• Lữu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Luật đất đai 2013


Văn bản pháp luật về Luật Nhà ở

Luật đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân 1957

Tải về Luật 103-SL/L.005
Bản Tiếng Việt

LUẬT

SỐ 103-SL/L.005 NGÀY 20-5-1957 ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ DO THÂN THỂ VÀ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM ĐỐI VỚI NHÀ Ở, ĐỒ VẬT, THƯ TÍN CỦA NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

RA SẮC LỆNH

Nay ban bố luật quy định quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân đã được Quốc hội biểu quyết trong khoá họp thứ VI như sau:

LUẬT

ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ DO THÂN THỂ VÀ QUYỀN BẤT KHẢ  XÂM PHẠM ĐỐI VỚI NHÀ Ở, ĐỒ VẬT, THƯ TÍN CỦA NHÂN DÂN

Chương 1:

NGUYÊN TẮC

Điều 1. Quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm. Không ai được xâm phạm các quyền ấy.

Điều 2. Việc bắt, giam người phạm đến pháp luật Nhà nước, việc khám người, nhà ở, đồ vật, thư tín phải theo thủ tục quy định dưới đây:

Chương 2:

VIỆC BẮT NGƯỜI PHẠM PHÁP

Điều 3. Ngoài những trường hợp phạm pháp quả tang và trường hợp khẩn cấp nói trong điều 4, bắt người phạm đến pháp luật Nhà nước phải có lệnh viết của cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên nếu là thường dân phạm pháp, hoặc của toà án binh nếu là quân nhân phạm pháp, hay là thường dân phạm pháp có liên quan đến quân đội nhân dân.

Điều 4. Đối với những người phạm pháp quả tang, bất cứ người nào cũng có quyền bắt và phải giải ngay đến Uỷ ban Hành chính, Toà án nhân dân hoặc đồn công an nơi gần nhất.

Trong những trường hợp khẩn cấp, cơ quan công an có thể bắt giữ trước khi có lệnh viết của các cơ quan định trong điều 3, và phải báo cho các cơ quan đó biết.

Những trường hợp phạm pháp quả tang và trường hợp khẩn cấp là những trường hợp đặc biệt do luật quy định.

Chương 3:

VIỆC TẠM GIỮ, TẠM GIAM, TẠM THA

Điều 5. Người phạm pháp bị bắt phải được giải lên cơ quan tư pháp hoặc cơ quan công an từ cấp huyện trở lên trong hạn hai mươi bốn giờ kể từ lúc bắt.

Cơ quan tư pháp huyện hoặc công an huyện được tạm giữ can phạm trong hạn ba ngày kể từ lúc nhận can phạm để xét và hỏi cung, rồi phải quyết định tha hẳn, tạm tha, hoặc giải lên toà án nhân dân hoặc công an cấp trên.

Điều 6. Cơ quan tư pháp, công an từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên hoặc toà án binh phải hỏi cung trong hạn ba ngày kể từ lúc nhận giữ can phạm, để quyết định việc tha hẳn, tạm tha hoặc tạm giam.

Lệnh tạm giam can phạm do cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên hoặc toà án binh ký.

Điều 7. Thời hạn tạm giam không được quá:

- Hai tháng đối với các vụ thường phạm mà luật pháp quy định hình phạt từ năm năm tù trở xuống.

- Bốn tháng đối với các vụ phạm đến an toàn Nhà nước và các vụ thường phạm mà luật pháp quy định hình phạt trên năm năm tù.

- Nếu xét thật cần thiết cho cuộc điều tra thì cơ quan ra lệnh tạm giam có thể gia hạn một hoặc hai lần nữa. Đối với những vụ án phức tạp, cần phải điều tra lâu hơn, thì phải được sự chuẩn y của cơ quan tư pháp trung ương.

Điều 8. Trong trường hợp việc tạm giam không cần thiết cho cuộc điều tra nữa, hoặc việc tạm tha không gây nguy hiểm gì cho trật tự chung, thì cơ quan tư pháp hoặc toà án binh nào đã ra lệnh tạm giam có thể tự mình, hoặc căn cứ vào đơn xin của can phạm, ra lệnh tạm tha.

