• Lữu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Các luật, bộ luật về Thương mại, đầu tư, chứng khoán

Luật chứng khoán sửa đổi 2010

Bản Tiếng Việt
Bản Tiếng Anh (English)
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 62/2010/QH12   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Nguyễn Phú Trọng
Ngày ban hành: 24/11/2010   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 02/04/2011   Số công báo: Từ số 167 đến số 168
Lĩnh vực: Thương mại, đầu tư, chứng khoán   Tình trạng: Đã biết

Luật chứng khoán sửa đổi 2010 được Quốc hội ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2010.

Những nội dung cơ bản Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán 2010.

Bổ sung phạm vi điều chỉnh. Mở rộng phạm vi điều chỉnh bao gồm cả hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ để có căn cứ pháp lý quy định về chào bán chứng khoán riêng lẻ (bổ sung Điều 1).

Các doanh nghiệp chào bán chứng khoán riêng lẻ bao gồm cả công ty đại chúng và công ty chưa phải là đại chúng, vì vậy, quy định pháp luật đối với hai nhóm đối tượng này là khác nhau. Đối với công ty không phải là công ty đại chúng, việc chào bán chứng khoán riêng lẻ được thực hiện theo Luật Doanh nghiệp, đối với công ty đại chúng cần được quy định trong Luật Chứng khoán.

Bổ sung nội hàm khái niệm “chứng khoán” thuật ngữ về các loại chứng khoán mới là “hợp đồng góp vốn đầu tư” và “các loại chứng khoán mới theo quy định của Bộ Tài chính”. Việc bổ sung “Hợp đồng góp vốn đầu tư” là sản phẩm chứng khoán nhằm đáp ứng nhu cầu huy động vốn cho nền kinh tế đang đòi hỏi hiện nay thông qua hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ được bán chủ yếu cho nhà đầu tư chuyên nghiệp; không tổ chức công bố thông tin công khai. Vì vậy, Luật quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần, trái phiếu chuyển đổi chào bán riêng lẻ tối thiểu 1 năm nhằm ngăn chặn hành vi lợi dụng phát hành cho số lượng hạn chế rồi chào bán tiếp ra công chúng.

Các đợt chào bán cổ phần, trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ phải cách nhau ít nhất sáu tháng, vì trái phiếu chuyển đổi có thể chuyển thành cổ phiếu nên việc đưa ra quy định này nhằm ngăn ngừa việc lợi dụng chào bán riêng lẻ cho những đối tượng nhất định dẫn đến pha loãng sở hữu của các cổ đông khác; đồng thời, quy định này còn để đảm bảo nâng cao trách nhiệm doanh nghiệp trong việc huy động và sử dụng vốn.

Về chào bán chứng khoán ra công chúng. Quy định điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng theo hướng khi đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng, các doanh nghiệp phải cam kết đưa chứng khoán chào bán ra công chúng niêm yết, đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán có tổ chức trong thời hạn một năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán.

Về quản trị công ty đại chúng. Sửa đổi theo hướng quy định nguyên tắc chung về quản trị công ty đối với các công ty đại chúng (cả công ty niêm yết và công ty đại chúng chưa niêm yết) và giao Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể về quản trị công ty thay vì chỉ điều chỉnh đối với công ty đại chúng đã niêm yết trước đây.

Về chào mua công khai. Sửa đổi, bổ sung Điều 32 Luật Chứng khoán theo hướng quy định cụ thể các trường hợp phải chào mua công khai, và các trường hợp ngoại trừ không phải chào mua công khai để đảm bảo rõ ràng trong việc thực thi, như: việc mua hoặc nhận cổ phần dẫn đến sở hữu trên 25% nhưng đã được đại hội đồng cổ đông thông qua; chuyển nhượng cổ phần giữa các công ty trong doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình công ty mẹ, công ty con,... Dựa vào nguyên tắc trên giao Chính phủ quy định cụ thể về trình tự, thủ tục chào mua công khai.

Về cơ sở pháp lý cho quản lý và tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán và liên kết thị trường chứng khoán với các quốc gia khác. Luật bổ sung quy định về thẩm quyền của Chính phủ trong việc quy định giao dịch các loại chứng khoán khác ngoài các giao dịch chứng khoán đủ điều kiện niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán (sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 33 Luật Chứng khoán). Bên cạnh đó, Luật bổ sung quy định Sở giao dịch chứng khoán được thực hiện liên kết với các Sở giao dịch chứng khoán của các quốc gia khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ (bổ sung khoản 4 Điều 33 Luật Chứng khoán) nhằm tạo căn cứ pháp lý để Việt Nam triển khai thực hiện các cam kết về hội nhập thị trường chứng khoán.

Về công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ. Luật này bổ sung quy định về nghiệp vụ kinh doanh của công ty quản lý quỹ nhằm phù hợp với thực tế hoạt động cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán... Hoạt động này về bản chất là hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán thuộc nghiệp vụ của công ty chứng khoán và pháp luật các nước đều cho phép công ty quản lý quỹ được thực hiện.

Bên cạnh đó, luật cũng bổ sung quy định cấm việc thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán khi chưa được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép hoặc chấp thuận vào Điều 9.

Về các hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các hoạt động tài chính khác của công ty chứng khoán:Luật sửa đổi khoản 3 Điều 60 cho phép công ty chứng khoán được phép nhận ủy thác của khách hàng , cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và dịch vụ tài chính khác theo quy định của Bộ Tài chính.

Về việc chỉnh sửa quy định chỉ tiêu an toàn tài chính: Luật sửa đổi Điều 74 để bổ sung thêm quy định về chỉ tiêu an toàn tài chính và giao Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể.

Về quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng đầu tư vào bất động sản: Theo thông lệ quốc tế, Quỹ đầu tư bất động sản được thành lập với mục tiêu chủ yếu là đầu tư vào bất động sản với tỷ lệ không hạn chế nhằm mục tiêu lợi nhuận. Việc hình thành, phát triển quỹ đầu tư bất động sản sẽ tăng cường năng lực tài chính và đảm bảo tính chuyên nghiệp trong việc đầu tư.

Để khơi thông nguồn vốn cho đầu tư bất động sản và phù hợp với thông lệ quốc tế, bổ sung thêm”ngoại trừ đối với quỹ đầu tư bất động sản” tại điểm d khoản 1 Điều 92 Luật Chứng khoán. Với quy định này, hạn chế tỷ lệ đầu tư 10% giá trị tài sản của quỹ vào bất động sản sẽ không áp dụng đối với quỹ đầu tư bất động sản.

Về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Luật bổ sung đối tượng công bố thông tin (Trung tâm lưu ký chứng khoán, người có liên quan) (bổ sung vào khoản 1 Điều 100). Sửa đổi bổ sung Điều 101 Luật Chứng khoán theo hướng yêu cầu công bố thông tin theo quy mô của công ty đại chúng (mức vốn điều lệ, số lượng cổ đông của công ty) mà không phân biệt giữa công ty đại chúng và tổ chức niêm yết nhằm đảm bảo tất cả các công ty quy mô vốn lớn đều phải thực hiện công bố thông tin đầy đủ và ở mức cao hơn so với công ty có quy mô vốn nhỏ.

Luật chứng khoán sửa đổi 2010 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2011.

Từ khóa: Luật chứng khoán sửa đổi 2010

2.261

Thành viên
Đăng nhập bằng Google