• Lưu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Bộ Luật hàng hải


 

Luật Hàng hải 1990

Tải về Luật Hàng hải 1990
Bản Tiếng Việt

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 42-LCT/HĐNN8

Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 1990

 

BỘ LUẬT

HÀNG HẢI VIỆT NAM SỐ 42-LCT/HĐNN8 CỦA QUỐC HỘI NGÀY 30/06/1990

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.

1- Bộ luật hàng hải Việt Nam được áp dụng đối với những quan hệ pháp luật phát sinh từ các hoạt động liên quan đến việc sử dụng tầu biển vào các mục đích kinh tế, nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, văn hoá, thể thao, xã hội và công vụ Nhà nước, sau đây gọi chung là hoạt động hàng hải.

Tàu biển nói tại Bộ luật này là cấu trúc nổi, có hoặc không có động cơ, chuyên dùng để hoạt động trên biển và các vùng nước liên quan đến biển.

2- Đối với những quan hệ pháp luật phát sinh từ hoạt động hàng hải không được Bộ luật này quy định, thì tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà áp dụng pháp luật tương ứng của Việt Nam.

Điều 2.

Hoạt động hàng hải của tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài, của tổ chức liên doanh, hợp tác giữa Việt Nam với nước ngoài tại Việt Nam được khuyến khích và bảo hộ trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận.

Điều 3.

Phạm vi áp dụng các quy định của Bộ luật này như sau:

1- Toàn bộ các quy định được áp dụng đối với các tầu biển chuyên dùng để vận chuyển hàng hoá, hàng khách và hành lý; thăm dò - khai thác - chế biến tài nguyên biển; lai dắt hoặc cứu hộ trên biển; trục vớt tài sản trên biển và thực hiện các mục đích kinh tế khác, sau đây gọi chung là tầu buôn.

2- Các quy định về vận chuyển hàng hoá, hành khách và hành lý, cầm giữ, bắt giữ hàng hải, giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tầu không áp dụng đối với các tầu biển chuyên dùng để thực hiện các hoạt động bảo đảm hàng hải; khí tượng - thuỷ văn; thông tin - liên lạc; thanh tra; hải quan; phòng dịch; chữa cháy; hoa tiêu; huấn luyện; bảo vệ môi trường hoặc chuyên dùng để tìm kiếm và cứu nạn trên biển, sau đây gọi chung là tầu công vụ Nhà nước.

3- Các quy định về vận chuyển hàng hoá, hành khách và hành lý, tổn thất chung không áp dụng đối với các tầu biển chuyên dùng để thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học - kỹ thuật và thể thao.

4- Chỉ trong những trường hợp có quy định cụ thể, thì mới được áp dụng đối với tầu biển chuyên dùng vào mục đích quân sự và bảo vệ an ninh, trật tự thuộc các lực lượng vũ trang và các loại tầu biển nước ngoài.

Các quy định về vận chuyển hàng hoá, hành khách và hành lý không áp dụng đối với việc vận chuyển quân sự bằng tầu buôn.

Điều 4.

1- Các bên tham gia hợp đồng hàng hải có quyền có những thoả thuận riêng, nếu Bộ luật này không hạn chế.

2- Các bên tham gia hợp đồng hàng hải mà trong đó có ít nhất một bên là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, thì có quyền thoả thuận áp dụng luật hoặc tập quán hàng hải nước ngoài hoặc quốc tế trong các quan hệ hợp đồng và chọn trọng tài, toà án ở một trong hai nước hoặc ở một nước thứ ba để giải giải quyết tranh chấp.

Điều 5.

Trong trường hợp có xung đột pháp luật, thì việc chọn luật để áp dụng được xác định theo các nguyên tắc sau đây:

1- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến các quyền sở hữu tài sản trên tầu; hợp đồng cho thuê tầu; hợp đồng thuê thuyền viên; hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý; chia tiền công cứu hộ giữa chủ tầu cứu hộ và thuyền bộ của tầu cứu hộ; trục vớt tài sản chìm đắm ở công hải; các vụ việc xảy ra trên tầu khi tầu đang ở công hải, thì luật được chọn là luật quốc gia mà tầu mang cờ.

2- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tổn thất chung, thì luật được chọn là luật nơi tầu ghé vào sau khi xảy ra tổn thất chung.

3- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va; tiền công cứu hộ; trục vớt tài sản chìm đắm ở biển, xảy ra tại nội thuỷ hoặc lãnh hải của quốc gia nào, thì luật được chọn là luật quốc gia đó.

4- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va hoặc cứu hộ xảy ra ở công hải, thì luật được chọn là luật do trọng tài hoặc toà án đã thụ lý tranh chấp áp dụng.

5- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hoá, thì luật được chọn là luật quốc gia, nơi người vận chuyển đặt trụ sở.

Điều 6.

Nếu điều ước quốc tế mà Việt nam ký kết hoặc công nhận có quy định khác với Bộ luật này, thì áp dụng điều ước quốc tế.

Điều 7.

Trong trường hợp Bộ luật này quy dịnh hoặc do có thoả thuận trong hợp đồng, thì luật nước ngoài có thể được áp dụng tại Việt Nam đối với các quan hệ hợp đồng hàng hải, nếu luật đó không trái với pháp luật Việt Nam.

Chương 2:

TÀU BIỂN

Mục A: TÀU BIỂN VIỆT NAM

Điều 8.

1- Chỉ có tầu biển Việt Nam mới được mang cờ quốc tịch tầu biển Việt Nam.

2- Tàu biển Việt Nam là tầu biển thuộc sở hữu của Nhà nước Việt Nam, tổ chức Việt nam có trụ sở chính tại Việt nam và của công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam hoặc tầu biển thuộc sở hữu nước ngoài đã được phép đăng ký tại Việt Nam.

3- Sau khi được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt nam hoặc từ khi được cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài cấp "Giấy phép mang cờ quốc tịch tầu biển tạm thời", thì tầu biển có quyền và nghĩa vụ mang cờ quốc tịch tầu biển Việt Nam.

Điều 9.

1- Tàu biển Việt Nam được ưu tiên vận chuyển hàng hoá, hành khách và hành lý giữa các cảng biển Việt Nam. Tàu biển nước ngoài chỉ được vận chuyển hàng hoá, hành khách và hành lý giữa các cảng biển Việt Nam trong các trường hợp do Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định.

2- Hội đồng Bộ trưởng quy định phạm vi hoạt động của tầu biển Việt Nam thuộc sở hữu tư nhân Việt Nam.

Điều 10.

Tàu biển có tên gọi riêng do chủ tầu đặt và phải được cơ quan đăng ký tầu biển Việt Nam chấp nhận.

Điều 11.

Chủ tầu là người sở hữu tầu biển. Chủ tầu có quyền sử dụng cờ hiệu riêng.

Điều 12.

1- Tàu biển Việt Nam phải được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam.

Việc đăng ký tầu biển ở Việt Nam do cơ quan đăng ký tầu biển thực hiện công khai và thu lệ phí. Những người quan tâm có quyền yêu cầu được cấp trích lục hoặc bản sao từ "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia".

2- Hội đồng bộ trưởng quy định trường hợp tầu biển thuộc sở hữu Việt Nam được đăng ký ở nước ngoài và tầu biển thuộc sở hữu nước ngoài được đăng ký tại Việt Nam.

3- Hội đồng Bộ trưởng quy định về cơ quan đăng ký tầu biển ViệtNam; thể thức đăng ký tầu biển và xử phạt hành chính các vi phạm về đăng ký tầu biển tại Việt Nam.

Điều 13.

Tàu biển chỉ được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam sau khi không còn mang quốc tịch tầu biển của nước ngoài và được Đăng kiểm Việt Nam hoặc cơ quan đăng kiểm tầu biển nước ngoài mà Đăng kiểm Việt Nam uỷ quyền đã kiểm tra kỹ thuật, phân cấp tầu, đo đạc dung tích và cấp các giấy chứng nhận cần thiết.

Điều 14.

1- "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam bao gồm nội dung sau đây:

a) Tên tầu, tên chủ tầu và nơi chủ tầu đặt trụ sở, hô hiệu quốc tế; loại tầu và mục đích sử dụng;

b) Sổ đăng ký; thời điểm đăng ký;

c) Nơi đóng tầu, xưởng đóng tầu và thời điểm đóng tầu;

d) Các đặc tính kỹ thuật của tầu;

e) Định biên tối thiểu;

g) Sở hữu và những thay đổi liên quan;

h) Thời điểm xoá đăng ký và cơ sở của việc xoá đăng ký.

2- Mọi thay đổi về nội dung đăng ký nói tại khoản 1, Điều này cũng phải được ghi rõ vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia".