Đối với những can phạm già yếu, có bệnh nặng, hoặc phụ nữ có thai nghén, hoặc phụ nữ đang thời kỳ cho con bú, thì có thể cho tạm tha, và nếu cần sẽ giám thị tại chỗ ở.

Chương 4:

VIỆC KHÁM NGƯỜI, KHÁM ĐỒ VẬT, KHÁM NHÀ Ở VÀ THƯ TÍN

Điều 9. Trừ những trường hợp định ở điều 10 và điều 11, khám người, đồ vật hoặc nhà ở, thư tín của tư nhân thì phải có lệnh viết của cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên hoặc của toà án binh, tuỳ tính chất vụ phạm pháp.

Điều 10. Trong những trường hợp phạm pháp quả tang, hoặc tiến hành điều tra vụ án mà can phạm đang bị tạm giữ, hoặc tạm giam, hoặc được uỷ quyền điều tra toàn bộ vụ phạm pháp, tư pháp, công an, toà án binh có thể khám người, đồ vật, nhà ở, thư tín của người phạm pháp và những người có liên quan đến vụ án.

Điều 11. Trong những trường hợp khẩn cấp, hoặc có triệu chứng phạm pháp, công an có thể khám người, đồ vật, nhà ở, thư tín.

Điều 12. Trừ những trường hợp định ở điều 10 và điều 11, nhân viên thi hành lệnh khám nhà phải cùng đi với một uỷ viên Uỷ ban Hành chính địa phương, người chủ nhà hoặc thay mặt chủ nhà và một người láng giềng, khi khám xong phải lập biên bản khám xét và giữ tang vật nếu có.

Điều 13. Cơ quan đang tiến hành cuộc điều tra nếu thấy cần giữ lại những thư từ, điện tín, bưu phẩm của những người phạm pháp, thì có thể yêu cầu cơ quan bưu điện giao lại để xét.

Chương 5:

ĐIỀU KHOẢN CHUNG

Điều 14. Đối với những người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, tuyệt đối nghiêm cấm tra tấn hoặc dùng bất cứ nhục hình nào.

Điều 15. Trong khi tiến hành việc bắt, tạm giữ, tạm giam, khám người, khám đồ vật, khám nhà và thư tín, mà người phạm pháp kháng cự lại hoặc có hành động để trốn tránh pháp luật thì có thể dùng phương pháp cưỡng chế thích đáng để bắt kẻ phạm pháp tuân theo pháp luật.

Điều 16. Những người bắt, giam, khám người, khám đồ vật, nhà ở, thư tín trái với đạo luật này thì tuỳ trường hợp có thể bị thi hành kỷ luật hành chính hoặc xử phạt từ mười lăm ngày đến ba năm tù.

Nếu phạm tội tra tấn, dùng nhục hình thì sẽ bị xử phạt thêm theo hình luật chung.

Điều 17. Việc tạm giữ người phạm tội vi cảnh và quyền hạn của cán bộ, nhân viên các ngành thuế, ngành hải quan, lâm chính trong việc khám người, đồ vật, nhà ở không thuộc phạm vi của đạo luật này.

Điều 18. Tất cả luật lệ nào trái với luật này đều bãi bỏ.

Điều 19. Chính phủ quy đinh chi tiết thi hành luật này.

 

 

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

 

- Thẩm quyền ký lệnh bắt người phạm pháp được hướng dẫn bởi Điều 1 Nghị định 301-TTg năm 1957

Căn cứ Luật số 103/SL-L005 ngày 20 tháng 5 năm 1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân
...
Điều 1: Ngoài những trường hợp phạm pháp quả tang và những trường hợp khẩn cấp nói ở Điều 4 Luật số 103/SL-L005 ngày 20 tháng 5 năm 1957 và được quy định cụ thể ở Điều 1 và 2 Sắc luật số 002/SLT ngày 18 tháng 6 năm 1957, những cán bộ sau đây được ký lệnh bắt người phạm pháp luật Nhà nước:

a) Việc thuộc thẩm quyền Toà án nhân dân:

- Công tố uỷ viên, phó công tố uỷ viên, thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh hoặc thành phố trở lên được tạm uỷ quyền giữ nhiệm vụ công tố trong khi công tố uỷ viên và phó công tố uỷ viên vắng mặt, hoặc được uỷ quyền đi điều tra vụ án ở một địa điểm xa trụ sở Toà án nhân dân tỉnh hoặc thành phố.

