viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; quyết định xử lý vi phạm hành chính; văn bản quy phạm nội bộ của cơ quan, đơn vị; văn bản cá biệt để phát động phong trào thi đua, biểu dương người tốt, việc tốt; văn bản cá biệt có tính chất chỉ đạo, điều hành hành chính hoặc để hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ và các văn bản cá biệt khác để giải quyết vụ việc cụ thể đối với đối tượng cụ thể thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật và không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

3. Văn bản có chứa quy phạm pháp luật theo quy định tại điểm c nhưng không có đủ các yếu tố được quy định tại các điểm a, b, d khoản 1 điều này như công văn, thông báo, điện báo, hướng dẫn và các giấy tờ hành chính khác thì phải bị đình chỉ thi hành và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 1 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương được hướng dẫn bởi Điều 3 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 2 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 2. Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, văn bản liên tịch của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa các cơ quan nhà nược có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp

1. Nghị quyết, Nghi định do Chính phủ ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

2. Quyết định, chỉ thị do Thủ tướng Chính phủ ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

3. Quyết định, chỉ thị, thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vị Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về quản lý ngành, lĩnh vực do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phụ trách.

4. Nghị quyết, thông tư liên tịch do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương với tổ chức chính trị - xã hội ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.

5. Nghị quyết do Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị do Uỷ ban nhân dân các cấp ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên.

Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương với nhau, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương với tổ chức chính trị - xã hội, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp trái với Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên phải bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ, bãi bỏ theo quy định của pháp luật hiện hành.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 4. Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cùng cấp về cùng một vấn đề phải phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước có chức năng quản lý chuyên ngành về vấn đề đó.

2. Văn bản quy phạm pháp luật không đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật phải được kịp thời đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ, huỷ bỏ, sửa đổi theo quy định của pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 2 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 3 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 3. Số và ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật khi ban hành phải được đánh số thứ tự theo năm ban hành và có ký hiệu riêng cho từng loại văn bản.

2. Việc đánh số thứ tự phải bắt đầu từ số 01 theo từng loại văn bản của năm ban hành loại văn bản đó.

Năm ban hành văn bản phải được ghi đầy đủ các số.

3. Ký hiệu văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ ban hành, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương với tổ chức chính trị - xã hội ban hành được quy định như sau:

a) Nghị quyết, Nghị dịnh do Chính phủ ban hành: Số../199../NQ-CP; Số.../199.../NĐ/CP;

b) Quyết định, Chỉ thị do Thủ tướng Chính Phủ ban hành: Số....... /199.../QĐ-TTg; Số.../199.../CT-TTg;

c) QUyết định, chỉ thị, thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ ban hành: Số.../199... /QĐ- (tên viết tắt do cơ quan ban hành văn bản), ví dụ: Quyết định số 01 ngày 20 tháng 01 năm 1997 do Bộ Tư pháp ban hành được đánh số là: Số 01/1997/QĐ - BTP; Số.../199.../CT - (tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản), ví dụ: Chỉ thị số 01 ngày 25 tháng 01 năm 1997 do Bộ Tài chính ban hành được đánh số là: Số 01/1997/CT - BTC; Số.../199... /TT-(tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản), ví dụ: Thông tư số 01 ngày 25 tháng 8 năm 1997 của Bộ Công nghiệp ban hành được đánh số là: Số 01/1997/TT-BCN;

d) Nghị quyết liên tịch, Thông tư liên tịch: Số .../199.../NQLT - (tên viết tắt của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản), ví dụ: Nghị quyết liên tịch số 05 ngày 18 tháng 9 năm 1997 do Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam với Bộ Tài chính ban hành được đánh số là: Số 05/1997/NQLT - TLĐLĐ - BTC; Số .../199.../TTLT - (tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản), ví dụ: Thông tư liên tịch số 01 ngày 15 tháng 9 năm 1997 do Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành được đánh số là: Số 01/1997/TTLT -BTC - BLĐTB và XH.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 5. Số và ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật khi ban hành phải được đánh số thứ tự theo năm ban hành và có ký hiệu riêng cho từng loại văn bản.

2. Việc đánh số thứ tự phải bắt đầu từ số 01 theo từng loại văn bản của năm ban hành loại văn bản đó.

Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch được đánh số thứ tự theo số văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan chủ trì soạn thảo.

3. Ký hiệu văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch được quy định như sau: số thứ tự của văn bản/năm ban hành (ghi đầy đủ số của năm/ tên viết tắt của văn bản - tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản - cơ quan liên tịch ban hành văn bản.

4. Tên viết tắt của văn bản quy phạm pháp luật và tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định như sau:

a) Về tên viết tắt của văn bản quy phạm pháp luật:

- Nghị quyết viết tắt là NQ;

- Nghị định viết tắt là NĐ;

- Quyết định viết tắt là QĐ;

- Chỉ thị viết tắt là CT;

- Thông tư viết tắt là TT;

- Nghị quyết liên tịch viết tắt là NQLT;

- Thông tư liên tịch viết tắt là TTLT.

b) Về tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật:

- Chính phủ viết tắt là CP;

- Thủ tướng Chính phủ viết tắt là TTg;

- Đối với tên của Bộ, cơ quan ngang Bộ thì viết tắt bằng chữ in hoa chữ cái đầu tiên của từng chữ trong tên các Bộ, cơ quan ngang Bộ; đối với tên các Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên từ "và" thì không viết tắt liên từ đó;

- Đối với tên của các cơ quan liên tịch thì viết tắt bằng chữ in hoa tên của cơ quan chủ trì soạn thảo; tên viết tắt bằng chữ in hoa tên của từng cơ quan tham gia ban hành văn bản liên tịch theo thứ tự chữ cái tiếng Việt.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 3 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 4. Gửi văn bản quy phạm pháp luật

1. Trong thời gian chậm nhất là hai ngày, kể từ ngày văn bản quy phạm pháp luật được công bố hoặc ký ban hành, Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm gửi văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tổ chức chính trị - xã hội hữu quan, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

2. Trong thời gian chậm nhất là hai ngày, kể từ ngày ký ban hành, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải gửi văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành đến Chính phủ, các cơ quan nhà nước ở Trung ương, các tổ chức chính trị - xã hội hữu quan, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

3. Trong thời gian chậm nhất là hai ngày, kể từ ngày ký ban hành, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải gửi văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành đến Chính phủ, các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội hữu quan, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp dưới.

4. Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở Trung ương, văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành được gửi, lưu giữ trên mạng tin học diện rộng của Chính phủ và có giá trị như bản gốc.

5. Khi nhận được văn bản quy phạm pháp luật, kể cả nhận trên mạng tin học diện rộng của Chính phủ, các cơ quan nhà nước và các tổ chức liên quan có trách nhiệm tổ chức thi hành.

6. Văn phòng Chính phủ quy định cụ thể việc tổ chức, quản lý, sử dụng và kiểm tra mạng tin học diện rộng của Chính phủ.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 10 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 10. Gửi văn bản quy phạm pháp luật

Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày ký ban hành, văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ (kể cả văn bản liên tịch) phải được gửi đến các cơ quan có thẩm quyền giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy định tại các Điều 81 và Điều 84 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các Điều 82, 82a và Điều 83 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 10 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 5 và 6 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 5. Việc đăng Công báo

1. Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành phải được đăng Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.

2. Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành phải được gửi đến Văn phòng Chính phủ chậm nhất là hai ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành để kịp thời đăng Công báo.

3. Công báo được công bố công khai, phát hành rộng rãi trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang và trong nhân dân, kể cả cá nhân, tổ chức, cơ quan nước ngoài.

4. Văn bản đăng Công báo có giá trị như bản gốc.

5. Văn phòng Chính phủ chịu trách nhiệm xuất bản Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 6. Đưa tin, đăng và phát sống nội dung văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật phải được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Các cơ quan báo chí ở Trung ương và địa phương, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình và Đài Phát thanh ở địa phương có trách nhiệm đưa tin, đăng, phát sóng toàn văn hoặc nội dung cơ bản của văn bản quy phạm pháp luật nhằm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi văn bản quy phạm pháp luật.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 8, 9, 11, 14 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 8. Đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật

1. Việc đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện như sau:

a) Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành phải được Văn phòng Chính phủ đăng Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, trừ văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước;

b) Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành được quy định tại điểm a khoản này phải được gửi đến Văn phòng Chính phủ trong thời hạn 02 (hai) ngày làm việc, kề từ ngày công bố hoặc ký ban hành để đăng Công báo;

Văn bản đăng Công báo có giá trị như bản gốc.

c) Trình tự, thủ tục đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng theo quy định của Chính phủ về Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch nếu không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp văn bản được ban hành để quy định các biện pháp thi hành trong trường hợp khẩn cấp hoặc đề giải quyết những vấn đề đột xuất, văn bản quy định hiệu lực trở về trước hoặc văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước quy định tại điểm b khoản 3 Điều 6 Nghị định này.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm thời hạn đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật, thời hạn gửi văn bản quy phạm pháp luật để đăng Công báo quy định tại các điểm a, b khoản l điều này, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 9. Đính chính văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật sau khi được ban hành, đăng Công báo, nếu phát hiện có sai sót thì phải được đính chính:

a) Nếu sai sót thuộc trách nhiệm của cơ quan ban hành văn bản thì người đứng đầu hoặc người được uỷ quyền của người đứng đầu cơ quan đó ký văn bản đính chính. Trong trường hợp sai sót thuộc trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ ký văn bản đính chính;

b) Nếu sai sót thuộc trách nhiệm của cơ quan Công báo thì văn bản đính chính do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ký văn bản đính chính.

2. Việc đính chính văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành hoặc được đăng Công báo phải dựa trên cơ sở đối chiếu với văn bản gốc và không làm thay đổi nội dung của quy định trong văn bản gốc.

Chỉ đính chính đối với lỗi chính tả hoặc sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật. Việc đính chính không áp dụng đối với những sai sót về căn cứ ban hành, thẩm quyền, nội dung của văn bản quy phạm pháp luật.

Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có những sai sót về thẩm quyền, nội dung thì văn bản quy phạm pháp luật đó sẽ bị đình chỉ thi hành và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật.

3. Văn bản đính chính phải được đăng Công báo.
...
Điều 11. Đưa tin văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật phải được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc đăng tải trên Intemet, trừ các văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước.

2. Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương phải được đăng trên Trang tin điện tử (Website) của Chính phủ, trừ các văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước.

3. Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương phải được gửi đến Văn phòng Chính phủ trong thời hạn 02 (hai) ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành để đăng trên Trang tin điện tử của Chính phủ.

Trong thời hạn là 02 (hai) ngày, kể từ ngày nhận được văn bản, Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm đăng văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương trên Trang tin điện tử của Chính phủ.

Văn phòng Chính phủ quy định cụ thể việc tổ chức, quản lý, sử dụng và lưu trữ văn bản quy phạm pháp luật trên Trang tin điện tử của Chính phủ.
...
Điều 14. Tuân thủ các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước

Việc soạn thảo lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra, gửi và ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước phải tuân thủ các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 5 và 6 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 8, 9, 11, 14 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Việc tuân thủ các quy định bảo vệ bí mật nhà nước được hướng dẫn bởi Điều 8 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 8. Tuân thủ các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước.

Việc gửi văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 4, đăng Công báo theo quy định tại Điều 5, đưa tin, đăng và phát sóng theo quy định tại Điều 6, dịch văn bản ra tiếng nước ngoài theo quy định tại Điều 7 của Nghị dịnh này phải tuân thủ các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước.

Xem nội dung VB
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 4 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
4. Bổ sung Điều 12a sau Điều 12 như sau:

''Điều 12a. Giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát, kiểm tra.

2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật và cơ quan giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm kịp thời phát hiện và xử lý văn bản quy phạm pháp luật sai trái.

3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, cơ quan, tổ chức khác và công dân có quyền giám sát văn bản quy phạm pháp luật và kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý văn bản quy phạm pháp luật sai trái."

Xem nội dung VB
Việc tuân thủ các quy định bảo vệ bí mật nhà nước được hướng dẫn bởi Điều 8 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Chương này được bổ sung bởi Khoản 4 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 9 và 10 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 9. Đề xuất chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 22 và Điều 59 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và yêu cầu quản lý của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ.

Tổ chức pháp chế ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ lập dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ.

2. Bản dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quyết định và được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, trong đó nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản, thời gian trình và các điều kiện cần thiết bảo đảm cho việc soạn thảo văn bản.

3. Dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh hành năm được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ chậm nhất là ngày 15 tháng 7 năm trước. Dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ của Quốc hội được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ chậm nhất là ngày 15 tháng 7 của năm kết thúc nhiệm kỳ của Quốc hội khoá trước.

Dự kiến của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ hàng năm được gửi đến Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp chậm nhất là ngày 15 tháng 10 năm trước, trong đó nêu rõ sự cần thiết ban hành, đối tượng, phạm vị điều chỉnh của văn bản, thời hạn ban hành và kế hoạch tổ chức thực hiện khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành.

4. Trên cơ sở tổng hợp dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định hàng năm của Chính phủ do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đề nghị, Văn phòng Chính phủ lập chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo định kỳ ba tháng, sáu tháng và cả năm trình Chính phủ quyết định.
Điều 10. Tổng hợp ý kiến đề xuất và trình Chính phủ quyết định về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, chương trình xây dựng Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ

1. Trong thời gian mười ngày, kể từ ngày hết hạn gửi dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ lập dự kiến chương trình của Chính phủ về xây dựng luật, pháp lệnh. Dự kiến chương trình được gửi đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để lấy ý kiến. Chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày nhận được dự kiến chương trình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải gửi ý kiến tham gia bằng văn bản đến Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ chỉnh lý dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Chính phủ quyết định tại phiên họp tháng 8 hàng năm.

2. Trong thời gian mười ngày, kể từ ngày hết hạn gửi ý kiến đề xuất về chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định, Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp chuẩn bị dự thảo chương trình của Chính phủ và gửi đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo chương trình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải gửi ý kiến tham gia bằng văn bản đến Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp chỉnh lý dự thảo chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định trình Chính phủ quyết định tại phiên họp thường kỳ cuối năm.

Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm gửi đến các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 9 và 10 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Điều 11 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 11. Chính phủ tham gia ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các cơ quan khác, các tổ chức và đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội

1. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm tập hợp đầy đủ các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các cơ quan khác, các tổ chức và đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.

2. Chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày nhận được bản tập hợp đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh do Văn phòng Chính phủ gửi, Bộ Tư pháp phải gửi ý kiến tham gia bằng văn bản đến Văn phòng Chính phủ.

3. Chính phủ có ý kiến bằng văn bản về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan khác, các tổ chức về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội trên cơ sơ báo cáo của Văn phòng Chính phủ và ý kiến tham gia của Bộ Tư pháp.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 18, 20, 27 và 28 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 18. Việc chuẩn bị trình Chính phủ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ

Văn phòng Chính phủ phối hợp với Bộ Tư pháp và cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định trước khi trình Chính phủ.

Trong trường hợp thống nhất ý kiến để trình Chính phủ dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định thì quy trình tiếp theo được quy định như sau:

1. Đối với dự án Luật, dự án Pháp lệnh.

Văn phòng Chính phủ phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo dự án tổ chức cuộc họp để giới thiệu nội dung của dự án luật, dự án pháp lệnh cho đại diện có thẩm quyền của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan, tổ chức hữu quan.

Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày tổ chức cuộc họp giới thiệu dự án, các cơ quan, tổ chức phải nghiên cứu, gửi ý kiến tham gia bằng văn bản đến các cơ quan chủ trì soạn thảo, Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp.

Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức dể chỉnh lý dự án và gửi dự án đã được chỉnh lý đến Bộ Tư pháp để thẩm định.
...
Điều 20. Trách nhiệm của cơ quan soạn thảo dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ phân công chủ trì soạn thảo dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định có trách nhiệm:

1. Gửi công văn yêu cầu thẩm định và hồ sơ dự án Luật, pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định đến Bộ Tư pháp đúng thời hạn quy định tại Điều 22 của nghị định này;

2. Cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết có liên quan đến dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định đến cơ quan thẩm định;

3. Thuyết trình về dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định khi có yêu cầu của Bộ Tư pháp.
...
Điều 27. Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định trình Chính phủ

Cơ quan chủ trì soạn thảo phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ. Hồ sơ bao gồm:

1. Tờ trình Chính phủ về dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định;

2. Bản dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định;

3. Văn bản thẩm định của Bộ Tư pháp về dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định;

4. ý kiến tham gia về dự án, dự thảo của các Bộ, ngành có liên quan;

5. Các tài liệu liên quan (nếu có);

Số lượng hồ sơ trình Chính phủ theo yêu cầu của Văn phòng Chính phủ.

Điều 28. Trách nhiệm của Văn phòng Chính phủ

Khi nhận được Tờ trình, dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định, văn bản thẩm định của Bộ Tư pháp và các tài liệu liên quan đến Dự án, dự thảo do cơ quan chủ trì soạn thảo gửi đến, Văn phòng Chính phủ kiểm tra các thủ tục, nội dung dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Trong trường hợp dự án, dự thảo có những vấn đề còn có ý kiến khác nhau thì Văn phòng Chính phủ xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và tổ chức cuộc họp với cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, các Bộ, ngành hữu quan để xử lý và đề xuất các vấn đề đưa ra Chính phủ thảo luận, quyết định.

Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm báo cáo với Chính phủ về các vấn đề mà các Bộ, ngành đã thống nhất ý kiến, các vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật để Chính phủ thảo luận, quyết định.

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Điều 11 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 18, 20, 27 và 28 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 12 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 12. Dự kiến điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ

1. Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đề nghị của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Bộ Tư pháp dự kiến điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh để Chính phủ xem xét, trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

2. Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đề nghị của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chính phủ lập dự kiến điều chỉnh chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định trình Chính phủ.

Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm thông báo quyết định của Chính phủ về việc điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, điều chỉnh chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định đến Bộ Tư pháp và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 20 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 20. Điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ

1. Đưa ra khỏi Chương trình: đối với những dự án, dự thảo không bảo đảm tiến độ và chất lượng soạn thảo hoặc chưa cần thiết phải ban hành, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ hoặc người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo kiến nghị bằng văn bản để Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định kiến nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đưa ra khỏi chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; xem xét, quyết định đưa ra khỏi chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ. Văn bản kiến nghị phải kèm theo tờ trình nêu rõ lý do đưa ra khỏi chương trình, phương hướng và thời gian giải quyết.

2. Bổ sung vào Chương trình: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ hoặc Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ kiến nghị bằng văn bản đến Thủ tướng Chính phủ để bổ sung vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ những văn bản cần được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trình tự, thủ tục đề xuất bổ sung văn bản vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; chương trình nghị quyết, nghị định được thực hiện theo quy định tại các Điều 16, 17 và Điều 18 của Nghị định này.

Trong trường hợp do nhu cầu quản lý nhà nước, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo soạn thảo cấp bách nghị định để quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì trình tự, thủ tục bổ sung vào chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định được thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 16 Nghị định này.

3. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ lập Dự kiến điều chình chương trình xây dựng luật, pháp lệnh để Chính phủ xem xét, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Văn phòng Chính phủ lập Dự kiến điều chỉnh chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ để Chính phủ xem xét, quyết định.

4. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm gửi Bộ Tư pháp và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan, tổ chức có liên quan nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị quyết của Chính phủ về điều chỉnh chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 12 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 20 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 13 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 13. Bảo đảm thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ

1. Chính phủ chỉ đạo việc thực hiện chương trình xây dựng các dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

2. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra cơ quan được phân công chủ trì soạn thảo trong việc bảo đảm tiến độ soạn thảo và thời hạn trình dự án, dự thảo văn bản.

3. Bộ Tư pháp, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia vào quá trình soạn thảo và thẩm định dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định do Chính phủ ban hành, tham gia ý kiến bằng văn bản về dự thảo quyết định, chỉ thị do Thủ tướng Chính phủ ban hành.

4. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ phải thường xuyên chỉ đạo và kịp thời cho ý kiến về việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ do Bộ, ngành mình chủ trì soạn thảo.

Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chương trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm văn bản chặt chẽ về mặt pháp lý, có chất lượng và trình đúng thời hạn quy định.

5. Kinh phí xây dựng văn bản quy phạm pháp luật do ngân sách nhà nước cấp.

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, Bộ trưởng Bộ Tài chính trủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tư pháp và cơ quan hữu quan khác trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế về sử dụng kinh phí xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 21 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 21. Trách nhiệm của Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp trong việc bảo đảm thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ

1. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan được phân công chủ trì soạn thảo để bảo đảm tiến độ, chất lượng soạn thảo và thời hạn trình dự án, dự thảo.

2. Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia vào quá trình soạn thảo, thẩm tra, thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 13 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 21 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 14 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 14. Thành lập Ban soạn thảo

1. Chính phủ uỷ quyền cho cơ quan được phân công chủ trì soạn thảo thành lập Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và dự thảo loại nghị định được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 56 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trừ trường hợp Chính phủ thành lập Ban soạn thảo.

2. Cơ quan được phân công chủ trì soạn thảo thành lập Ban soạn thảo đối với những dự thảo nghị quyết, nghị định khác của Chính phủ.

3. Việc soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định do Ban soạn thảo đảm nhiệm. Thành phần Ban soạn thảo gồm đại diện có thẩm quyền của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ hữu quan; Thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo là Trưởng ban.

Giúp việc Ban soạn thảo có tổ biên tập do trưởng ban soạn thảo chỉ định. Thành viên của tổ biên tập gồm các luật gia, các nhà khoa học và các chuyên gia am hiểu các vấn đề chuyên môn thuộc nội dung của dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

4. Khi thấy cần thiết, Thủ tướng Chính phủ có thể thành lập Tổ chuyên gia làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng để thực hiện nhiệm vụ của Ban soạn thảo hoặc để tu chỉnh dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định của Chính phủ trước khi ký trình hoặc ký ban hành.

5. Cơ quan có thành viên trong Ban soạn thảo có trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về nội dung của dự án, dự thảo có liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình quản lý.

6. Việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ được tiến hành theo quy định tại Điều 65 và Điều 66 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 7 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
7. Điều 25 được sửa đổi, bổ sung như sau:

''Điều 25. Thành lập Ban soạn thảo

1. Cơ quan, tổ chức trình dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo.

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo trong các trường hợp sau đây:

a) Dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết có nội dung liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực;

b) Dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội do Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình;

c) Dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội trình;

d) Dự án luật, dự án pháp lệnh do đại biểu Quốc hội trình.

3. Ban soạn thảo gồm Trưởng ban là người đứng đầu cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và các thành viên là đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan, các chuyên gia, các nhà khoa học.

4. Cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm bảo đảm các điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo; chịu trách nhiệm trước cơ quan trình dự án, dự thảo về nội dung, chất lượng của dự án, dự thảo và tiến độ soạn thảo.

5. Cơ quan, tổ chức có thành viên trong Ban soạn thảo có trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.''

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 14 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 7 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 15 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 15. Trách nhiệm của Ban soạn thảo

Để bảo đảm chất lượng và thời hạn trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định, Ban soạn thảo phải thực hiện đầy đủ các quy định tại Điều 26 và Điều 61 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời có trách nhiệm sau đây:

1. Định kỳ thông báo với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp về tiến độ và chất lượng soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định;

2. Kịp thời báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về các vấn đề mới, phức tạp và những ý kiến còn khác nhau;

3. Bảo đảm việc soạn thảo văn bản có chất lượng; nội dung các điều, khoản của văn bản phải được quy định cụ thể, rõ ràng để khi văn bản có hiệu lực thì thi hành được ngay.

Trong trường hợp dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cần có văn bản quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành thì Ban soạn thảo có trách nhiệm soạn thảo hoặc đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn cơ quan được Chính phủ phân công soạn thảo các văn bản đó để trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định lên Chính phủ.

4. Xác định tên các văn bản dự kiến bị bãi bỏ (bãi bỏ toàn bộ văn bản hoặc một phần nội dung: chương, mục, điều, khoản, điểm của văn bản).

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
8. Điều 26 được sửa đổi, bổ sung như sau:

''Điều 26. Nhiệm vụ của Ban soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

Trong việc soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, Ban soạn thảo có nhiệm vụ sau đây:

1. Tổng kết tình hình thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dự án, dự thảo; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự án, dự thảo;

2. Tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên quan đến dự án, dự thảo;

3. Chuẩn bị đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự án, dự thảo;

4. Tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan và các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản trong phạm vi và với hình thức thích hợp tuỳ theo tính chất và nội dung của từng dự án, dự thảo;

5. Chuẩn bị tờ trình và tài liệu liên quan đến dự án, dự thảo. Trong tờ trình nêu rõ sự cần thiết phải ban hành, mục đích, yêu cầu, phạm vi, đối tượng và nội dung chính của dự án, dự thảo, những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau;

6. Phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành;

7. Trong việc soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, phải tính đến điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.''

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 22 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 22. Soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ

1. Ban soạn thảo được thành lập theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

Việc thành lập Ban soạn thảo và hoạt động của Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ được thực hiện theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo do Thủ tướng Chính phủ ban hành.

2. Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng thời là Ban soạn thảo nghị định hướng dẫn thi hành (nếu có).

3. Trong trường hợp luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nhiều vấn đề cần quy định chi tiết thì Trưởng Ban soạn thảo có trách nhiệm kiến nghị Thủ tướng Chính phủ phân công các cơ quan liên quan thành lập Ban thảo văn bản quy định chi tiết thi hành.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 15 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 22 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 9 và 10 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 9. Đề xuất chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 22 và Điều 59 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và yêu cầu quản lý của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ.

Tổ chức pháp chế ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ lập dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ.

2. Bản dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quyết định và được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, trong đó nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản, thời gian trình và các điều kiện cần thiết bảo đảm cho việc soạn thảo văn bản.

3. Dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh hành năm được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ chậm nhất là ngày 15 tháng 7 năm trước. Dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ của Quốc hội được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ chậm nhất là ngày 15 tháng 7 của năm kết thúc nhiệm kỳ của Quốc hội khoá trước.

Dự kiến của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ hàng năm được gửi đến Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp chậm nhất là ngày 15 tháng 10 năm trước, trong đó nêu rõ sự cần thiết ban hành, đối tượng, phạm vị điều chỉnh của văn bản, thời hạn ban hành và kế hoạch tổ chức thực hiện khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành.

4. Trên cơ sở tổng hợp dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định hàng năm của Chính phủ do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đề nghị, Văn phòng Chính phủ lập chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo định kỳ ba tháng, sáu tháng và cả năm trình Chính phủ quyết định.
Điều 10. Tổng hợp ý kiến đề xuất và trình Chính phủ quyết định về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, chương trình xây dựng Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ

1. Trong thời gian mười ngày, kể từ ngày hết hạn gửi dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ lập dự kiến chương trình của Chính phủ về xây dựng luật, pháp lệnh. Dự kiến chương trình được gửi đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để lấy ý kiến. Chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày nhận được dự kiến chương trình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải gửi ý kiến tham gia bằng văn bản đến Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ chỉnh lý dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Chính phủ quyết định tại phiên họp tháng 8 hàng năm.

2. Trong thời gian mười ngày, kể từ ngày hết hạn gửi ý kiến đề xuất về chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định, Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp chuẩn bị dự thảo chương trình của Chính phủ và gửi đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo chương trình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải gửi ý kiến tham gia bằng văn bản đến Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp chỉnh lý dự thảo chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định trình Chính phủ quyết định tại phiên họp thường kỳ cuối năm.

Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm gửi đến các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 16 và 18 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 16. Đề xuất chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (sau đây gọi chung là luật, pháp lệnh) và chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

1. Căn cứ vào Điều 22 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Điều 59 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và yêu cầu quản lý của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ.

Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ lập dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ.

2. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các chủ thể có quyền trình dự án luật (trừ Chính phủ) theo quy định tại Điều 87 của Hiến pháp năm 1992 và kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội được gửi đến Bộ Tư pháp để trình Chính phủ.