3- Nội dung đã được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" có giá trị pháp lý đối với người liên quan.

4- Sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký, tầu biển được cấp "Giấy chứng nhận đăng ký tầu biển" của Việt Nam. Giấy này đồng thời là bằng chứng về quốc tịch Việt Nam của tầu.

Điều 15.

1- Tàu biển Việt Nam đương nhiên xoá đăng ký trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam trong các trường hợp sau đây:

a) Bị phá huỷ hoặc chìm đắm;

b) Bị mất tích;

c) Bị hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa là không có hiệu quả kinh tế;

d) Không còn đủ cơ sở để được mang quốc tịch tầu biển Việt Nam;

e) Không còn tính năng tầu biển.

2- Trong các trường hợp nói tại điểm c và điểm e, khoản 1, Điều này, khi tầu biển bị cầm cố, thế chấp, cầm giữ, thì tầu biển chỉ được chính thức xoá đăng ký, nếu chủ nợ chấp nhận cho xoá đăng ký.

3- Tàu biển Việt Nam có thể xoá đăng ký theo yêu cầu của chủ tầu.

Điều 16.

1- Chủ tầu có trách nhiệm hoàn thành thủ tục đăng ký tầu biển chậm nhất là sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận tầu tại Việt Nam hoặc từ ngày đưa tầu về đến cảng biển Việt Nam đầu tiên, nếu nhận ở nước ngoài.

2- Chủ tầu có trách nhiệm thông báo chính xác và nhanh chóng cho cơ quan đăng ký tầu biển về mọi sự kiện liên quan đến tầu.

Mục B: AN TOÀN HÀNG HẢI VÀ PHÒNG NGỪA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Điều 17.

Chỉ được phép sử dụng tầu biển vào mục đích đã đăng ký khi cấu trúc, trang thiết bị, tài liệu của tầu, định biên và khả năng chuyên môn của thuyền bộ hoàn toàn phù hợp với các quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện về an toàn hàng hải đối với tầu, người ở trên tầu và về phòng ngừa ô nhiễm môi trường.

Điều 18.

1- Sau khi được Đăng kiểm Việt Nam hoặc cơ quan đăng kiểm tầu biển nước ngoài mà Đăng kiểm Việt Nam uỷ quyền đã kiểm tra, xác nhận có đủ các điều kiện an toàn kỹ thuật theo quy phạm quốc gia của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận, tầu biển Việt Nam được cấp các giấy chúng nhận an toàn kỹ thuật.

2- Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật phải ghi rõ thời hạn có hiệu lực. Thời hạn này đương nhiên được kéo dài thêm nhiều nhất là chín mươi ngày, nếu tầu thực sự không có điều kiện đến nơi được chỉ định để kiểm tra định kỳ và điều kiện kỹ thuật của tầu trong thực tế vẫn bảo đảm an toàn. Thời hạn đương nhiên được kéo dài này kết thúc ngay khi tầu về đến cảng được chỉ định để kiểm tra.

3- Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật đương nhiên mất giá trị, nếu trên thực tế tầu biển có những thay đổi lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng an toàn kỹ thuật của tầu.

4- Trong trường hợp có đủ căn cứ để nghi ngờ khả năng an toàn kỹ thuật của tầu, Thanh tra an toàn hàng hải Việt Nam có quyền tạm đình chỉ hoạt động của tầu, tự mình hoặc yêu cầu Đăng kiểm Việt Nam kiểm tra kỹ thuật của tầu, mặc dù trước đó tầu đã được cấp đủ các giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật.

Điều 19.

1- Chủ tầu và thuyền trưởng có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi để tiến hành thanh tra an toàn hàng hải, kiểm tra kỹ thuật tầu biển.

2- Chủ tầu và thuyền trưởng có trách nhiệm sửa chữa, bổ sung các điều kiện an toàn hàng hải theo yêu cầu của Đăng kiểm Việt Nam, Thanh tra an toàn hàng hải Việt Nam trước khi cho tầu hoạt động.

Điều 20.

1- Khi hoạt động trên biển và vùng nước liên quan đến biển mà tầu biển được phép hoạt động, các tầu biển, tầu sông, thuỷ phi cơ, kể cả của các lực lượng vũ trang Việt Nam phải chấp hành các quy tắc phòng ngừa đâm va trên biển do Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định.