- Chánh án, phó Chánh án, thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh hoặc thành phố trở lên được uỷ quyền làm chủ toạ phiên toà đối với những vụ án đem xét xử tại phiên toà ấy. Chủ toạ phiên toà được ký lệnh bắt sau khi đã hỏi ý kiến công tố uỷ viên và được các hội thẩm nhân dân thoả thuận.

b) Việc thuộc thẩm quyền Toà án binh:

- Cục trưởng hoặc Cục phó Cục quân pháp.

- Công tố uỷ viên hoặc công tố uỷ viên Toà án binh các cấp, cán bộ công tố được Cục trưởng Cục quân pháp hoặc công tố uỷ viên Toà án binh uỷ quyền giữ nhiệm vụ công tố trong khi công tố uỷ viên và phó công tố uỷ viên vắng mặt, hoặc được uỷ quyền đi điều tra vụ án ở một địa điểm xa cơ quan mình.

- Chánh án, phó Chánh án, cán bộ thẩm phán được uỷ quyền làm chủ toạ phiên toà, đối với những vụ án đem xét xử tại phiên toà ấy. Chủ toạ phiên toà được ký lệnh bắt sau khi đã hỏi ý kiến công tố uỷ viên và được các hội thẩm Toà án binh thoả thuận.

Lệnh bắt phải ghi rõ lý do và đọc cho người bị bắt nghe.

Xem nội dung VB
Thẩm quyền ký lệnh bắt người phạm pháp được hướng dẫn bởi Điều 1 Nghị định 301-TTg năm 1957
- Nội dung này hướng dẫn bởi Điều 2 và 3 Nghị định 301-TTg năm 1957

Căn cứ Luật số 103/SL-L005 ngày 20 tháng 5 năm 1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân
...
Điều 2: Trong những trường hợp khẩn cấp quy định ở Điều 2 Sắc luật số 002/SLT ngày 18 tháng 6 năm 1957, những cán bộ công an sau đây có quyền bắt giữ hoặc ra lệnh giữ người phạm pháp luật Nhà nước:

- Trưởng đội tuần tra;

- Trưởng đồn, phó đồn công an;

- Trưởng công an huyện, châu, phó công an huyện, châu;

- Trưởng quận công an, phó quận công an;

- Trưởng ban, phó ban ở Ty công an;

- Trưởng Ty, phó Ty công an;

- Trưởng phòng, phó phòng ở Sở công an thành phố, ở công an khu hoặc liên khu;

- Giám đốc, phó giám đốc Sở công an thành phố; giám đốc, phó giám đốc công an khu hoặc liên khu;

- Giám đốc, phó Giám đốc Vụ, Cục ở Bộ Công an.

Trong hạn hai mươi bốn giờ sau khi bắt giữ người phạm pháp, thì trưởng đội tuần tra, trưởng đồn, phó đồn công an, trưởng công an huyện, châu, phó công an huyện, châu, trưởng Quận công an, phó Quận công an phải kiểm tra soát căn cước, sơ bộ hỏi cung can phạm và gửi báo cáo viết cho trưởng Ty công an hoặc giám đốc Sở công an thành phố.

Trong thời hạn ba ngày kể từ khi giữ can phạm, trưởng Ty, phó Ty công an, giám đốc, phó giám đốc Sở công an thành phố, giám đốc, phó giám đốc công an khu hoặc liên khu, giám đốc, phó giám đốc các Vụ, Cục ở Bộ Công an phải báo cáo cho cơ quan tư pháp cấp tương đương biết.

Điều 3: Trong các trường hợp khẩn cấp, nếu cán bộ công an nói ở Điều 2 trên đây không có mặt tại chỗ xảy ra vụ phạm pháp thì những cán bộ sau đây thuộc bộ đội bảo vệ và bộ đội quốc phòng có quyền bắt giữ người phạm pháp luật Nhà nước:

a) Đội trưởng đang chỉ huy đội tuần tra kiểm soát của bộ đội bảo vệ;

b) Đội trưởng đang chỉ huy đội tuần tra biên phòng;

c) Ban chỉ huy đồn biên phòng;

d) Thủ trưởng đơn vị bộ đội bảo vệ từ cấp đại đội trở lên;

đ) Thủ trưởng đơn vị bộ đội quốc phòng từ cấp đại đội trở lên trong khi đơn vị ấy làm nhiệm vụ cuả bộ đội bảo vệ;

e) Thủ trưởng các cơ quan và đơn vị bộ đội quốc phòng từ cấp trung đoàn trở lên, hoặc tiểu đoàn độc lập, đại đội độc lập khi vụ phạm pháp xảy ra trong khu vực đóng quân hoặc trong phạm vi doanh trại quân đội.