Người đứng đầu các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân có thể gửi kiến nghị xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đến Bộ Tư pháp; gửi đề nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ đến Văn phòng Chính phủ.

3. Đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; những quan điểm, nội dung chính của văn bản; dự báo tác động kinh tế xã hội; dự kiến thời gian trình văn bản; nguồn lực tài chính, nhân lực và các nguồn lực khác bảo đảm thi hành văn bản.

4. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải được gửi đến Bộ Tài chính để thẩm định về nguồn tài chính dự kiến, gửi đến Bộ Nội vụ để thẩm định về nguồn nhân lực dự kiến (nếu có) nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nội vụ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về nguồn tài chính, nguồn nhân lực dự kiến nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành.

Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ phải kèm theo văn bản của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ đánh giá về nguồn tài chính, nguồn nhân lực dự kiến nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành.

5. Đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ chậm nhất là ngày 01 tháng 7 của năm trước.

Đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ của Quốc hội được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ chậm nhất là ngày 01 tháng 7 của năm kết thúc nhiệm kỳ của Quốc hội khoá trước.

6. Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn gửi đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh quy định tại khoản 5 Điều này, Bộ Tư pháp phải hoàn thành việc lập dự thảo Dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo thứ tự ưu tiên ban hành văn bản, căn cứ vào nhu cầu quản lý nhà nước, tính khả thi của văn bản và tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Đối với đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh không đáp ứng các tiêu chí quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này thì Bộ Tư pháp yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức và cá nhân bổ sung, hoàn chỉnh đề nghị, kiến nghị đó.

7. Đề nghị của các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, kiến nghị của người đứng đầu các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân về việc xây dựng nghị quyết, nghị định hàng năm của Chính phủ được gửi đến Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp chậm nhất là ngày 05 tháng 11 của năm trước.

8. Trình tự, thủ tục đề xuất xây dựng nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo các quy định về đề xuất chương trình xây dựng luật, pháp lệnh tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này.
...
Điều 18. Lập chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ

1. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan lập Dự kiến chương trình ba tháng, sáu tháng và cả năm về xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

2. Chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ được xây dựng trên những căn cứ sau:

a) Nhiệm vụ thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

b) Nhiệm vụ quản lý nhà nước của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

c) Các đề xuất, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ.

3. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp có sự tham gia của đại diện các cơ quan, tổ chức liên quan để xem xét đề nghị, kiến nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ. Cơ quan, tổ chức có đề nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ cử đại diện để thuyết trình về những vấn đề liên quan đến đề nghị, kiến nghị của mình.

4. Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc cuộc họp quy định tại khoản 3 Điều này, Văn phòng Chính phủ lập Dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ và gửi đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để lấy ý kiến tham gia.

Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải gửi ý kiến tham gia bằng văn bản đến Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp.

5. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp chỉnh lý dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ trình Chính phủ tại phiên họp thường kỳ cuối năm.

6. Sau khi Chính phủ thông qua chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ, Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm gửi chương trình tới Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ để thực hiện.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính Phủ phải bảo đảm đúng tiến độ và chất lượng soạn thảo theo Chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

Ba tháng một lần, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tiến độ thực hiện Chương trình.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 9 và 10 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 16 và 18 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 15 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 15. Trách nhiệm của Ban soạn thảo

Để bảo đảm chất lượng và thời hạn trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định, Ban soạn thảo phải thực hiện đầy đủ các quy định tại Điều 26 và Điều 61 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời có trách nhiệm sau đây:

1. Định kỳ thông báo với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp về tiến độ và chất lượng soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định;

2. Kịp thời báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về các vấn đề mới, phức tạp và những ý kiến còn khác nhau;

3. Bảo đảm việc soạn thảo văn bản có chất lượng; nội dung các điều, khoản của văn bản phải được quy định cụ thể, rõ ràng để khi văn bản có hiệu lực thì thi hành được ngay.

Trong trường hợp dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cần có văn bản quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành thì Ban soạn thảo có trách nhiệm soạn thảo hoặc đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn cơ quan được Chính phủ phân công soạn thảo các văn bản đó để trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định lên Chính phủ.

4. Xác định tên các văn bản dự kiến bị bãi bỏ (bãi bỏ toàn bộ văn bản hoặc một phần nội dung: chương, mục, điều, khoản, điểm của văn bản).
...
Điều 17. Xin ý kiến Uỷ ban thường vụ Quốc hội về nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh

Trước khi soạn thảo những nghị định được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 56 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Chính phủ gửi bản thuyết trình về sự cần thiết ban hành nghị định và dự kiến các vấn đề cơ bản thuộc nội dung của nghị định để xin ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 15 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
15. Điều 61 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 61. Nhiệm vụ của Ban soạn thảo dự thảo nghị quyết, nghị định

Trong việc soạn thảo dự thảo nghị quyết, nghị định, Ban soạn thảo có nhiệm vụ sau đây:

1. Tổng kết tình hình thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dự thảo; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự thảo;

2. Tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên quan đến dự thảo;

3. Chuẩn bị đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự thảo;

4. Tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan và các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản trong phạm vi và với hình thức thích hợp tuỳ theo tính chất và nội dung của từng dự thảo;

5. Chuẩn bị tờ trình và tài liệu liên quan đến dự thảo. Trong tờ trình nêu rõ sự cần thiết phải ban hành, mục đích, yêu cầu, phạm vi, đối tượng và nội dung chính của dự thảo, những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau;

6. Phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành."

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 22 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 22. Soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ

1. Ban soạn thảo được thành lập theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

Việc thành lập Ban soạn thảo và hoạt động của Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ được thực hiện theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo do Thủ tướng Chính phủ ban hành.

2. Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng thời là Ban soạn thảo nghị định hướng dẫn thi hành (nếu có).

3. Trong trường hợp luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nhiều vấn đề cần quy định chi tiết thì Trưởng Ban soạn thảo có trách nhiệm kiến nghị Thủ tướng Chính phủ phân công các cơ quan liên quan thành lập Ban thảo văn bản quy định chi tiết thi hành.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 15 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 15 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 22 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 16 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 16. Lấy ý kiến về dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ

Trong quá trình soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định, cơ quan chủ trì soạn thảo phải tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định, cơ quan, tổ chức, cá nhân được hỏi ý kiến có trách nhiệm tham gia góp ý bằng văn bản và gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo. Văn bản tham gia góp ý kiến của các Bộ, cơ quan, tổ chức phải do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan, người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó ký. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và gửi dự án dự thảo văn bản đã chỉnh lý đến Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 16 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 16 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 16. Lấy ý kiến về dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ

Trong quá trình soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định, cơ quan chủ trì soạn thảo phải tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định, cơ quan, tổ chức, cá nhân được hỏi ý kiến có trách nhiệm tham gia góp ý bằng văn bản và gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo. Văn bản tham gia góp ý kiến của các Bộ, cơ quan, tổ chức phải do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan, người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó ký. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và gửi dự án dự thảo văn bản đã chỉnh lý đến Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 27 và 28 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 27. Lấy ý kiến về dự án, dự thảo trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật

1. Dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được đưa ra lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định này.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quyết định việc đưa ra lấy ý kiến đối với những dự án, dự thảo được giao chủ trì soạn thảo sau khi được tập thể lãnh đạo cơ quan xem xét, nhất trí.

Đối với những dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi tới Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam để lấy ý kiến của các doanh nghiệp.

Trong thời hạn 20 (hai mươi) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phải tổ chức lấy ý kiến của các doanh nghiệp, tổng hợp và gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được phân công chủ trì soạn thảo.

3 . Tuỳ theo tính chất của dự án, dự thảo, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc lấy ý kiến tổ chức, cá nhân theo đề nghị của cơ quan chủ trì soạn thảo.

Điều 28. Phương thức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật

1. Việc lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật về nội dung của dự án, dự thảo được thực hiện bằng hình thức: lấy ý kiến trực tiếp; tổ chức các hội nghị, hội thảo; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và Intemet.

2. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền lấy ý kiến có trách nhiệm chuẩn bị những vấn đề cần xin ý kiến, gợi ý thảo luận kèm theo dự án, dự thảo và xác định cụ thể địa chỉ nhận ý kiến trong trường hợp lấy ý kiến thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và Intemet.

3. Thời gian lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật ít nhất là 20 (hai mươi) ngày làm việc, kể từ ngày đưa dự án, dự thảo ra lấy ý kiến.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 16 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 27 và 28 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 18, 20, 27 và 28 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 18. Việc chuẩn bị trình Chính phủ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ

Văn phòng Chính phủ phối hợp với Bộ Tư pháp và cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định trước khi trình Chính phủ.

Trong trường hợp thống nhất ý kiến để trình Chính phủ dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định thì quy trình tiếp theo được quy định như sau:
...
2. Đối với dự thảo Nghị quyết, Nghị định.

Cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý dự thảo văn bản trên cơ sở tham khảo ý kiến của Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp và gửi dự thảo đã được chỉnh lý đến Bộ Tư pháp để thẩm định.
....
Điều 20. Trách nhiệm của cơ quan soạn thảo dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ phân công chủ trì soạn thảo dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định có trách nhiệm:

1. Gửi công văn yêu cầu thẩm định và hồ sơ dự án Luật, pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định đến Bộ Tư pháp đúng thời hạn quy định tại Điều 22 của nghị định này;

2. Cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết có liên quan đến dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định đến cơ quan thẩm định;

3. Thuyết trình về dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định khi có yêu cầu của Bộ Tư pháp.
...
Điều 27. Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định trình Chính phủ

Cơ quan chủ trì soạn thảo phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ. Hồ sơ bao gồm:

1. Tờ trình Chính phủ về dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định;

2. Bản dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định;

3. Văn bản thẩm định của Bộ Tư pháp về dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định;

4. ý kiến tham gia về dự án, dự thảo của các Bộ, ngành có liên quan;

5. Các tài liệu liên quan (nếu có);

Số lượng hồ sơ trình Chính phủ theo yêu cầu của Văn phòng Chính phủ.
Điều 28. Trách nhiệm của Văn phòng Chính phủ

Khi nhận được Tờ trình, dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định, văn bản thẩm định của Bộ Tư pháp và các tài liệu liên quan đến Dự án, dự thảo do cơ quan chủ trì soạn thảo gửi đến, Văn phòng Chính phủ kiểm tra các thủ tục, nội dung dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Trong trường hợp dự án, dự thảo có những vấn đề còn có ý kiến khác nhau thì Văn phòng Chính phủ xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và tổ chức cuộc họp với cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, các Bộ, ngành hữu quan để xử lý và đề xuất các vấn đề đưa ra Chính phủ thảo luận, quyết định.

Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm báo cáo với Chính phủ về các vấn đề mà các Bộ, ngành đã thống nhất ý kiến, các vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật để Chính phủ thảo luận, quyết định.


Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 29 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 29. Chuẩn bị trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

1. Dự án, dự thảo được trình Chính phủ phải kèm theo dự thảo văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành (nếu có) theo quy định tại Điều 7 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

2. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

3. Trong trường hợp Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp và cơ quan chủ trì soạn thảo thống nhất ý kiến để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dự án, dự thảo thì quy trình tiếp theo được quy đính như sau:

a) Đối với dự án luật, pháp lệnh; dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo tổ chức cuộc họp để giới thiệu nội dung của dự án, dự thảo với đại diện của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan, tổ chức liên quan.

Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày tổ chức cuộc họp giới thiệu dự án, dự thảo, các cơ quan, tổ chức phải nghiên cứu, gửi ý kiến tham gia bằng văn bản đến cơ quan chủ trì soạn thảo, Văn phòng Chính phủ để tổng hợp, hoàn thiện dự án, dự thảo trình Chính phủ.

Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức để chỉnh lý dự án, dự thảo trước khi gửi đến Bộ Tư pháp để thẩm định.

b) Đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý dự thảo trên cơ sở tiếp thu ý kiến của Văn phòng Chính phủ, các cơ quan, tổ chức liên quan trước khi gửi đến Bộ Tư pháp để thẩm định theo quy định của pháp luật.

c) Đối với dự thảo nghị quyết phiên họp thường kỳ của Chính phủ có chứa quy phạm pháp luật, nghị định của Chính phủ về thành lập mới, nhập, chia tách và điều chỉnh địa giới hành chính, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp hoặc ban hành để giải quyết những vấn đề đột xuất thì cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý dự thảo trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các Thành viên Chính phủ và Văn phòng Chính phủ trước khi trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành.

Trong trường hợp Văn phòng Chính phủ là cơ quan được giao chủ trì soạn thảo những văn bản nói trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ quyết định việc lấy ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; chỉ đạo chỉnh lý dự thảo trên cơ sở tiếp thu ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp và ý kiến thẩm tra của các đơn vị chuyên môn trong Văn phòng Chính phủ trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành.

4. Trong trường hợp Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp và cơ quan chủ trì soạn thảo không thống nhất ý kiến để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dự án, dự thảo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này thì Văn phòng Chính phủ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 18, 20, 27 và 28 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 29 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 19, 21, 23, 24, 25, 26 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 19. Thẩm định các dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ

1. Các dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định được thẩm định bao gồm:

a) Dự án Luật, Pháp lệnh do Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

b) Dự án Luật, Pháp lệnh do cơ quan khác, các tổ chức, đại biểu Quốc hội trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

c) Các dự thảo Nghị quyết, Nghị định trình Chính phủ.

2. Chính phủ chỉ xem xét các dự án Luật, Pháp lệnh để quyết định trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc để tham gia ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh do các cơ quan khác, các tổ chức, đại biểu Quốc hội trình hoặc xem xét dự thảo nghị quyết, nghị định để ban hành, sau khi đã có báo cáo thẩm định bằng văn bản của Bộ Tư pháp.
...
Điều 21. Hồ sơ dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ gửi thẩm định

1. Hồ sơ dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định gửi thẩm định bao gồm:

a) Công văn yêu cầu thẩm định;

b) Tờ trình Chính phủ về dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định;

c) Bản dự án, dự thảo cuối cùng được cơ quan soạn thảo quyết định trình Chính phủ xem xét và bản tập hợp ý kiến của các Bộ, ngành về dự án, dự thảo đó;

d) Bản thuyết trình chi tiết về dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định và dự thảo các văn bản hướng dẫn thi hành (nếu có).