2- Các công trình, thiết bị được xây dựng hoặc lắp đặt ở biển và vùng nước liên quan đến biển mà tầu biển được phép hoạt động phải có đầy đủ các báo hiệu an toàn theo đúng quy định về báo hiệu hàng hải do Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định.

Điều 21.

1- Trong phạm vi nội thuỷ và lãnh hải Việt Nam, tầu biển nước ngoài phải chấp hành đầy đủ các quy định về an toàn hàng hải của Việt Nam, trừ trường hợp giữa Việt Nam và quốc gia mà tầu đó mang cờ có những thoả thuận khác.

2- Thanh tra an toàn hàng hải Việt Nam có quyền kiểm tra và xử phạt hành chính các vi phạm của tầu biển nước ngoài khi hoạt động tại nội thuỷ và lãnh hải Việt Nam, nếu có đủ căn cứ để nghi ngờ khả năng an toàn hàng hải của tầu hoặc khi tầu vi phạm quy định về an toàn hàng hải Việt Nam.

Điều 22.

Việc thanh tra an toàn hàng hải, kiểm tra kỹ thuật tầu biển theo quy định của Bộ luật này; việc khám xét tầu biển phải được tiến hành theo đúng pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến khả năng an toàn hàng hải của tầu.

Điều 23.

1- Khi hoạt động tại các vùng nước thuộc chủ quyền của Việt Nam, tầu biển Việt Nam và tầu biển nước ngoài phải chấp hành đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận.

2- Tàu biển Việt Nam và tầu biển nước ngoài chuyên dùng để vận chuyển dầu mỏ, chế phẩm từ dầu mỏ hoặc các hàng hoá nguy hiểm khác bắt buộc phải có bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tầu về ô nhiễm môi trường khi hoạt động tại vùng nước các cảng biển và khu vực hàng hải khác của Việt Nam.

3- Tàu biển nước ngoài chạy bằng năng lượng nguyên tử chỉ được vào hoạt động tại nội thuỷ, lãnh hải của Việt Nam sau khi được Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng cho phép.

Điều 24.

Hội đồng bộ trưởng quy định về tổ chức, hoạt động của Thanh tra an toàn hàng hải Việt Nam và Đăng kiểm Việt Nam.

Mục C: KIỂM TRA DUNG TÍCH TẦU BIỂN

Điều 25.

1- Tàu biển Việt Nam và tầu biển nước ngoài khi hoạt động tại vùng nước cảng biển và luồng quá cảnh của Việt Nam phải có đủ các giấy chứng nhận dung tích do Đăng kiểm Việt Nam hoặc cơ quan đăng kiểm tầu biển nước ngoài, cơ quan đo dung tích tầu biển có thẩm quyền của nước ngoài cấp. Các giấy chứng nhận dung tích phải phù hợp với quy phạm quốc gia của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận.

2- Trong trường hợp tầu không có đủ các điều kiện nói tại khoản 1, Điều này, thì chủ tầu hoặc thuyền trưởng phải yêu cầu Đăng kiểm Việt Nam kiểm tra dung tích tầu và thanh toán các chi phí liên quan.

Mục D: TÀI LIỆU CỦA TẦU

Điều 26.

Trên tầu biển Việt Nam phải có đủ các loại nhật ký tầu biển, các loại giấy chứng nhận, các tài liệu khác của tầu và của thuyền viên theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện.

Mục E: CÁC QUYỀN VỀ SỞ HỮU TẦU BIỂN

Điều 27.

1- Hợp đồng chuyển nhượng sở hữu tầu biển tại Việt Nam phải được làm bằng văn bản và được cơ quan công chứng chứng thực, nếu ở nước ngoài thì thủ tục được tiến hành theo luật nơi hợp đồng được ký kết.

2- Chỉ sau khi được ghi nhận vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam nơi tầu biển đó đã được đăng ký, thì việc chuyển nhượng sở hữu tầu biển Việt Nam mới có giá trị.

3- Sau khi hoàn thành các thủ tục chuyển nhượng, thì toàn bộ con tầu và tài sản của tầu thuộc quyền sở hữu của người được chuyển nhượng, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

Tài sản của tầu là các đồ vật, trang thiết bị ở trên tầu mà không phải là các bộ phận cấu thành của tầu.

Điều 28.

Các quy định về chuyển nhượng sở hữu tầu biển cũng được áp dụng đối với việc chuyển nhượng cổ phần sở hữu tầu biển.