Đối với các vụ phạm pháp thuộc thẩm quyền Toà án nhân dân thì trong hạn hai mươi bốn giờ phải giải can phạm lên cơ quan công an nơi gần nhất để tiếp tục điều tra.

Đối với các vụ phạm pháp thuộc thẩm quyền Toà án binh, thì trong hạn hai mươi bốn giờ phải giải can phạm lên Toà án binh nơi gần nhất.

Xem nội dung VB
Nội dung này hướng dẫn bởi Điều 2 và 3 Nghị định 301-TTg năm 1957
- Chương này được hướng dẫn bởi Chương 2 Nghị định 301-TTg năm 1957

Căn cứ Luật số 103/SL-L005 ngày 20 tháng 5 năm 1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân
...
Chương 2: VIỆC TẠM GIỮ, TẠM GIAM, TẠM THA

Điều 4: Lệnh tạm giữ người phạm pháp phải ghi rõ lý do ngày hết hạn tạm giữ và phải đọc cho can phạm nghe.

Trong hạn hai mươi bốn giờ kể từ lúc tạm giữ can phạm, thẩm phán Toà án nhân dân huyện, châu, công an huyện, châu hoặc đồn công an trở lên, cán bộ quân đội có trách nhiệm điều tra vụ phạm pháp, phải hỏi cung can phạm.

Điều 5: Trong trường hợp cơ quan tư pháp hoặc công an thi hành lệnh bắt người của một Toà án nhân dân, một Toà án binh, hoặc của Cục Quân pháp, thì sau khi kiểm soát căn cước người bị bắt, phải cho giải ngay người ấy đến cơ quan đã ký lệnh bắt. Trong trường hợp cơ quan công an đương tiến hành điều tra một vụ phạm pháp đã được Toà án nhân dân ký lệnh bắt người phạm pháp thì người bị bắt phải được giải thẳng đến cơ quan công an ấy để xét hỏi.

Điều 6: Lệnh tạm giam hoặc gia hạn tạm giam phải do một trong số cán bộ ghi ở Điều 1 nghị định này ký. Lệnh phải ghi rõ lý do việc tạm giam, ngày hết hạn tạm giam hoặc hết thời hạn gia hạn tạm giam và phải giao một bản sao cho can phạm. Lúc ra lệnh tạm giam, hoặc gia hạn tạm giam một người phạm pháp, cơ quan Tư pháp phải báo tin cho thân nhân người ấy biết lý do việc tạm giam và cơ quan đã ra lệnh tạm giam, trừ trường hợp việc báo tin đó có thể làm trở ngại cho công tác điều tra trinh sát, hoặc trường hợp không có cách nào báo tin được.

Lệnh tha hẳn hoặc lệnh tạm tha những người bị tạm giam, tuỳ trường hợp, phải do một trong số cán bộ ghi ở Điều 1 nghị định này ký, và phải giao một bản sao cho người được tha hẳn hoặc được tạm tha.

Điều 7: Đối với những vụ phạm pháp thuộc thẩm quyền Toà án nhân dân tỉnh hoặc thành phố đang ở trong thời kỳ điều tra thẩm cứu, thì công tố uỷ viên Toà án tỉnh hoặc thành phố, phải báo cáo việc gia hạn tạm giam lần thứ nhất lên công tố uỷ viên Toà án nhân dân phúc thẩm. Việc gia hạn tạm giam lần thứ hai phải được công tố uỷ viên Toà án nhân dân phúc thẩm chuẩn y trước.

Đối với những vụ phạm pháp thuộc thẩm quyền Toà án binh, thì công tố uỷ viên Toà án binh phải báo cáo việc gia hạn tạm giam lần thứ nhất lên Cục trưởng Cục Quân pháp. Việc gia hạn tạm giam lần thứ hai phải được Cục trưởng Cục Quân pháp chuẩn y trước.