2. Số lượng hồ sơ gửi thẩm định ít nhất là 10 bộ.
...
Điều 23. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong việc thẩm định dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ

1. Khi nhận được hồ sơ dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kịp thời tổ chức việc thẩm định dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp có thể yêu cầu cơ quan soạn thảo thuyết trình về dự án, dự thảo, cung cấp thông tin và tài liệu có liên quan đến dự án, dự thảo văn bản đó.

2. Khi cần thiết, mời các luật gia, các nhà khoa học và các chuyên gia am hiểu các vấn đề chuyên môn thuộc nội dung dự án, dự thảo tham gia thẩm định.

3. Chuẩn bị và gửi báo cáo thẩm định đúng thời hạn theo quy định tại Điều 26 của Nghị định này.

Điều 24. Phạm vi thẩm định

Bộ Tư pháp thẩm định về đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản, tính khả thi của văn bản, kỹ thuật soạn thảo văn bản, ngôn ngữ pháp lý, và chịu trách nhiệm về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật.

Trong trường hợp cơ quan soạn thảo và các Bộ, ngành còn có ý kiến khác nhau về những vấn đề thuộc nội dung của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, thì Bộ Tư pháp có trách nhiệm phát biểu rõ quan điểm và đề xuất phương án xử lý đối với các vấn đề còn có ý kiến khác nhau đó.

Điều 25. Tổ chức thẩm định

1. Bộ trưởng Bộ Tư pháp tổ chức việc thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, bảo đảm chất lượng và thời hạn thẩm định.

Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định thành lập Hội đồng thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định.

Đối với dự án Luật, pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo thì thành phần Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập phải có sự tham gia của đại diện Văn phòng Chính phủ, đại diện các Bộ, ngành hữu quan.

2. Thủ tục, trình tự cụ thể của việc thẩm định văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định.

Điều 26. Gửi báo cáo thẩm định

Chậm nhất là 5 ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Chính phủ, Bộ Tư pháp gửi báo cáo thẩm định dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định đến cơ quan chủ trì soạn thảo và Văn phòng Chính phủ. Đối với dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định do Bộ Tư pháp soạn thảo, trong thời hạn chậm nhất là năm ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Chính phủ, Bộ Tư pháp phải gửi ý kiến của Hội đồng thẩm định cùng dự thảo văn bản đến Văn phòng Chính phủ để chuẩn bị cho phiên họp Chính phủ.

Xem nội dung VB
- Khoản này bị bãi bỏ bởi Khoản 2 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2
...
2. Bãi bỏ ... khoản 3 Điều 29 ... của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 19, 21, 23, 24, 25, 26 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Khoản này bị bãi bỏ bởi Khoản 2 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 19, 21, 23, 24, 25, 26 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 19. Thẩm định các dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ

1. Các dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định được thẩm định bao gồm:

a) Dự án Luật, Pháp lệnh do Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

b) Dự án Luật, Pháp lệnh do cơ quan khác, các tổ chức, đại biểu Quốc hội trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

c) Các dự thảo Nghị quyết, Nghị định trình Chính phủ.

2. Chính phủ chỉ xem xét các dự án Luật, Pháp lệnh để quyết định trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc để tham gia ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh do các cơ quan khác, các tổ chức, đại biểu Quốc hội trình hoặc xem xét dự thảo nghị quyết, nghị định để ban hành, sau khi đã có báo cáo thẩm định bằng văn bản của Bộ Tư pháp.
...
Điều 21. Hồ sơ dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ gửi thẩm định

1. Hồ sơ dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định gửi thẩm định bao gồm:

a) Công văn yêu cầu thẩm định;

b) Tờ trình Chính phủ về dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định;

c) Bản dự án, dự thảo cuối cùng được cơ quan soạn thảo quyết định trình Chính phủ xem xét và bản tập hợp ý kiến của các Bộ, ngành về dự án, dự thảo đó;

d) Bản thuyết trình chi tiết về dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định và dự thảo các văn bản hướng dẫn thi hành (nếu có).

2. Số lượng hồ sơ gửi thẩm định ít nhất là 10 bộ.
...
Điều 23. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong việc thẩm định dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ

1. Khi nhận được hồ sơ dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kịp thời tổ chức việc thẩm định dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp có thể yêu cầu cơ quan soạn thảo thuyết trình về dự án, dự thảo, cung cấp thông tin và tài liệu có liên quan đến dự án, dự thảo văn bản đó.

2. Khi cần thiết, mời các luật gia, các nhà khoa học và các chuyên gia am hiểu các vấn đề chuyên môn thuộc nội dung dự án, dự thảo tham gia thẩm định.

3. Chuẩn bị và gửi báo cáo thẩm định đúng thời hạn theo quy định tại Điều 26 của Nghị định này.

Điều 24. Phạm vi thẩm định

Bộ Tư pháp thẩm định về đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản, tính khả thi của văn bản, kỹ thuật soạn thảo văn bản, ngôn ngữ pháp lý, và chịu trách nhiệm về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật.

Trong trường hợp cơ quan soạn thảo và các Bộ, ngành còn có ý kiến khác nhau về những vấn đề thuộc nội dung của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, thì Bộ Tư pháp có trách nhiệm phát biểu rõ quan điểm và đề xuất phương án xử lý đối với các vấn đề còn có ý kiến khác nhau đó.

Điều 25. Tổ chức thẩm định

1. Bộ trưởng Bộ Tư pháp tổ chức việc thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, bảo đảm chất lượng và thời hạn thẩm định.

Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định thành lập Hội đồng thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định.

Đối với dự án Luật, pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo thì thành phần Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập phải có sự tham gia của đại diện Văn phòng Chính phủ, đại diện các Bộ, ngành hữu quan.

2. Thủ tục, trình tự cụ thể của việc thẩm định văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định.

Điều 26. Gửi báo cáo thẩm định

Chậm nhất là 5 ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Chính phủ, Bộ Tư pháp gửi báo cáo thẩm định dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định đến cơ quan chủ trì soạn thảo và Văn phòng Chính phủ. Đối với dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định do Bộ Tư pháp soạn thảo, trong thời hạn chậm nhất là năm ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Chính phủ, Bộ Tư pháp phải gửi ý kiến của Hội đồng thẩm định cùng dự thảo văn bản đến Văn phòng Chính phủ để chuẩn bị cho phiên họp Chính phủ.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 17 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
17. Điều 63 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 63. Thẩm định dự thảo nghị quyết, nghị định

1. Bộ tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo nghị quyết, nghị định trước khi trình Chính phủ.

Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ tư pháp thành lập để thẩm định các dự thảo nghị quyết, nghị định do Bộ tư pháp chủ trì soạn thảo.

2. Phạm vi thẩm định dự thảo nghị quyết, nghị định theo quy định tại khoản 2 Điều 29a của Luật này.

3. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề thuộc nội dung dự thảo nghị quyết, nghị định; tự mình hoặc cùng cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo nghị quyết, nghị định. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc thẩm định dự thảo nghị quyết, nghị định.

4. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến thẩm định, chỉnh lý dự thảo nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ. Trong trường hợp có ý kiến khác với ý kiến của cơ quan thẩm định thì cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.

5. Văn phòng Chính phủ gửi dự thảo nghị quyết, nghị định và văn bản thẩm định đến các thành viên Chính phủ trước phiên họp của Chính phủ. Chính phủ chỉ xem xét, thảo luận dự thảo nghị quyết, nghị định khi đã có văn bản thẩm định."

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 32, 33 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 32. Thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

1. Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 29 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các Điều 29a, 63 và Điều 65 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Quy chế thẩm định văn bản quy phạm pháp luật.

2. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật sau khi cơ quan chủ trì soạn thảo trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại khoản 6 Điều 2 của Nghị định số 18/2003/NĐ-CP ngày 20 tháng 02 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ.

Trước phiên họp Chính phủ 20 (hai mươi) ngày làm việc, cơ quan chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải gửi toàn bộ hồ sơ dự án, dự thảo đến Văn phòng Chính phủ để thẩm tra.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ dự án, dự thảo trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ phải có ý kiến thẩm tra bằng văn bản gửi các Thành viên Chính phủ.

Việc thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo Quy chế thẩm định, Quy chế thẩm tra do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Điều 33. Giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định

Sau khi nhận được văn bản thẩm định về dự án, dự thảo, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự án, dự thảo; đồng thời giải trình bằng văn bản việc tiếp thu ý kiến thẩm định.

Bản giải trình và dự án, dự thảo đã được chỉnh lý theo ý kiến thẩm định phải được gửi đến Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 19, 21, 23, 24, 25, 26 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 17 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 32, 33 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 29 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 29. Chính phủ tham gia ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh do các cơ quan khác, các tổ chức, đại biểu Quốc hội soạn thảo

1. Trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày nhận được dự án Luật, dự án Pháp lệnh và những tài liệu có liên quan do các cơ quan khác, các tổ chức, đại biểu Quốc hội soạn thảo gửi đến để Chính phủ tham gia ý kiến, Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm gửi đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ hữu quan để tham gia ý kiến và gửi đến Bộ Tư pháp để thẩm định.

2. Bộ Tư pháp có trách nhiệm tiến hành việc thẩm định dự án luật, pháp lệnh theo quy định tại các Điều 23, 24, và 25 của Nghị định này. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ hữu quan có trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về nhưng nội dung của dự án trực tiếp liên quan đến chức năng, nhiệm vụ quản lý ngành, lĩnh vực của mình.

Trong thời hạn chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày nhận được dự án Luật, Pháp lệnh, Bộ Tư pháp gửi báo cáo thẩm định đến Văn phòng Chính phủ.

3. Trên cơ sở báo cáo thẩm định của Bộ Tư pháp, văn bản góp ý kiến của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chính phủ tổng hợp, hoàn chỉnh và trình Thủ tướng xem xét văn bản tham gia ý kiến của Chính phủ về các dự án Luật, Pháp lệnh nói trên và gửi cho cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội soạn thảo dự án Luật, Pháp lệnh đó.

Xem nội dung VB
- Bổ sung cụm từ "dự thảo nghị quyết" vào sau các cụm từ "dự án luật, dự án pháp lệnh", "dự án luật", "dự án pháp lệnh" trong điều này theo Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
đ) Bổ sung cụm từ "dự thảo nghị quyết" vào sau các cụm từ "dự án luật, dự án pháp lệnh", "dự án luật", "dự án pháp lệnh" tại Điều 29;

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 32, 33 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 32. Thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

1. Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 29 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các Điều 29a, 63 và Điều 65 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Quy chế thẩm định văn bản quy phạm pháp luật.

2. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật sau khi cơ quan chủ trì soạn thảo trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại khoản 6 Điều 2 của Nghị định số 18/2003/NĐ-CP ngày 20 tháng 02 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ.

Trước phiên họp Chính phủ 20 (hai mươi) ngày làm việc, cơ quan chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải gửi toàn bộ hồ sơ dự án, dự thảo đến Văn phòng Chính phủ để thẩm tra.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ dự án, dự thảo trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ phải có ý kiến thẩm tra bằng văn bản gửi các Thành viên Chính phủ.

Việc thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo Quy chế thẩm định, Quy chế thẩm tra do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Điều 33. Giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định

Sau khi nhận được văn bản thẩm định về dự án, dự thảo, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự án, dự thảo; đồng thời giải trình bằng văn bản việc tiếp thu ý kiến thẩm định.

Bản giải trình và dự án, dự thảo đã được chỉnh lý theo ý kiến thẩm định phải được gửi đến Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 29 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Bổ sung cụm từ "dự thảo nghị quyết" vào sau các cụm từ "dự án luật, dự án pháp lệnh", "dự án luật", "dự án pháp lệnh" trong điều này theo Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 32, 33 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 30 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 30. Tham gia ý kiến về dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ

1. Bộ Tư pháp có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản và chịu trách nhiệm về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật đối với dự thảo Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành.

2. Chậm nhất là mười lăm ngày, trước ngày trình Thủ tướng Chính phủ, cơ quan soạn thảo Quyết định, Chỉ thị có trách nhiệm gửi đến Bộ Tư pháp hồ sơ dự thảo Quyết định, Chỉ thị.

3. Hồ sơ dự thảo Quyết định, Chỉ thị gửi tham gia ý kiến bao gồm:

a) Công văn yêu cầu tham gia ý kiến;

b) Tờ trình Thủ tướng Chính phủ về dự thảo Quyết định, Chỉ thị;

c) Dự thảo Quyết định, Chỉ thị và bản tổng hợp ý kiến của các Bộ, ngành về dự thảo Quyết định, Chỉ thị.

4. Số lượng hồ sơ gửi tham gia ý kiến ít nhất là 05 bộ.

5. Chậm nhất là bảy ngày, sau khi nhận được hồ sơ, Bộ Tư pháp tham gia ý kiến bằng văn bản và gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo.

6. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm chỉnh lý dự thảo Quyết định, Chỉ thị để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ bao gồm:

a) Tờ trình Thủ tướng Chính phủ về dự thảo Quyết đinh, Chỉ thị;

b) Dự thảo Quyết định, chỉ thị;

c) ý kiến tham gia của các cơ quan, tổ chức hữu quan;

d) ý kiến tham gia của Bộ Tư pháp.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 30 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 7 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996;
...
Điều 7. Việc dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài

1. Văn bản quy phạm pháp luật đã được công bố hoặc ký ban hành có thể được dịch ra tiếng nước ngoài.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài chịu trách nhiệm về nội dung bản dịch của mình.

Việc dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài phải bảo đảm đúng nội dung của văn bản quy phạm pháp luật được dịch, từ ngữ trong bản dịch phải chính xác.

Bản dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài chỉ có giá trị tham khảo.

3. Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin lựa chọn một số nhà xuất bản để thực hiện việc xuất bản và phát hành bản dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 12 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 12. Việc dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài

1. Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, công bố, đăng Công báo có thể được dịch ra tiếng nước ngoài.

2. Việc dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài phải bảo đảm đúng nội dung của văn bản; từ ngữ trong bản dịch phải chính xác.

3. Bản dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài theo quy định tại Nghị định này chỉ có giá trị tham khảo.