Điều 29.

1- Chủ tầu có quyền cầm cố, thế chấp tầu biển cho người khác theo quy định của pháp luật.

2- Việc cầm cố, thế chấp tầu biển tại Việt Nam được giải quyết theo pháp luật Việt Nam. Hợp đồng về cầm cố, thế chấp tầu biển tại Việt Nam phải làm bằng văn bản và được cơ quan công chứng chứng thực.

3- Việc cầm cố, thế chấp tầu biển Việt Nam ở nước ngoài được giải quyết theo luật nơi hợp đồng được ký kết.

4- Chỉ sau khi được ghi nhận vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia", thì việc cầm cố, thế chấp tầu biển Việt Nam mới có giá trị.

Điều 30.

1- Chủ nợ có quyền cầm giữ hàng hải theo luật định đối với tầu biển để bảo đảm cho các khoản nợ ưu tiên, mặc dù tầu biển đó đã được cầm giữ, cầm cố, thế chấp để bảo đảm cho các khoản nợ khác trên cơ sở hợp đồng hoặc quyết định của toà án.

2- Cầm giữ hàng hải đối với tầu biển không bị ảnh hưởng khi có sự thay đổi chủ tầu, người khai thác tầu, cho dù người mua tầu biết hay không biết về việc tầu đã bị cầm giữ.

3- Tuyên bố của chủ nợ về việc cầm giữ hàng hải đối với tầu biển chỉ có giá trị sau khi đã được ghi nhận vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia", nơi tầu đã đăng ký.

Điều 31.

Những khoản nợ ưu tiên là những khoản nợ được giải quyết trước các khoản nợ khác, theo thứ tự sau đây:

1- Tiền bồi thường tính mạng, thương tích và tổn hại khác về sức khoẻ con người; tiền bồi thường liên quan đến các quyền lợi phát sinh từ hợp đồng lao động;

2- Các loại án phí và chi phí thi hành án; chi phí bảo vệ quyền lợi chung của các chủ nợ để duy trì tầu, bán tầu và chia tiền bán tầu; cước phí cảng, thuế và các phí công cộng tương tự; hoa tiêu phí; chi phí bảo vệ và bảo quản tầu từ khi tầu đến cảng cuối cùng;

3- Tiền công cứu hộ và các chi phí đóng góp vào tổn thất chung;

4- Tiền bồi thường do đâm va hoặc tại nạn hàng hải khác; tiền bồi thường thiệt hại cho thiết bị cảng, cầu bến, luồng lạch, vũng đậu tầu, ụ tầu; tiền bồi thường tổn thất hàng hoá và hành lý;

5- Các khoản tiền liên quan đến hợp đồng do thuyền trưởng ký kết hoặc các hành động khác của thuyền trưởng trong phạm vi quyền hạn theo luật định, khi tầu ở ngoài cảng đăng ký để sửa chữa, tiếp tục chuyến đi, ngay cả khi thuyền trưởng đồng thời là người khai thác tầu hoặc là chủ tầu; các khiếu nại đòi bồi thường của chính bản thân thuyền trưởng hoặc người cung ứng tầu biển, người sửa chữa tầu biển, người cho vay tiền và những người khác có quan hệ hợp đồng với thuyền trưởng.

Điều 32.

1- Việc giải quyết yêu cầu của chủ nợ trong phạm vi giá trị tài sản bị cầm giữ do toà án quyết định.

2- Các khoản nợ ưu tiên được giải quyết lần lượt theo thứ tự các nhóm từ khoản 1 đến khoản 5, Điều 31 của Bộ luật này.

3- Các khoản nợ ưu tiên phát sinh từ cùng một chuyến đi và ở trong cùng một nhóm nói tại Điều 31 của Bộ luật này, được giải quyết tuỳ theo tỉ lệ giá trị giữa chúng, nếu khoản tiền phân chia không đủ để thanh toán giá trị của mỗi khoản nợ. Riêng các khoản nợ thuộc các nhóm nói tại khoản 3 và khoản 5, Điều 31 của Bộ luật này, thì khoản nợ nào phát sinh sau được giải quyết trước các khoản nợ khác ở cùng nhóm đó, mặc dù các khoản nợ đó phát sinh sớm hơn.

4- Các khoản nợ phát sinh từ cùng một sự kiện được coi là phát sinh trong cùng một thời gian.