Điều 8: Trong trường hợp có những vụ án phức tạp, đã gia hạn tạm giam hai lần mà điều tra vẫn chưa xong, thì việc gia hạn tạm giam phải được chuẩn y trước của Bộ Tư pháp nếu vụ án thuộc thẩm quyền Toà án nhân dân hoặc của Bộ Quốc phòng nếu vụ án thuộc thẩm quyền Toà án binh.

Điều 9: Khi hồ sơ vụ án đã chuyển sang Toà án nhân dân tỉnh hoặc thành phố, Toà án nhân dân phúc thẩm hoặc Toà án binh để xét xử, thì kể từ ngày nhận được hồ sơ, các Toà án trên phải xét xử trong thời hạn hai tháng đối với những vụ án mà luật pháp phạt từ năm năm tù trở xuống, và trong thời hạn bốn tháng đối với những vụ án mà luật pháp phạt trên năm năm tù.

Điều 10: Nếu can phạm bị một Toà án xử sơ thẩm tuyên án phạt tù, nhưng chưa bị tạm giam và đã ký chống án hoặc đang còn trong thời hạn được ký chống án, thì can phạm vẫn được tại ngoại để chờ Toà án nhân dân phúc thẩm xử chung thẩm, trừ trường hợp Toà án xử sơ thẩm quyết định cần tạm giam ngay.

Nếu can phạm đã bị tạm giam một thời hạn bằng một thời hạn phạt giam do Toà án sơ thẩm xử thì can phạm dù có ký hoặc không ký chống án cũng được tha ngay.

Điều 11: Giám thị trại tạm giam của tỉnh, thành phố, khu, liên khu hoặc của Toà án binh có nhiệm vụ chuyển những đơn khiếu nại về việc tạm giữ, tạm giam, những đơn xin tạm tha của can phạm đến công tố uỷ viên Toà án nhân dân tỉnh, thành phố, Toà án nhân dân phúc thẩm hoặc Toà án binh để giải quyết hoặc để chuyển đến cơ quan đã ra lệnh tạm giữ, tạm giam giải quyết tuỳ theo trại giam đó thuộc phạm vi kiểm tra của công tố uỷ viên Toà án nhân dân tỉnh, thành phố, Toà án nhân dân phúc thẩm hoặc Toà án binh.

Giám thị trại tạm giam của tỉnh, thành phố, khu, liên khu hoặc của Toà án binh có nhiệm vụ báo cáo cho cơ quan đã ra lệnh tạm giữ, tạm giam biết mỗi khi thời hạn tạm giữ, tạm giam một can phạm đã hết. Nếu thời hạn tạm giữ, tạm giam đã hết mà chưa nhận được lệnh tha, tạm tha, tạm giam hoặc gia hạn tạm giam, thì giám thị trại tạm giam phải báo cáo gấp cho công tố viên Toà án nhân dân tỉnh, thành phố, Toà án nhân dân phúc thẩm hoặc Toà án binh tuỳ theo trại tạm giam đó thuộc phạm vi kiểm tra của công tố uỷ viên Toà án nhân dân tỉnh, thành phố, Toà án nhân dân phúc thẩm hoặc Toà án binh, đồng thời báo cáo lên cấp trên của mình.

Công tố uỷ viên, phó công tố uỷ viên các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố, Toà án nhân dân phúc thẩm hoặc Toà án binh có nhiệm vụ kiểm tra thường xuyên trại tạm giam thuộc cấp mình để ngăn ngừa những việc giam giữ không hợp pháp. Gặp một việc giam giữ không hợp pháp thì công tố uỷ viên phải dùng mọi biện pháp để giải quyết mau chóng, đồng thời báo cáo lên cấp trên của mình và cho Uỷ ban hành chính cấp tương đương biết.