4. Thông tấn xã Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao và cơ quan được giao chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật quyết định việc dịch và có trách nhiệm dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 7 Nghị định 101/1997/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/02/2006)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 12 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Kiểm tra và xử lý văn bản được hướng dẫn bởi Nghị định 135/2003/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2010)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật số 02/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
...
Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Đối tượng và phạm vi điều chỉnh
...
Điều 2. Mục đích kiểm tra văn bản
...
Điều 3. Nội dung kiểm tra văn bản
...
Điều 4. Nguyên tắc kiểm tra văn bản
...
Điều 5. Nguyên tắc xử lý văn bản trái pháp luật
...
Điều 6. Phương thức kiểm tra văn bản
...
Điều 7. Cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra
...
Điều 8. Các biện pháp xử lý đối với cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản trái pháp luật
...
Điều 9. Công bố kết quả xử lý văn bản trái pháp luật
...
Chương 2: CƠ QUAN, NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN BAN HÀNH VĂN BẢN TỰ KIỂM TRA VĂN BẢN

Điều 10. Trách nhiệm tự kiểm tra văn bản
...
Điều 11. Phương thức tự kiểm tra văn bản
...
CHƯƠNG 3: THẨM QUYỀN, THỦ TỤC KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN

MỤC 1: THẨM QUYỀN KIỂM TRA VĂN BẢN

Điều 12. Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ trong việc kiểm tra văn bản
...
Điều 13. Thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong việc kiểm tra văn bản
...
MỤC 2: THẨM QUYỀN XỬ LÝ VĂN BẢN TRÁI PHÁP LUẬT

Điều 14. Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc xử lý văn bản trái pháp luật
...
Điều 15. Thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong việc xử lý văn bản trái pháp luật
...
Điều 16. Thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trong việc xử lý văn bản trái pháp luật
...
Điều 17. Thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong việc xử lý văn bản trái pháp luật
...
MỤC 3: THỦ TỤC KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN TRÁI PHÁP LUẬT

Điều 18. Thời hạn gửi văn bản đến cơ quan kiểm tra
...
Điều 19. Thủ tục do Bộ trưởng Bộ Tư pháp tiến hành kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật
...
Điều 20. Thủ tục do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tiến hành kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật
...
Điều 21. Thủ tục xử lý văn bản trái pháp luật trong trường hợp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh kiến nghị Thủ tướng Chính phủ
...
Điều 22. Thủ tục do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện tiến hành kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật
...
Điều 23. Thủ tục kiểm tra, xử lý văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước
...
Điều 24. Thủ tục kiểm tra và xử lý văn bản liên tịch trái pháp luật giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ
...
Điều 25. Thủ tục kiểm tra và xử lý văn bản liên tịch trái pháp luật giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội
...
Điều 26. Thẩm quyền, thủ tục kiểm tra và xử lý văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật và văn bản do cơ quan không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật ban hành khi có yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại của cơ quan, tổ chức, các cơ quan thông tin đại chúng và của cá nhân
...
Chương 3: TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN CỦA CƠ QUAN, NGƯỜI CÓ VĂN BẢN ĐƯỢC KIỂM TRA

Điều 27. Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản có văn bản được kiểm tra
...
Điều 28. Quyền của cơ quan, người có văn bản được kiểm tra
...
Chương 5: KHEN THƯỞNG, XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT; KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA, XỬ LÝ VĂN BẢN

Điều 29. Khen thưởng trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản
...
Điều 30. Những hành vi vi phạm pháp luật trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản
...
Điều 31. Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản
...
Chương 6: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA VĂN BẢN

Điều 32. Nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong quản lý nhà nước về công tác kiểm tra văn bản
...
Điều 33. Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong quản lý nhà nước về công tác kiểm tra văn bản
...
Chương 7: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 34. Các điều kiện bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản
...
Điều 35. Hiệu lực thi hành
...
Điều 36. Trách nhiệm thi hành

Xem nội dung VB
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 23, 24, 26 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
23. Bổ sung Điều 80a trước Điều 81 như sau:

''Điều 80a. Mục đích giám sát, kiểm tra

Việc giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được tiến hành nhằm phát hiện những nội dung sai trái của văn bản để kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ văn bản nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xác định trách nhiệm của cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản sai trái.''

24. Bổ sung Điều 80b sau Điều 80a như sau:

''Điều 80b. Nội dung giám sát, kiểm tra

Nội dung giám sát, kiểm tra văn bản bao gồm:

1. Sự phù hợp của văn bản với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên;

2. Sự phù hợp của hình thức văn bản với nội dung văn bản đó;

3. Sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản."
...
26. Bổ sung Điều 82a sau Điều 82 như sau:

"Điều 82a. Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội giám sát văn bản quy phạm pháp luật

1. Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội thuộc lĩnh vực Hội đồng dân tộc, Uỷ ban phụ trách.

Uỷ ban pháp luật của Quốc hội còn giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

2. Chậm nhất là ba ngày, kể từ ngày ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan ban hành văn bản thuộc thẩm quyền giám sát của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm gửi văn bản đến Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội.

Trong trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội yêu cầu cơ quan ban hành văn bản xem xét lại văn bản để đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc huỷ bỏ. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan đã ban hành văn bản có trách nhiệm trả lời Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội; nếu cơ quan đã ban hành văn bản không đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc huỷ bỏ văn bản thì Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

Trong trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội yêu cầu cơ quan ban hành văn bản xem xét lại văn bản để đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc huỷ bỏ. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan đã ban hành văn bản có trách nhiệm trả lời Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội; nếu cơ quan đã ban hành văn bản không đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc huỷ bỏ văn bản thì Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, xử lý theo thẩm quyền.''

Xem nội dung VB
Kiểm tra và xử lý văn bản được hướng dẫn bởi Nghị định 135/2003/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2010)
Chương này được bổ sung bởi Khoản 23, 24, 26 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật được hướng dẫn bởi Khoản 1 Điều 12 và Điều 14 Nghị định 135/2003/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2010)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật số 02/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
...
Điều 12. Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ trong việc kiểm tra văn bản

1. Thủ tướng Chính phủ kiểm tra văn bản do các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành, văn bản liên tịch giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ và văn bản liên tịch giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội.
...
Điều 14. Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc xử lý văn bản trái pháp luật

1. Quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.

2. Quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành trái với các quy định về ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ khác hoặc trái với văn bản của Bộ trưởng được Thủ tướng Chính phủ phân công ký, ban hành văn bản của cơ quan thuộc Chính phủ.

3. Quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản liên tịch trái pháp luật giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ.

4. Đình chỉ việc thi hành các quy định trái pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong văn bản liên tịch giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội, đồng thời yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ phải thoả thuận với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Người đứng đầu cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội đã ký văn bản liên tịch cùng sửa đổi hoặc bãi bỏ văn bản đó.

Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, nếu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ không thoả thuận được với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Người đứng đầu cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội đã ký văn bản liên tịch hoặc Thủ tướng Chính phủ không nhất trí với kết quả xử lý thì Thủ tướng Chính phủ báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

5. Quyết định đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và trái với văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, đồng thời đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ.

6. Uỷ quyền cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ xử lý văn bản trái pháp luật thuộc thẩm quyền xử lý của Thủ tướng Chính phủ khi xét thấy cần thiết.

7. Thực hiện những thẩm quyền khác trong việc xử lý văn bản trái pháp luật theo quy định của pháp luật.

Xem nội dung VB
Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật được hướng dẫn bởi Khoản 1 Điều 12 và Điều 14 Nghị định 135/2003/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2010)
- Thẩm quyền, thủ tục kiểm tra, xử lý văn bản được hướng dẫn bởi các Điều 12, Điều 16, Điều 20, Điều 21 Nghị định 135/2003/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2010)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật số 02/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
...
Điều 12. Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ trong việc kiểm tra văn bản
...
Điều 16. Thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trong việc xử lý văn bản trái pháp luật
...
Điều 20. Thủ tục do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tiến hành kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật
...
Điều 21. Thủ tục xử lý văn bản trái pháp luật trong trường hợp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh kiến nghị Thủ tướng Chính phủ

Xem nội dung VB
Thẩm quyền, thủ tục kiểm tra, xử lý văn bản được hướng dẫn bởi các Điều 12, Điều 16, Điều 20, Điều 21 Nghị định 135/2003/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2010)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
2. Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 3. Tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân có quyền tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

2. Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, căn cứ vào tính chất và nội dung của dự án, dự thảo, cơ quan, tổ chức hữu quan tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến; tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản trong phạm vi và với hình thức thích hợp.

3. Ý kiến tham gia về dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiên cứu để tiếp thu chỉnh lý dự án, dự thảo văn bản.''

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
3. Điều 9 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 9. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành, huỷ bỏ, bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.

Văn bản quy phạm pháp luật khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành thì vẫn còn nguyên hiệu lực và phải được nghiêm chỉnh thi hành.

2. Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan ban hành văn bản phải xác định rõ trong văn bản đó danh mục các điều, khoản, điểm và các văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành mà nay trái với quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới; có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung những văn bản quy phạm pháp luật, điều, khoản, điểm đó."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
5. Điều 17 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 17. Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
6. Điều 22 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 22. Lập chương trình, thông qua chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

1. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của công dân.

2. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật được quy định tại Điều 87 của Hiến pháp năm 1992 gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và đồng thời gửi đến Chính phủ. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; những quan điểm, nội dung chính của văn bản; dự báo tác động kinh tế - xã hội; dự kiến nguồn lực bảo đảm thi hành và điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo văn bản. Kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội cũng được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ.

Chính phủ lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội và phát biểu ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.

3. Uỷ ban pháp luật của Quốc hội chủ trì và phối hợp với Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội thẩm tra dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.

4. Căn cứ vào dự kiến của Chính phủ, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội, ý kiến thẩm tra của Uỷ ban pháp luật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội lập dự án chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Quốc hội quyết định.

5. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ Quốc hội và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm.

6. Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cả nhiệm kỳ trong năm đầu tiên của mỗi khoá Quốc hội; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm tại kỳ họp cuối năm của năm trước."

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 16 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 16. Đề xuất chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (sau đây gọi chung là luật, pháp lệnh) và chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

1. Căn cứ vào Điều 22 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Điều 59 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và yêu cầu quản lý của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ.

Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ lập dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ.

2. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các chủ thể có quyền trình dự án luật (trừ Chính phủ) theo quy định tại Điều 87 của Hiến pháp năm 1992 và kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội được gửi đến Bộ Tư pháp để trình Chính phủ.

Người đứng đầu các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân có thể gửi kiến nghị xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đến Bộ Tư pháp; gửi đề nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ đến Văn phòng Chính phủ.

3. Đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; những quan điểm, nội dung chính của văn bản; dự báo tác động kinh tế xã hội; dự kiến thời gian trình văn bản; nguồn lực tài chính, nhân lực và các nguồn lực khác bảo đảm thi hành văn bản.

4. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải được gửi đến Bộ Tài chính để thẩm định về nguồn tài chính dự kiến, gửi đến Bộ Nội vụ để thẩm định về nguồn nhân lực dự kiến (nếu có) nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nội vụ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về nguồn tài chính, nguồn nhân lực dự kiến nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành.

Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ phải kèm theo văn bản của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ đánh giá về nguồn tài chính, nguồn nhân lực dự kiến nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành.

5. Đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ chậm nhất là ngày 01 tháng 7 của năm trước.

Đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ của Quốc hội được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ chậm nhất là ngày 01 tháng 7 của năm kết thúc nhiệm kỳ của Quốc hội khoá trước.

6. Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn gửi đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh quy định tại khoản 5 Điều này, Bộ Tư pháp phải hoàn thành việc lập dự thảo Dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo thứ tự ưu tiên ban hành văn bản, căn cứ vào nhu cầu quản lý nhà nước, tính khả thi của văn bản và tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Đối với đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh không đáp ứng các tiêu chí quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này thì Bộ Tư pháp yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức và cá nhân bổ sung, hoàn chỉnh đề nghị, kiến nghị đó.

7. Đề nghị của các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, kiến nghị của người đứng đầu các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân về việc xây dựng nghị quyết, nghị định hàng năm của Chính phủ được gửi đến Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp chậm nhất là ngày 05 tháng 11 của năm trước.

8. Trình tự, thủ tục đề xuất xây dựng nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo các quy định về đề xuất chương trình xây dựng luật, pháp lệnh tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này.

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 16 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Điều này được sửa đổ bởi Khoản 9 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
9. Điều 28 được sửa đổi, bổ sung như sau:

''Điều 28. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

1. Cơ quan, tổ chức trình dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Chỉ đạo Ban soạn thảo trong quá trình xây dựng dự án, dự thảo;

b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến dự án, dự thảo;

c) Xem xét, quyết định việc trình dự án luật, dự thảo nghị quyết ra Quốc hội, trình dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết ra Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Trong trường hợp chưa trình được dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết theo chương trình thì phải kịp thời báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội và nêu rõ lý do.

2. Đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự án pháp lệnh có nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này. Văn phòng Quốc hội bảo đảm điều kiện cần thiết cho Ban soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh do đại biểu Quốc hội trình.

3. Đối với dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội không do Chính phủ trình, thì chậm nhất là bốn mươi lăm ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có trách nhiệm gửi dự án, dự thảo đến Chính phủ để Chính phủ tham gia ý kiến.

Đối với dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội không do Chính phủ trình, thì chậm nhất là bốn mươi ngày, trước ngày khai mạc phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có trách nhiệm gửi dự án, dự thảo đến Chính phủ để Chính phủ tham gia ý kiến.''

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổ bởi Khoản 9 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Mục này được bổ sung bởi Khoản 10 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
10. Bổ sung Điều 29a sau Điều 29 như sau:

''Điều 29a. Thẩm định dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

1. Bộ tư pháp có trách nhiệm thẩm định các dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết để Chính phủ xem xét trước khi quyết định trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ tư pháp thành lập để thẩm định các dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Bộ tư pháp chủ trì soạn thảo.

2. Cơ quan thẩm định tiến hành thẩm định về những vấn đề sau đây:

a) Sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự án, dự thảo;

b) Sự phù hợp của nội dung dự án, dự thảo với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản với hệ thống pháp luật;

c) Tính khả thi của văn bản;

d) Việc tuân thủ thủ tục và trình tự soạn thảo;

đ) Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.

3. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề thuộc nội dung dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết; tự mình hoặc cùng cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc thẩm định dự án, dự thảo.

4. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến thẩm định, chỉnh lý dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết để trình Chính phủ. Trong trường hợp có ý kiến khác với ý kiến của cơ quan thẩm định thì cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.''

Xem nội dung VB
Mục này được bổ sung bởi Khoản 10 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Mục này được bổ sung bởi Khoản 11 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
11. Bổ sung Điều 34a sau Điều 34 như sau:

"Điều 34a. Uỷ ban pháp luật của Quốc hội bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự án luật, dự án pháp lệnh

Uỷ ban pháp luật của Quốc hội có trách nhiệm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự án luật, dự án pháp lệnh trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua bằng các hoạt động sau đây:

1. Tham gia thẩm tra các dự án luật, dự án pháp lệnh do Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra.

Trong trường hợp có ý kiến khác với cơ quan chủ trì thẩm tra về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với dự án luật, dự án pháp lệnh thì Uỷ ban pháp luật báo cáo với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về ý kiến của mình;

2. Tham gia chỉnh lý dự án luật, dự án pháp lệnh.''

Xem nội dung VB
Mục này được bổ sung bởi Khoản 11 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
12. Điều 45 được sửa đổi, bổ sung thành các điều 45, 45a và 45b như sau:

"Điều 45. Xem xét, thông qua dự án luật

Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự án luật, Quốc hội có thể xem xét, thông qua dự án luật tại một hoặc hai kỳ họp của Quốc hội.'';

"Điều 45a. Trình tự xem xét, thông qua dự án luật tại một kỳ họp của Quốc hội

Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật tại một kỳ họp theo trình tự sau đây:

1. Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án thuyết trình về dự án;

2. Đại diện cơ quan thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

3. Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về những nội dung cơ bản và những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự án luật. Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự án luật có thể được thảo luận ở Tổ hoặc Đoàn đại biểu Quốc hội.

Trong quá trình thảo luận, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật được trình bày bổ sung về những vấn đề liên quan đến dự án.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Đoàn thư ký kỳ họp tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội.

Trong trường hợp cần thiết, Quốc hội biểu quyết một số nội dung của dự án luật để làm cơ sở cho việc chỉnh lý;

4. Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình dự án, Uỷ ban pháp luật, Bộ tư pháp và các cơ quan hữu quan căn cứ vào ý kiến của đại biểu Quốc hội để chỉnh lý dự thảo luật.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật;

5. Quốc hội nghe đọc dự thảo đã được chỉnh lý; thảo luận, biểu quyết thông qua một số nội dung còn có ý kiến khác nhau và biểu quyết thông qua dự thảo luật;

6. Dự thảo luật được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật.

Trong trường hợp dự thảo luật chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì việc chỉnh lý và thông qua dự thảo luật được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 45b của Luật này.'';

"Điều 45b. Trình tự xem xét, thông qua dự án luật tại hai kỳ họp của Quốc hội

Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật tại hai kỳ họp theo trình tự sau đây:

1. Tại kỳ họp thứ nhất:

a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án thuyết trình về dự án;

b) Đại diện cơ quan thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

c) Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về những nội dung cơ bản và những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự án luật. Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự án luật có thể được thảo luận ở Tổ hoặc Đoàn đại biểu Quốc hội.

Trong quá trình thảo luận, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật được trình bày bổ sung về những vấn đề liên quan đến dự án;

d) Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Đoàn thư ký kỳ họp tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội và chuẩn bị những nội dung cơ bản của dự án luật để trình Quốc hội biểu quyết làm cơ sở cho việc chỉnh lý;

2. Trong thời gian giữa hai kỳ họp của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình dự án, Uỷ ban pháp luật, Bộ tư pháp và các cơ quan hữu quan căn cứ vào ý kiến của đại biểu Quốc hội để chỉnh lý dự thảo luật;

3. Tại kỳ họp thứ hai:

a) Uỷ ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật;

b) Quốc hội nghe đọc dự thảo đã được chỉnh lý; thảo luận, biểu quyết thông qua một số nội dung còn có ý kiến khác nhau và biểu quyết thông qua dự thảo luật;

c) Dự thảo luật được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật.

Trong trường hợp dự án luật chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì việc xem xét, thông qua tại kỳ họp tiếp theo do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.''

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 13 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
13. Điều 47 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 47. Trình tự xem xét, thông qua dự án pháp lệnh

1. Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự án pháp lệnh, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể xem xét, thông qua dự án pháp lệnh tại một hoặc hai phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án pháp lệnh tại một phiên họp theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án thuyết trình về dự án;

b) Đại diện cơ quan thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

c) Đại diện các cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

d) Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận, Chủ tọa phiên họp kết luận và Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo pháp lệnh;

đ) Trong trường hợp dự thảo pháp lệnh còn có ý kiến khác nhau thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến về những vấn đề cần được chỉnh lý và chỉ đạo cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình dự án, Uỷ ban pháp luật, Bộ tư pháp và các cơ quan hữu quan chỉnh lý dự thảo pháp lệnh.

Cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc chỉnh lý dự thảo pháp lệnh;

e) Uỷ ban thường vụ Quốc hội nghe đọc dự thảo đã được chỉnh lý; thảo luận, biểu quyết thông qua một số nội dung còn có ý kiến khác nhau và biểu quyết thông qua dự thảo pháp lệnh;

g) Dự thảo pháp lệnh được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành. Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh.

3. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án pháp lệnh tại hai phiên họp theo trình tự sau đây:

a) Tại phiên họp thứ nhất, việc trình và thảo luận được thực hiện theo trình tự quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều này; Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận, biểu quyết một số vấn đề của dự án pháp lệnh để làm cơ sở cho việc chỉnh lý;

b) Trong thời gian giữa hai phiên họp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình dự án, Uỷ ban pháp luật, Bộ tư pháp và các cơ quan hữu quan chỉnh lý dự thảo pháp lệnh;

c) Tại phiên họp thứ hai, cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc chỉnh lý dự thảo pháp lệnh.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội nghe đọc dự thảo đã được chỉnh lý, thảo luận, biểu quyết thông qua một số nội dung còn có ý kiến khác nhau và biểu quyết thông qua dự thảo pháp lệnh;

d) Dự thảo pháp lệnh được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành. Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh.

4. Trong trường hợp dự án pháp lệnh chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì việc xem xét, thông qua tại phiên họp tiếp theo do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của cơ quan chủ trì thẩm tra."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 13 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 14 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
14. Điều 60 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 60. Thành lập Ban soạn thảo dự thảo nghị quyết, nghị định

1. Chính phủ quyết định cơ quan chủ trì soạn thảo nghị quyết, nghị định.

Cơ quan chủ trì soạn thảo thành lập Ban soạn thảo.

Đối với nghị định quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 của Luật này thì Chính phủ quyết định thành lập Ban soạn thảo.

2. Ban soạn thảo gồm Trưởng ban là đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo và các thành viên là đại diện cơ quan thẩm định và đại diện của các cơ quan, tổ chức hữu quan, các chuyên gia, các nhà khoa học.

3. Cơ quan chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm bảo đảm các điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo; chịu trách nhiệm trước Chính phủ về nội dung, chất lượng của dự thảo và tiến độ soạn thảo.

4. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có thành viên trong Ban soạn thảo có trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về những nội dung liên quan đến lĩnh vực công tác của mình và chịu trách nhiệm về ý kiến đó."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 14 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 16 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
16. Điều 62 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 62. Tham gia ý kiến xây dựng dự thảo nghị quyết, nghị định

1. Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, nghị định, cơ quan soạn thảo gửi bản dự thảo tới Hội đồng dân tộc, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan, tổ chức hữu quan, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) để tham gia ý kiến.

2. Tuỳ theo tính chất và nội dung dự thảo nghị quyết, nghị định, Thủ tướng Chính phủ giao Văn phòng Chính phủ đăng tải dự thảo nghị quyết, nghị định trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên Internet để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Cá nhân góp ý kiến về dự thảo nghị quyết, nghị định thông qua cơ quan, tổ chức của mình, trực tiếp hoặc gửi thư góp ý tới Văn phòng Chính phủ, cơ quan, tổ chức soạn thảo dự thảo hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.

3. Cơ quan soạn thảo dự thảo nghị quyết, nghị định có trách nhiệm nghiên cứu các ý kiến tham gia để tiếp thu chỉnh lý dự thảo nghị quyết, nghị định và báo cáo giải trình về việc tiếp thu ý kiến.''

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 16 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 18 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
18. Điều 64 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 64. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết, nghị định

1. Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, nghị định, Chính phủ có thể xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết, nghị định tại một hoặc hai phiên họp của Chính phủ.

2. Tại phiên họp của Chính phủ, đại diện cơ quan soạn thảo thuyết trình về dự thảo; cơ quan thẩm định trình bày ý kiến thẩm định dự thảo; đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến.

3. Các thành viên của Chính phủ thảo luận về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau.

4. Dự thảo nghị quyết, nghị định được Chính phủ thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành.

5. Thủ tướng Chính phủ ký nghị quyết, nghị định.

6. Trong trường hợp dự thảo nghị quyết, nghị định chưa được thông qua, thì Chính phủ cho ý kiến về những vấn đề cần phải chỉnh lý và định thời hạn trình lại dự thảo."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 18 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 19 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
19. Điều 65 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 65. Soạn thảo, ban hành quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ

1. Dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ giao và chỉ đạo việc soạn thảo.

2. Cơ quan được giao soạn thảo có trách nhiệm xây dựng dự thảo.

3. Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, chỉ thị, cơ quan soạn thảo gửi lấy ý kiến Hội đồng dân tộc, các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

4. Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, chỉ thị, Thủ tướng Chính phủ giao Văn phòng Chính phủ đăng tải dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên Internet để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

5. Bộ tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.

6. Cơ quan soạn thảo chỉnh lý dự thảo và báo cáo Thủ tướng Chính phủ về ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

7. Thủ tướng Chính phủ xem xét, ký quyết định, chỉ thị.''

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 23 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 23. Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ

1. Dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ được Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì và phối hợp soạn thảo.

Trong trường hợp cần thiết, cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định thành lập Ban soạn thảo. Tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ được thực hiện theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo do Thủ tướng Chính phủ ban hành.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ được Thủ tướng Chính phủ giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức tổng kết tình hình thi hành pháp luật, khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội, nghiên cứu thông tin tư liệu có liên quan đến nội dung dự thảo; chuẩn bị đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự thảo; tổ chức lấy ý kiến, chuẩn bị tờ trình và tài liệu có liên quan đến dự thảo.

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 19 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 23 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 20 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
20. Điều 69 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 69. Quyết định, chỉ thị, thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

1. Quyết định, chỉ thị, thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao được ban hành để thực hiện việc quản lý các Toà án nhân dân địa phương và Toà án quân sự về tổ chức; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

2. Quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định các biện pháp để bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.''

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 20 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 21 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
21. Điều 70 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 70. Soạn thảo, ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

1. Dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao do Chánh án Toà án nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

Dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thảo luận và cho ý kiến. Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư, Chánh án Toà án nhân dân tối cao quyết định gửi dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư để lấy ý kiến của Bộ quốc phòng, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân địa phương, Toà án quân sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

Chánh án Toà án nhân dân tối cao ký quyết định, chỉ thị, thông tư.

2. Dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

Dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thảo luận và cho ý kiến. Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định gửi dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư để lấy ý kiến của Toà án nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện kiểm sát quân sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký quyết định, chỉ thị, thông tư.''

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 21 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 22 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
22. Điều 75 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 75. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

1. Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có hiệu lực kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác.

2. Văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước có hiệu lực kể từ ngày đăng Công báo, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác.

3. Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các văn bản quy phạm pháp luật liên tịch có hiệu lực sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo hoặc có hiệu lực muộn hơn nếu được quy định tại văn bản đó. Đối với văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, thì văn bản có thể quy định ngày có hiệu lực sớm hơn.''

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 6 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 6. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

1. Việc xác định thời điểm có hiệu lực của luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước được thực hiện theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 75 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có điều, khoản cần phải được quy định chi tiết thì ngay tại điều, khoản đó phải xác định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và thời hạn.ban hành văn bản quy định chi tiết.

Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy định chi tiết phải tương ứng với thời điểm có hiệu lực của văn bản được quy định chi tiết.

Trong trường hợp vì lý do khách quan mà văn bản quy định chi tiết chưa được ban hành thì trong thời hạn 90 (chín mươi) ngày, kể từ ngày văn bản được quy định chi tiết có hiệu lực, văn bản quy định chi tiết phải được ban hành. Quy định này chỉ áp dụng đối với văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy định chi tiết trong trường hợp này được xác định theo quy định tại các điểm a, đ, e khoản 2 Điều này.

2. Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; văn bản quy phạm pháp luật liên tịch mà Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ là một bên ký ban hành phải quy định thời điểm có hiệu lực tại văn bản đó. Việc xác định thời điểm có hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật này được thực hiện theo nguyên tắc sau:

a) Thời điểm có hiệu lực của văn bản phải sau 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày đăng Công báo, trừ trường hợp văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định các biện pháp thi hành trong trường hợp khẩn cấp hoặc được ban hành để giải quyết những vấn đề đột xuất thì thời điểm có hiệu lực của văn bản có thể quy định sau khi ký ban hành và phải được quy định cụ thể trong văn bản đó.

b) Đối với văn bản cần dành thời gian để tuyên truyền, phổ biến nội dung của văn bản đến đối tượng thi hành hoặc để chuẩn bị các điều kiện cho việc tổ chức thực hiện thì thời điểm có hiệu lực của văn bản muộn hơn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày đăng Công báo và phải được quy định cụ thể trong văn bản đó;

c) Việc quy định hiệu lực trở về trước của văn bản được thực hiện theo quy định tại Điều 76 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

d) Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy định chi tiết thi hành được xác định theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 và khoản 3 điều này;

đ) Đối với các quy định trong văn bản quy định chi tiết thi hành có lợi cho đối tượng áp dụng thì thời điểm áp dụng các quy định đó được tính từ thời điểm có hiệu lực của văn bản được quy định chi tiết và phải được quy định cụ thể trong văn bản quy định chi tiết.

e) Đối với các quy định trong văn bản quy định chi tiết thi hành về nghĩa vụ hoặc chế tài gây bất lợi cho đối tượng áp dụng thì thời điểm có hiệu lực được tính từ thời điểm có hiệu lực của văn bản quy định chi tiết.

3. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước:

a) Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước, nhưng không quy định các biện pháp thi hành trong trường hợp khẩn cấp hoặc để giải quyết những vấn đề đột xuất thì thời điểm có hiệu lực không được sớm hơn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày ký ban hành và phải được quy định cụ thể trong văn bản đó.

b) Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước quy định các biện pháp thi hành trong trường hợp khẩn cấp hoặc để giải quyết những vấn đề đột xuất thì thời điểm có hiệu lực có thể xác định kể từ ngày ký ban hành và phải được quy định cụ thể trong văn bản đó.

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 22 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 6 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 25 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
25. Điều 82 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 82. Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát, xử lý văn bản trái pháp luật

1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện quyền giám sát đối với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội hoặc đại biểu Quốc hội huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh và nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.

3. Uỷ ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội hoặc đại biểu Quốc hội bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

4. Chậm nhất là ba ngày, kể từ ngày ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan ban hành văn bản thuộc thẩm quyền giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm gửi văn bản đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Trong trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội đình chỉ việc thi hành văn bản và yêu cầu cơ quan ban hành văn bản sửa đổi hoặc bãi bỏ theo thẩm quyền. Cơ quan ban hành văn bản phải chấp hành ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 25 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 27 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
...
27. Điều 83 được sửa đổi, bổ sung như sau:

''Điều 83. Chính phủ kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật

1. Chính phủ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

2. Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; xem xét, quyết định đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ.

3. Bộ tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, giúp Thủ tướng Chính phủ kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.''

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 27 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:

a) Bỏ cụm từ "cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Chương V...

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:

a) Bỏ cụm từ "cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Chương V, tại các điều 18, 71, 72, 74 và khoản 2 Điều 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:

a) Bỏ cụm từ "cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Chương V, tại các điều 18, 71, 72, 74 và khoản 2 Điều 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:

a) Bỏ cụm từ "cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Chương V, tại các điều 18, 71, 72, 74 và khoản 2 Điều 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:

a) Bỏ cụm từ "cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Chương V, tại các điều 18, 71, 72, 74 và khoản 2 Điều 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:

a) Bỏ cụm từ "cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Chương V, tại các điều 18, 71, 72, 74 và khoản 2 Điều 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:

a) Bỏ cụm từ "cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Chương V, tại các điều 18, 71, 72, 74 và khoản 2 Điều 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:

a) Bỏ cụm từ "cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Chương V, tại các điều 18, 71, 72, 74 và khoản 2 Điều 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:

a) Bỏ cụm từ "cơ quan thuộc Chính phủ" tại ... khoản 2 Điều 84;

Xem nội dung VB
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục 2 của Chương V, tại các điều 16, 58, 66 và 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 ... của Chương V...

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của ... Mục 2 của Chương V...

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại ... tại các điều 16...

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục 2 của Chương V, tại các điều 16, 58, 66 và 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục 2 của Chương V, tại các điều 16, 58, 66 và 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục 2 của Chương V, tại các điều 16, 58, 66 và 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
c) Thay cụm từ "phân bổ ngân sách nhà nước" bằng cụm từ "phân bổ ngân sách trung ương" tại khoản 2 Điều 20;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị thay thế bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
d) Cụm từ "... , thì cơ quan soạn thảo có trách nhiệm gửi dự án luật, dự án pháp lệnh đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên để lấy ý kiến" tại đoạn 2 Điều 30 được sửa thành: "..., thì cơ quan soạn thảo có trách nhiệm gửi dự án luật, dự án pháp lệnh đến Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban chấp hành trung ương của các tổ chức thành viên có liên quan để lấy ý kiến.";

Xem nội dung VB
Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
e) Bỏ từ "kiểm sát" tại tên của Chương IX.

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Khoản này bị bãi bỏ bởi Khoản 2 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2
...
2. Bãi bỏ khoản 2 Điều 27 ... của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Xem nội dung VB
Khoản này bị bãi bỏ bởi Khoản 2 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này bị bãi bỏ bởi Khoản 2 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2
...
2. Bãi bỏ ... Điều 31... của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều này bị bãi bỏ bởi Khoản 2 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Khoản này bị bãi bỏ bởi Khoản 2 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2
...
2. Bãi bỏ ... khoản 3 Điều 32 ... của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Xem nội dung VB
Khoản này bị bãi bỏ bởi Khoản 2 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này bị bãi bỏ bởi Khoản 2 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2
...
2. Bãi bỏ ... Điều 85 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều này bị bãi bỏ bởi Khoản 2 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục 2 của Chương V, tại các điều 16, 58, 66 và 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục 2 của Chương V, tại các điều 16, 58, 66 và 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục 2 của Chương V, tại các điều 16, 58, 66 và 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục 2 của Chương V, tại các điều 16, 58, 66 và 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục 2 của Chương V, tại các điều 16, 58, 66 và 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục 2 của Chương V, tại các điều 16, 58, 66 và 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục 2 của Chương V, tại các điều 16, 58, 66 và 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục 2 của Chương V, tại các điều 16, 58, 66 và 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
...
b) Bỏ cụm từ "Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục 2 của Chương V, tại các điều 16, 58, 66 và 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Điều 7 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 7. Thẩm quyền ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật

1. Thủ tướng Chính phủ ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội để hướng dẫn thi hành những vấn đề mà pháp luật có quy định việc tổ chức chính trị - xã hội tham gia quản lý nhà nước và văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Thủ tướng. Trong trường hợp vắng mặt hoặc căn cứ vào các lĩnh vực được phân công cho Phó Thủ tướng, Thủ tướng có thể ủy quyền cho Phó Thủ tướng ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Điều 7 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 7 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 7. Thẩm quyền ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật
...
2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ là một bên ban hành. Trong trường hợp vắng mặt, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có thể ủy quyền cho cấp phó ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 7 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 15 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 15. Rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành phải được thường xuyên rà soát, hệ thống hoá.

2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành có liên quan đến chức năng quản lý ngành, lĩnh vực của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý ngành, lĩnh vực.

3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm:

a) Ba năm một lần, tổ chức hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực mình quản lý để lập danh mục các văn bản còn hiệu lực, hết hiệu lực thi hành, bị bãi bỏ, huỷ bỏ hoặc thay thế bởi văn bản khác; danh mục văn bản ban hành còn hiệu lực, nhưng trong đó có những quy định cần được sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ, huỷ bỏ; gửi đăng Công báo danh mục các văn bản còn hiệu lực thi hành, danh mục văn bản hết hiệu lực thi hành, bị bãi bỏ, huỷ bỏ hoặc thay thế bởi văn bản khác thuộc ngành, lĩnh vực mình quản lý.

b) Kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, huỷ bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, huỷ bỏ văn bản quy phạm pháp luật khi phát hiện trái pháp luật, không phù hợp với tình hình thực tiễn.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 15 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Điều 13 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 13. Việc dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số

1. Văn bản quy phạm pháp luật được bàn hành, công bố hoặc đăng Công báo có thể được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số.

2. Việc dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số phải bảo đảm đúng nội dung của văn bản; từ ngữ trong bản dịch phải chính xác.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào thực tiễn điều hành, quản lý nhà nước ở địa phương quyết định việc dịch và tổ chức việc dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số.

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Điều 13 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 24, 25 và 26 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 24. Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ

1. Dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trướng cơ quan ngang Bộ do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ chỉ đạo việc soạn thảo.

Đơn vị được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức tổng kết tình hình thi hành pháp luật; khảo sát đánh giá thực trạng quan hệ xã hội; nghiên cứu thông tin tư liệu có liên quan đến nội dung của dự thảo; chuẩn bị đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự thảo; tổ chức lấy ý kiến; chuẩn bị tờ trình và tài liệu có liên quan đến dự thảo theo chỉ đạo của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.

2. Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do các đơn vị khác thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ soạn thảo trước khi trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.

3. Đối với các văn bản liên tịch mà Bộ, cơ quan ngang Bộ là một bên ký ban hành thì việc soạn thảo cũng thực hiện theo các khoản 1 và 2 Điều này.

Điều 25. Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trướng cơ quan ngang Bộ về ngành, lĩnh vực quản lý của cơ quan thuộc Chính phủ theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ

1. Căn cứ vào nhu cầu quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực hoặc theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức việc soạn thảo quyết định, chỉ thị, thông tư để trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ được Thủ tướng Chính phủ phân công ký ban hành.

Đơn vị được Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức tổng kết tình hình thi hành pháp luật; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội; nghiên cứu thông tin tư liệu có liên quan đến nội dung của dự thảo; chuẩn bị đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự thảo, tổ chức lấy ý kiến; chuẩn bị tờ trình và tài liệu có liên quan đến dự thảo theo chỉ đạo của Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ.

2. Tổ chức pháp chế cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư do cơ quan mình soạn thảo.

3. Đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm giúp Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ lập hồ sơ dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ được phân công ký ban hành, hồ sơ bao gồm:

a) Bản thuyết trình chi tiết về sự cần thiết ban hành văn bản, những nội dung cơ bản của dự thảo.

b) Văn bản thẩm định của tổ chức pháp chế cơ quan thuộc Chính phủ;

c) Dự thảo văn bản đã được chỉnh lý sau khi có ý kiến thẩm định;

d) Các tài liệu liên quan (nếu có).

4. Sau 15 ngày (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của cơ quan thuộc Chính phủ về dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ được phân công ký ban hành có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức pháp chế, các đơn vị chức năng trong Bộ, cơ quan ngang Bộ xem xét khi ký ban hành.

5. Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có nhu cầu ban hành văn bản quy phạm pháp luật về ngành, lĩnh vực do mình quản lý có trách nhiệm tham mưu, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ phân công Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ký ban hành văn bản.

Điều 26. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ được giao chủ trì soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm:

1. Bảo đảm các điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo.

2. Phối hợp và tạo điều kiện cho Ban soạn thảo tổng kết tình hình thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dự án, dự thảo; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung của dự án, dự thảo; tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu, các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có liên quan đến dự án, dự thảo.

3. Phối hợp và tạo điều kiện cho Ban soạn thảo lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan và các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự án, dự thảo; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ về việc đăng tải dự án, dự thảo trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên Intemet để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

4. Chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về nội dung, chất lượng và tiến độ soạn thảo của dự án, dự thảo.

5. Chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức liên quan chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành (nếu có).

6. Thông báo với Văn phòng Chính phủ về tiến độ soạn thảo dự án, dự thảo theo định kỳ ba tháng một lần:

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 24, 25 và 26 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Mục này được hướng dẫn bởi Điều 27 và 28 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 27. Lấy ý kiến về dự án, dự thảo trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật

1. Dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được đưa ra lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định này.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quyết định việc đưa ra lấy ý kiến đối với những dự án, dự thảo được giao chủ trì soạn thảo sau khi được tập thể lãnh đạo cơ quan xem xét, nhất trí.

Đối với những dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi tới Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam để lấy ý kiến của các doanh nghiệp.

Trong thời hạn 20 (hai mươi) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phải tổ chức lấy ý kiến của các doanh nghiệp, tổng hợp và gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được phân công chủ trì soạn thảo.

3 . Tuỳ theo tính chất của dự án, dự thảo, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc lấy ý kiến tổ chức, cá nhân theo đề nghị của cơ quan chủ trì soạn thảo.

Điều 28. Phương thức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật

1. Việc lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật về nội dung của dự án, dự thảo được thực hiện bằng hình thức: lấy ý kiến trực tiếp; tổ chức các hội nghị, hội thảo; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và Intemet.

2. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền lấy ý kiến có trách nhiệm chuẩn bị những vấn đề cần xin ý kiến, gợi ý thảo luận kèm theo dự án, dự thảo và xác định cụ thể địa chỉ nhận ý kiến trong trường hợp lấy ý kiến thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và Intemet.

3. Thời gian lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật ít nhất là 20 (hai mươi) ngày làm việc, kể từ ngày đưa dự án, dự thảo ra lấy ý kiến.

Xem nội dung VB
Mục này được hướng dẫn bởi Điều 27 và 28 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Mục này được hướng dẫn bởi Điều 27 và 28 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 27. Lấy ý kiến về dự án, dự thảo trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật

1. Dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được đưa ra lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định này.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quyết định việc đưa ra lấy ý kiến đối với những dự án, dự thảo được giao chủ trì soạn thảo sau khi được tập thể lãnh đạo cơ quan xem xét, nhất trí.

Đối với những dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi tới Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam để lấy ý kiến của các doanh nghiệp.

Trong thời hạn 20 (hai mươi) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phải tổ chức lấy ý kiến của các doanh nghiệp, tổng hợp và gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được phân công chủ trì soạn thảo.

3 . Tuỳ theo tính chất của dự án, dự thảo, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc lấy ý kiến tổ chức, cá nhân theo đề nghị của cơ quan chủ trì soạn thảo.

Điều 28. Phương thức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật

1. Việc lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật về nội dung của dự án, dự thảo được thực hiện bằng hình thức: lấy ý kiến trực tiếp; tổ chức các hội nghị, hội thảo; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và Intemet.

2. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền lấy ý kiến có trách nhiệm chuẩn bị những vấn đề cần xin ý kiến, gợi ý thảo luận kèm theo dự án, dự thảo và xác định cụ thể địa chỉ nhận ý kiến trong trường hợp lấy ý kiến thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và Intemet.

3. Thời gian lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật ít nhất là 20 (hai mươi) ngày làm việc, kể từ ngày đưa dự án, dự thảo ra lấy ý kiến.