5- Việc cầm giữ hàng hải đối với tầu biển liên quan đến chuyến đi cuối cùng, được ưu tiên giải quyết trước việc cầm giữ hàng hải liên quan đến các chuyến đi khác.

6- Các khoản nợ phát sinh từ cùng một hợp đồng lao động liên quan đến nhiều chuyến đi được giải quyết cùng với các khoản nợ liên quan đến chuyến đi cuối cùng.

Điều 33.

1- Chủ nợ có quyền cầm giữ hàng hải đối với các khoản tiền sau đây:

a) Tiền cước vận chuyển hàng hoá, hành lý hoặc tiền công vận chuyển hành khách của chuyến đi liên quan đến khoản nợ hoặc của tất cả các chuyến đi đã được thực hiện trong thời gian hiệu lực của cùng một hợp đồng lao động, để bảo đảm cho việc giải quyết các khoản nợ về hợp đồng lao động;

b) Khoản tiền bồi dưỡng tổn thất cho các hư hỏng của tầu mà chưa được sửa chữa và tiền bồi thường do mất cước;

c) Tiền bồi thường cho tầu sau tổn thất chung, nếu trong đó đã được tính các khoản tiền nói tại điểm b, Điều này;

d) Tiền công cứu hộ trả cho tầu sau khi đã trừ tiền công dành riêng để trả cho thuyền bộ và những người làm công khác cho chủ tầu.

2- Quyền cầm giữ hàng hải nói tại khoản 1, Điều này không áp dụng đối với những khoản tiền do người bảo hiểm bồi thường cho tầu.

Điều 34.

1- Quyền cầm giữ hàng hải để giải quyết các khoản nợ ưu tiên nói tại khoản 5, Điều 31 của Bộ luật này chấm dứt sau một trăm tám mươi ngày; đối với các khoản nợ khác, thì thời hiệu này là một năm.

2- Thời hiệu của quyền cầm giữ hàng hải được tính:

a) Từ ngày kết thúc hoạt động cứu hộ, trong trường hợp để giải quyết tiền công cứu hộ;

b) Từ ngày phát sinh tổn thất, trong trường hợp để giải quyết các tổn thất do đâm va hoặc tai nạn hàng hải khác;

c) Từ ngày giao hàng hoá, hành lý hoặc ngày lẽ ra phải làm việc đó, trong trường hợp để giải quyết các tổn thất hàng hoá, hành lý;

d) Từ ngày phát sinh khoản nợ, trong trường hợp để giải quyết các khoản nợ nói tại khoản 5, Điều 31 của Bộ luật này;

e) Từ ngày phải thanh toán, trong trường hợp để giải quyết các khoản nợ khác.

3- Quyền cầm giữ hàng hải đối với các khoản nợ nói tại Điều 33 của Bộ luật này hết hiệu lực khi chủ tầu đã thanh toán các khoản nợ liên quan. Nếu tiền thanh toán vẫn còn nằm trong tay thuyền trưởng hoặc người đã được uỷ nhiệm thay mặt chủ tầu hoặc người khai thác tầu để thanh toán các khoản nợ đó, thì quyền cầm giữ hàng hải vẫn còn hiệu lực.

4- Khi toà án không thể thực hiện việc kê biên tầu trong phạm vi nội thuỷ hoặc lãnh hải Việt Nam để bảo vệ quyền lợi của chủ nợ thường trú hoặc có trụ sở chính tại Việt Nam, thì thời hiệu quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này kết thúc sau ba mươi ngày, tính từ ngày tầu về đến cảng biển Việt Nam đầu tiên, nhưng tối đa không được quá hai năm, tính từ ngày phát sinh khoản nợ.

Điều 35.

1- Theo yêu cầu của chủ nợ, Giám đốc cảng vụ có quyền tạm giữ trong vòng bẩy mươi hai giờ các tài sản sau đây:

a) Tầu biển, để bảo đảm cho các khiếu nại đối với tầu về cảng phí hoặc tiền bồi thường thiệt hại cho thiết bị cảng, cầu bến, luồng lạch, vũng đậu tầu, ụ tầu;

b) Xác tầu đắm hoặc các vật thể khác đã cản trở các hoạt động hàng hải, để bảo đảm cho các khiếu nại liên quan đến việc thải chúng.