Xem nội dung VB
Chương này được hướng dẫn bởi Chương 2 Nghị định 301-TTg năm 1957
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 12 Nghị định 301-TTg năm 1957

Căn cứ Luật số 103/SL-L005 ngày 20 tháng 5 năm 1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân
...
Điều 12: Trừ những trường hợp định ở Điều 10 và Điều 11 Luật số 103/SL-L005 ngày 20-5-1957, những cán bộ tư pháp ghi ở Điều 1 nghị định này và những người thi hành lệnh viết của các cán bộ ấy, được phép khám người, đồ vật, nhà ở và thư tín của tư nhân.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 12 Nghị định 301-TTg năm 1957
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 13, 14, 16 và 18 Nghị định 301-TTg năm 1957

Căn cứ Luật số 103/SL-L005 ngày 20 tháng 5 năm 1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân
...
Điều 13: Trong những trường hợp phạm pháp quả tang, những cán bộ sau đây có quyền khám người và đồ vật của người phạm pháp và những người liên quan đến vụ án:

- Thẩm phán Toà án nhân dân huyện, châu trở lên;

- Cán bộ công tố của Toà án binh;

- Nhân viên và cán bộ công an, chiến sĩ và và cán bộ bộ đội bảo vệ, bộ đội biên phòng, chiến sĩ và cán bộ bộ đội quốc phòng làm nhiệm vụ bảo vệ.

Điều 14: Trong những trường hợp đang tiến hành điều tra vụ án mà can phạm đang bị tạm giữ, hoặc tạm giam, hoặc trong trường hợp được uỷ quyền điều tra toàn bộ vụ phạm pháp, những cán bộ và nhân viên sau đây có quyền khám người và đồ vật của người phạm pháp và những người có liên quan đến vụ án:

- Thẩm phán Toà án nhân dân huyện, châu trở lên;

- Cán bộ công tố của Toà án binh;

- Trưởng công an huyện, châu, phó công an huyện, châu, trưởng đồn, phó đồn công an trở lên;

- Những nhân viên thi hành lệnh viết của các cán bộ nói trên.
...
Điều 16: Trong những trường hợp phạm pháp quả tang, hoặc trong những trường hợp đang tiến hành điều tra vụ phạm pháp mà can phạm đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc trong những trường hợp được uỷ quyền điều tra toàn bộ vụ án, những cán bộ sau đây có quyền khám nhà ở và thư tín của người phạm pháp và những người có liên quan đến vụ án:

- Thẩm phán Toà án nhân dân huyện, châu trở lên;

- Cán bộ công tố Toà án binh;

- Cán bộ nói ở Điều 2, 3 Nghị định này;

- Những nhân viên thi hành lệnh viết của các cán bộ nói trên.
...
Điều 18: Uỷ ban hành chính xã trong khi làm nhiệm vụ tư pháp, trưởng công an và phó công an xã có quyền khám người, đồ vật, nhà ở của người phạm pháp quả tang và những người có liên quan đến vụ phạm pháp quả tang xảy ra trong xã mình.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 13, 14, 16 và 18 Nghị định 301-TTg năm 1957
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 15 và 17 Nghị định 301-TTg năm 1957

Căn cứ Luật số 103/SL-L005 ngày 20 tháng 5 năm 1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân
...
Điều 15: Trong những trường hợp khẩn cấp hoặc có triệu chứng phạm pháp, những cán bộ và nhân viên sau đây có quyền khám người và đồ vật của người phạm pháp và những người có liên quan đến vụ án:

- Cán bộ nói ở Điều 2, 3 Nghị định này và những người thi hành lệnh viết của các cán bộ ấy.

- Nhân viên công an, chiến sĩ bộ đội bảo vệ, bộ đội biên phòng, hoặc chiến sĩ bộ đội quốc phòng làm nhiệm vụ bảo vệ khi đang kiểm soát, tuần tra hoặc bảo vệ.
...
Điều 17: Trong những trường hợp khẩn cấp hoặc có triệu chứng phạm pháp, những cán bộ nói ở Điều 2, 3 Nghị định này và những nhân viên thi hành lệnh viết của các cán bộ ấy có thể khám nhà ở và thư tín của người phạm pháp.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 15 và 17 Nghị định 301-TTg năm 1957
- Chương này được hướng dẫn bởi Chương 3 Nghị định 301-TTg năm 1957

Căn cứ Luật số 103/SL-L005 ngày 20 tháng 5 năm 1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân
...
Chương 3: VIỆC KHÁM NGƯỜI, KHÁM ĐỒ VẬT, NHÀ Ở VÀ THƯ TÍN

Điều 12: Trừ những trường hợp định ở Điều 10 và Điều 11 Luật số 103/SL-L005 ngày 20-5-1957, những cán bộ tư pháp ghi ở Điều 1 nghị định này và những người thi hành lệnh viết của các cán bộ ấy, được phép khám người, đồ vật, nhà ở và thư tín của tư nhân.