Xem nội dung VB
Mục này được hướng dẫn bởi Điều 27 và 28 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 29 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 29. Chuẩn bị trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

1. Dự án, dự thảo được trình Chính phủ phải kèm theo dự thảo văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành (nếu có) theo quy định tại Điều 7 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

2. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

3. Trong trường hợp Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp và cơ quan chủ trì soạn thảo thống nhất ý kiến để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dự án, dự thảo thì quy trình tiếp theo được quy đính như sau:

a) Đối với dự án luật, pháp lệnh; dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo tổ chức cuộc họp để giới thiệu nội dung của dự án, dự thảo với đại diện của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan, tổ chức liên quan.

Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày tổ chức cuộc họp giới thiệu dự án, dự thảo, các cơ quan, tổ chức phải nghiên cứu, gửi ý kiến tham gia bằng văn bản đến cơ quan chủ trì soạn thảo, Văn phòng Chính phủ để tổng hợp, hoàn thiện dự án, dự thảo trình Chính phủ.

Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức để chỉnh lý dự án, dự thảo trước khi gửi đến Bộ Tư pháp để thẩm định.

b) Đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý dự thảo trên cơ sở tiếp thu ý kiến của Văn phòng Chính phủ, các cơ quan, tổ chức liên quan trước khi gửi đến Bộ Tư pháp để thẩm định theo quy định của pháp luật.

c) Đối với dự thảo nghị quyết phiên họp thường kỳ của Chính phủ có chứa quy phạm pháp luật, nghị định của Chính phủ về thành lập mới, nhập, chia tách và điều chỉnh địa giới hành chính, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp hoặc ban hành để giải quyết những vấn đề đột xuất thì cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý dự thảo trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các Thành viên Chính phủ và Văn phòng Chính phủ trước khi trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành.

Trong trường hợp Văn phòng Chính phủ là cơ quan được giao chủ trì soạn thảo những văn bản nói trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ quyết định việc lấy ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; chỉ đạo chỉnh lý dự thảo trên cơ sở tiếp thu ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp và ý kiến thẩm tra của các đơn vị chuyên môn trong Văn phòng Chính phủ trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành.

4. Trong trường hợp Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp và cơ quan chủ trì soạn thảo không thống nhất ý kiến để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dự án, dự thảo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này thì Văn phòng Chính phủ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 29 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 39 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 39. Xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chỉnh lý dự thảo nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh

1. Đối với dự thảo nghị định được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trước khi Chính phủ ban hành, Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với các cơ quan được giao chủ trì soạn thảo chuẩn bị hồ sơ dự thảo để xin ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

2. Hồ sơ dự thảo nghị định trình xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm có:

a) Dự thảo nghị định;

b) Tờ trình của Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ ký. Trong tờ trình phải nêu rõ sự cần thiết ban hành, mục đích, yêu cầu, phạm vi, đối tượng và nội dung chính của dự thảo, những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau;

c) Những tài liệu liên quan khác (nếu có).

3. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu, hoàn chỉnh dự thảo theo ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để trình Chính phủ.

4. Trong quá trình soạn thảo, cơ quan chủ trì soạn thảo phải mời đại diện các Ủy ban có liên quan của Quốc hội tham gia soạn thảo, góp ý kiến về dự thảo nghị định.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 39 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 40 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 40. Bảo đảm kinh phí lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết; kinh phí xây dựng, thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và kinh phí rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật

1. Kinh phí lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định; kinh phí xây dựng, thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật cấp từ ngân sách nhà nước và được bố trí trong dự toán chi thường xuyên của cơ quan lập dự kiến chương trình, cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; kinh phí hỗ trợ xây dựng dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được thông báo cho từng dự án, dự thảo và cấp cho cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, thẩm tra.

2. Cơ quan lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định; cơ quan chủ trì soạn thảo; cơ quan thẩm định; thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; cơ quan rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm lập dự trù kinh phí xây dựng văn bản trong tổng dự toán chi ngân sách của cơ quan và thực hiện đúng mục đích, tiến độ theo dự toán, nhiệm vụ đã được phê duyệt.

3. Bộ Tài chính có trách nhiệm cấp kinh phí đầy đủ, đúng thời hạn cho việc lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định; xây dựng, thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 40 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Điều 17, 19 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 17. Lập dự kiến và trình Chính phủ chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

1. Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập Hội đồng lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh có sự tham gia của đại điện Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, cơ quan, tổ chức có đề nghị, kiến nghị và các cơ quan, tổ chức liên quan khác để xem xét dự thảo Dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

Hội đồng lập dự kiến làm việc theo nguyên tắc tập thể, biểu quyết theo đa số.

Trên cơ sở ý kiến của Hội đồng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định trình Chính phủ dự thảo Dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

2. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm thẩm tra đối với dự thảo Dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh do Bộ Tư pháp trình; gửi dự thảo Dự kiến cùng báo cáo thẩm tra đến thành viên Chính phủ để lấy ý kiến và tổng hợp ý kiến, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đưa ra phiên họp Chính phủ.

3. Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ chỉnh lý Dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến tại phiên họp tháng 8 hàng năm.

4. Sau khi Chính phủ thông qua, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, thừa ủy quyền Thủ tướng thay mặt Chính phủ trình Dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

5. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan lập kế hoạch triển khai chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

6. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm gửi quyết định triển khai chương trình xây dựng luật, pháp lệnh tới Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ để thực hiện.
...
Điều 19. Chuẩn bị ý kiến của Chính phủ về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các cơ quan, tổ chức; đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội

1. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm tập hợp đầy đủ các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan (trừ Chính phủ), tổ chức và đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội gửi Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan để lấy ý kiến.

2. Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản tập hợp đề nghị, kiến nghị xây dựng về luật, pháp lệnh do Văn phòng Chính phủ gửi, Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan phải có ý kiến bằng văn bản gửi tới Văn phòng Chính phủ để tập hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

3. Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được ý kiến của Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan, Văn phòng Chính phủ tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

4. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ có ý kiến bằng văn bản gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội về đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các cơ quan (trừ Chính phủ), tổ chức và đại biểu Quốc hội.

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Điều 17, 19 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 30 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 30. Tổ chức góp ý kiến tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Khi nhận được dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan chủ trì soạn thảo đề nghị góp ý kiến, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ phải chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc thảo luận, góp ý kiến về dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là đầu mối tổ chức thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ về việc thảo luận, góp ý kiến; tổng hợp, chuẩn bị văn bản góp ý kiến của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ:.

Văn bản góp ý kiến về dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải do người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ký.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 30 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 30 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 30. Tổ chức góp ý kiến tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Khi nhận được dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan chủ trì soạn thảo đề nghị góp ý kiến, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ phải chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc thảo luận, góp ý kiến về dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là đầu mối tổ chức thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ về việc thảo luận, góp ý kiến; tổng hợp, chuẩn bị văn bản góp ý kiến của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ:.

Văn bản góp ý kiến về dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải do người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ký.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 30 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Mục này được hướng dẫn bởi Điều 34 đến Điều 38 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
...
Điều 34. Chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

1. Đối với dự án luật, pháp lệnh; dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ còn những vấn đề có ý kiến khác nhau giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ triệu tập cuộc họp gồm đại diện lãnh dạo của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để giải quyết những vấn đề còn ý kiến khác nhau trước khi trình Chính phủ xem xét, quyết định.

2. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm tổng hợp các ý kiến tại cuộc họp đại diện lãnh đạo của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

3. Căn cứ vào ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với Văn phòng Chính Phủ, Bộ Tư pháp hoàn chỉnh dự án, dự thảo trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Điều 35. Hồ sơ dự án, dự thảo trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

1. Hồ sơ dự án, dự thảo trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (trừ trường hợp dự án, dự thảo được tiếp tục chỉnh lý theo quy định tại Điều 34 của Nghị định này) bao gồm:

a) Tờ trình Chính phủ về dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định sau khi tiếp thu ý kiến thẩm định, được người đứng đầu cơ quan ký và đóng dấu; tờ trình Thủ tướng Chính phủ về dự thảo quyết định, chỉ thị sau khi tiếp thu ý kiến thẩm định được người đứng đầu cơ quan ký và đóng dấu;

b) Dự án, dự thảo đã được chỉnh lý sau khi đã tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định;

c) Báo cáo thẩm định;

d) Báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến thẩm định theo quy định tại Điều 33 Nghị định này;

đ) Các tài liệu khác có liên quan (nếu có);

e) Dự thảo văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành (nếu có).

2. Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh; dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị quyết, nghị định của Chính phủ được tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện theo quy định tại Điều 34 của Nghị định này bao gồm:

a) Tờ trình Chính phủ về dự án, dự thảo sau khi tiếp thu ý kiến của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, do người đứng đầu cơ quan soạn thảo ký và đóng dấu;

b) Dự án, dự thảo sau khi tiếp thu ý kiến của đại diện lãnh đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

c) Bản tổng hợp ý kiến về dự án, dự thảo của đại diện lãnh đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

d) Báo cáo thẩm định;

đ) Các tài liệu khác có liên quan (nếu có);

e) Dự thảo các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành (nếu có).

3. Số lượng hồ sơ dự án, dự thảo trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ:

a) Số lượng hồ sơ dự án luật, pháp lệnh; dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị quyết, nghị định trình Chính phủ là 80 bộ;

b) Số lượng hồ sơ dự thảo quyết định, chỉ thị trình Thủ tướng Chính phủ là 05 bộ.

Điều 36. Trách nhiệm của Văn phòng Chính phủ trong việc chuẩn bị nội dung thảo luận về dự án, dự thảo tại phiên họp Chính phủ

Trong việc chuẩn bị nội dung thảo luận về dự án, dự thảo tại phiên họp Chính phủ, Văn phòng Chính phủ có trách mhiệm nêu đầy đủ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau và ý kiến thẩm định của Bộ Tư nháp, ý kiến thẩm tra của Văn phòng Chính phủ để các Thành viên Chính phủ xem xét, thảo luận.

Điều 37. Chỉnh lý dự án, dự thảo sau khi Chính phủ thảo luận, thông qua

1. Sau khi Chính phủ thảo luận, thông qua dự án luật, pháp lệnh; dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan chủ trì soạn thảo chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan hoàn chỉnh dự án, dự thảo và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

2. Sau khi Chính phủ cho ý kiến, thông qua dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ và sau khi Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc ký ban hành quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan có liên quan hoàn chỉnh về mặt kỹ thuật dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ trước khi trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành.

Điều 38. Chính phủ tham gia ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh; dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội do các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội soạn thảo

1. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết và những tài liệu có liên quan do các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội soạn thảo gửi Chính phủ tham gia ý kiến, Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm gửi các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ để lấy ý kiến.

2. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm gửi văn bản tham gia ý kiến về những nội dung của dự án, dự thảo đến Văn phòng Chính phủ.

3. Trên cơ sở văn bản tham gia ý kiến của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chính phủ tổng hợp, hoàn chỉnh và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định văn bản tham gia ý kiến của Chính phủ; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ ký văn bản tham gia ý kiến của Chính phủ về các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết và gửi cho cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết đó.

Xem nội dung VB
Mục này được hướng dẫn bởi Điều 34 đến Điều 38 Nghị định 161/2005/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 20/04/2009)
- Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hướng dẫn bởi Nghị định 104/2004/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 15/11/2010)

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002
...
Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của Nghị định
...
Điều 2. Vị trí, chức năng của Công báo
...
Điều 3. Cơ quan Công báo
...
Điều 4. Nguyên tắc đăng văn bản trên Công báo
...
Điều 5. Các văn bản đăng trên Công báo ở Trung ương
...
Điều 6. Các văn bản đăng trên Công báo xuất bản ở cấp tỉnh
...
Điều 7. Giá trị pháp lý và thời điểm có hiệu lực của văn bản đăng trên Công báo
...
Chương 2: THỜI HẠN VÀ THỦ TỤC GỬI, TIẾP NHẬN, ĐĂNG KÝ VĂN BẢN ĐỂ ĐĂNG CÔNG BÁO

Điều 8. Thời hạn gửi văn bản để đăng Công báo
...
Điều 9. Thủ tục gửi, tiếp nhận, đăng ký văn bản để đăng Công báo
...
Chương 3: TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN BAN HÀNH VĂN BẢN ĐỐI VỚI VIỆC ĐĂNG VĂN BẢN TRÊN CÔNG BÁO

Điều 10. Trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản trong việc gửi văn bản để đăng Công báo
...
Điều 11. Trách nhiệm của cơ quan Công báo trong việc đăng văn bản
...
Điều 12. Đính chính văn bản trên Công báo
...
Chương 4: TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG BÁO

Điều 13. Tổ chức của Công báo
...
Điều 14. Hoạt động xuất bản, phát hành Công báo
...
Điều 15. Quản lý nhà nước về Công báo
...
Chương 5: KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

Điều 16. Mọi tổ chức, cá nhân đều phải có trách nhiệm thực hiện tốt các quy định của Nghị định về Công báo. Tổ chức, cá nhân thực hiện xuất sắc các quy định của Nghị định này sẽ được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Điều 17. Tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định pháp luật về hoạt động Công báo theo Nghị định này và các quy định pháp luật khác có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Điều 18. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại về các hành vi vi phạm quy định của Nghị định này và các quy định pháp luật khác có liên quan đến hoạt động Công báo.

Điều 19. Cá nhân có quyền tố cáo các hành vi vi phạm quy định của Nghị định này và các quy định pháp luật khác có liên quan đến hoạt động Công báo.

Điều 20. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động xuất bản, phát hành Công báo được thực hiện theo các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Chương 6: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 21. Hiệu lực thi hành
...
Điều 22. Trách nhiệm thi hành

Xem nội dung VB
Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hướng dẫn bởi Nghị định 104/2004/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 15/11/2010)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:

a) Bỏ cụm từ "cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Chương V, tại các điều 18, 71, 72, 74 và khoản 2 Điều 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
- Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)

Điều 2

1. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:

a) Bỏ cụm từ "cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Chương V, tại các điều 18, 71, 72, 74 và khoản 2 Điều 84;

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị hủy bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002 (VB hết hiệu lực: 01/01/2009)
Bản Tiếng Anh (English)
Văn bản gốc
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 52-L/CTN   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Lê Đức Anh
Ngày ban hành: 12/11/1996   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 31/01/1997   Số công báo: Số 2
Lĩnh vực: Xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996

1.525

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
40086