2- Chủ nợ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về yêu cầu tạm giữ nói tại khoản 1, Điều này. Thời hiệu khiếu nại về việc tạm giữ nói tại khoản 1, Điều này là hai năm, tính từ ngày phát sinh vụ việc.

3- Sau bảy mươi hai giờ, tài sản bị tạm giữ theo quy định tại khoản 1, Điều này được giải phóng, nếu không có quyết định khác của toà án.

Điều 36.

1- Trong trường hợp cần thiết, để bảo đảm cho việc giải quyết các tranh chấp đã được thụ lý, Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương có quyền ra lệnh bắt giữ tầu biển.

2- Tầu biển nước ngoài có thể bị bắt giữ tại Việt Nam theo yêu cầu của toà án nước ngoài để bảo đảm cho việc giải quyết việc kiện mà toà án đó thụ lý.

3- Sau thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày thuyền trưởng nhận được lệnh bắt giữ mà chủ tầu không thực hiện các biện pháp bảo đảm thay thế, thì toà án đã ra lệnh bắt giữ có quyền quyết định bán đấu giá tầu biển.

Điều 37.

1- Sau khi chủ tầu hoặc người khai thác tầu đã thực hiện những biện pháp bảo đảm thay thế hoặc đã thanh toán đủ các khoản nợ, thì tầu biển đang bị cầm giữ, bị tạm giữ, bị bắt giữ hàng hải phải được giải phóng ngay. Những người khiếu nại không có quyền thực hiện bất cứ hành động nào xâm phạm tài sản hoặc quyền lợi khác của chủ tầu hoặc người khai thác tầu.

2- Tầu biển cũng có thể được giải phóng theo yêu cầu của chính những người đã yêu cầu cầm giữ, tạm giữ, bắt giữ hàng hải tầu biển đó. Mọi phí tổn liên quan do người yêu cầu chịu trách nhiệm thanh toán.

CHƯƠNG 3

THUYỀN BỘ

Điều 38.

Thuyền bộ của tầu gồm thuyền trưởng, các sĩ quan và những người khác làm việc trong định biên của tầu, sau đây gọi chung là thuyền viên.

Điều 39.

Thuyền viên làm việc trên tầu biển Việt Nam phải là công dân Việt Nam. Trong các trường hợp do Bộ trưởng Bộ giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định, thuyền viên là công dân Việt Nam được phép làm việc trên tầu biển nước ngoài và thuyền viên là công dân nước ngoài được phép làm việc trên tầu biển Việt Nam.

Điều 40.

Thuyền viên làm việc trên tầu biển Việt Nam phải có đủ tiêu chuẩn sức khoẻ, tiêu chuẩn chuyên môn và chứng chỉ chuyên môn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện.

Điều 41.

1- Thuyền viên làm việc trên tầu biển Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm theo chức danh.

2- Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định chức danh, trách nhiệm theo chức danh và chế độ kỷ luật đối với thuyền viên làm việc trên tầu biển Việt Nam; đối với thuyền viên làm việc trên các tầu biển chuyên dùng để khai thác, chế biến hải sản, thì do Bộ trưởng Bộ thuỷ sản quy định.

3- Chủ tầu quy định chức danh, trách nhiệm theo chức danh của thuyền viên chưa được Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện hoặc Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản quy định.

Điều 42.

1- Chế độ lao động, nghĩa vụ và quyền lợi của thuyền viên Việt Nam làm việc trên tầu biển Việt Nam được xác định trên cơ sở pháp luật Việt Nam.

2- Trong trường hợp chủ tầu hoặc thuyền trưởng yêu cầu thuyền viên Việt Nam phải rời tầu, thì chủ tầu có nghĩa vụ chu cấp mọi chi phí sinh hoạt và đi đường cần thiết để đưa thuyền viên về đúng nơi quy định trong hợp đồng lao động hoặc về đến cảng đã tiếp nhận thuyền viên vào làm việc, nếu trong hợp đồng lao động không có thoả thuận khác.

3- Trong trường hợp tài sản riêng hợp pháp của thuyền viên Việt Nam bị tổn thất do tầu bị tai nạn, thì chủ tầu phải bồi thường tài sản đó theo giá trị thị trường ở nơi và thời điểm giải quyết tại nạn. Thuyền viên có lỗi trực tiếp gây ra tai nạn không có quyền đòi bồi thường tài sản của mình đã bị tổn thất.