Điều 13: Trong những trường hợp phạm pháp quả tang, những cán bộ sau đây có quyền khám người và đồ vật của người phạm pháp và những người liên quan đến vụ án:
...
Điều 14: Trong những trường hợp đang tiến hành điều tra vụ án mà can phạm đang bị tạm giữ, hoặc tạm giam, hoặc trong trường hợp được uỷ quyền điều tra toàn bộ vụ phạm pháp, những cán bộ và nhân viên sau đây có quyền khám người và đồ vật của người phạm pháp và những người có liên quan đến vụ án:
...
Điều 15: Trong những trường hợp khẩn cấp hoặc có triệu chứng phạm pháp, những cán bộ và nhân viên sau đây có quyền khám người và đồ vật của người phạm pháp và những người có liên quan đến vụ án:
...
Điều 16: Trong những trường hợp phạm pháp quả tang, hoặc trong những trường hợp đang tiến hành điều tra vụ phạm pháp mà can phạm đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc trong những trường hợp được uỷ quyền điều tra toàn bộ vụ án, những cán bộ sau đây có quyền khám nhà ở và thư tín của người phạm pháp và những người có liên quan đến vụ án:
...
Điều 17: Trong những trường hợp khẩn cấp hoặc có triệu chứng phạm pháp, những cán bộ nói ở Điều 2, 3 Nghị định này và những nhân viên thi hành lệnh viết của các cán bộ ấy có thể khám nhà ở và thư tín của người phạm pháp.

Điều 18: Uỷ ban hành chính xã trong khi làm nhiệm vụ tư pháp, trưởng công an và phó công an xã có quyền khám người, đồ vật, nhà ở của người phạm pháp quả tang và những người có liên quan đến vụ phạm pháp quả tang xảy ra trong xã mình.

Điều 19: Nếu khám nhà trong những trường hợp phạm pháp quả tang, những trường hợp khẩn cấp hoặc có triệu chứng phạm pháp, mà các cán bộ ghi ở Điều 16 và 17 trên đây không có điều kiện để cùng đi khám với một uỷ viên Uỷ ban hành chính địa phương và không có một người láng giềng chứng kiến, thì sau khi khám nhà xong, lúc lập biên bản phải có chữ ký của một người trong nhà và sau đó lấy chữ ký của một uỷ viên Uỷ ban hành chính địa phương chứng thực.

Điều 20: Việc khám người, đồ vật, nhà ở của người phạm pháp có thể tiến hành bất cứ lúc nào ban ngày cũng như ban đêm.
...
Điều 21: Trong mọi trường hợp, nếu bắt được tang vật, thì phải niêm phong, giao người coi giữ, hoặc chuyển đến cơ quan đang tiến hành cuộc điều tra.
...
Điều 22: Nếu trong khi tiến hành việc bắt, tạm giữ, tạm giam, khám người, khám nhà ở mà gặp những trường hợp thật cần thiết sau đây, người thi hành nhiệm vụ có thể dùng vũ khí:
...
Điều 23: Nhân viên công an và chiến sĩ bộ đội bảo vệ đang làm công tác cảnh sát hành chính có quyền kiểm soát người, giấy tờ, căn cước, hành lý, hàng hoá ở trên tàu, trên xe, hoặc ở những bến tàu, bến ô tô, trường bay, nhà ga, hải cảng, cửa khẩu, biên giới ở những địa điểm khác do Uỷ ban hành chính hoặc cơ quan công an từ cấp tỉnh trở lên quy định.

Xem nội dung VB
Chương này được hướng dẫn bởi Chương 3 Nghị định 301-TTg năm 1957
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 103-SL/L.005   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Hồ Chí Minh
Ngày ban hành: 20/05/1957   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 17/07/1957   Số công báo: Số 29
Lĩnh vực: Hình sự   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Luật 103-SL/L.005

527

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
36795