4- Chế độ lao động, nghĩa vụ và quyền lợi của thuyền viên Việt Nam làm việc trên tầu biển nước ngoài và của thuyền viên nước ngoài làm việc trên tầu biển Việt Nam được xác định trên cơ sở hợp đồng thuê thuyền viên.

Điều 43.

Thuyền trưởng là người có quyền chỉ huy cao nhất ở trên tầu. Mọi người có mặt trên tầu đều phải chấp hành mệnh lệnh của thuyền trưởng.

Điều 44.

1- Thuyền trưởng không được phép rời tầu khi tầu đang hành trình hoặc đang gặp nguy hiểm, trừ trường hợp việc thuyền trưởng rời tầu là hết sức cần thiết.

2- Thuyền trưởng có nghĩa vụ trực tiếp điều khiển tầu ra, vào cảng, kênh đào, luồng sông và khi tầu hoạt động trong vùng nước cảng hoặc khi xảy ra các tình huống đặc biệt khó khăn, nguy hiểm.

3- Thuyền trưởng có nghĩa vụ sử dụng hoa tiêu, tầu lai dắt trong các trường hợp do pháp luật quy định hoặc để bảo đảm an toàn cho tầu.

Việc sử dụng hoa tiêu không miễn giảm nghĩa vụ của thuyền trưởng nói tại khoản 2, Điều này.

Điều 45.

1- Thuyền trưởng có nghĩa vụ thực hiện mẵn cán các nhiệm vụ thuộc chức trách của mình theo đúng lương tâm nghề nghiệp.

2- Trước và trong khi tầu đang hành trình, thuyền trưởng có nghĩa vụ chăm sóc chu đáo để tầu có đủ các điều kiện an toàn hàng hải cần thiết, phù hợp với tiêu chuẩn nghề nghiệp, các quy định về trang thiết bị, vỏ tầu, dự trữ, chất lượng thuyền bộ và các vấn đề khác có liên quan đến an toàn hàng hải cho tầu và người ở trên tầu.

3- Thuyền trưởng có quyền từ chối không cho tầu hành trình, nếu xét thấy chưa đủ điều kiện an toàn hàng hải cần thiết.

4- Thuyền trưởng có quyền áp dụng các biện pháp khen thưởng hoặc kỷ luật đối với thuyền viên thuộc quyền; có quyền từ chối tiếp nhận hoặc buộc phải rời khỏi tầu những thuyền viên không đủ trình độ chuyên môn theo chức danh hoặc có hành vi vi phạm kỷ luật.

Điều 46.

1- Thuyền trưởng có nghĩa vụ quan tâm thích đáng để hàng được bốc lên tầu, sắp xếp và bảo quản trên tầu, dỡ khỏi tầu một cách hợp lý, mặc dù các công việc này đã được giao cho những người có trách nhiệm thực hiện.

2- Thuyền trưởng có nghĩa vụ chăm sóc chu đáo để hàng hoá trên tầu không bị hư hỏng hoặc mất mát; áp dụng biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của những người có lợi ích liên quan đến hàng hoá; phải tận dụng mọi khả năng thông báo cho những người có lợi ích liên quan biết về những sự kiện đặc biệt, liên quan đến hàng hoá.

Điều 47.

1- Thuyền trưởng có nghĩa vụ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ tầu, người và các tài sản trên tầu.

2- Trong trưởng hợp cảng đích bị chiến tranh đe doạ hoặc bị phong toả, thuyền trưởng có nghĩa vụ đưa tầu vào cảng an toàn gần nhất và thực hiện mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ tầu, người, tài sản trên tầu, tài liệu của tầu.

3- Trong trường hợp tầu có nguy cơ bị chìm đắm hoặc bị phá huỷ, thuyền trưởng có nghĩa vụ tận dụng mọi khả năng cho phép để trước hết cứu hành khách và sau đó cứu thuyền viên.

Thuyền trưởng phải là người cuối cùng rời tầu, sau khi đã tìm mọi cách cứu nhật ký hàng hải, hải đồ, tài liệu khác của tầu, đồ vật có giá trị cao và quỹ của tầu.

Điều 48.

1- Thuyền trưởng có nghĩa vụ tìm kiếm và cứu nạn những người đang trong tình trạng nguy hiểm trên biển, nếu việc thực hiện nghĩa vụ này không gây nguy hiểm nghiêm trọng cho tầu và những người đang trên tầu của mình.

Chủ tầu không chịu trách nhiệm về việc thuyền trưởng vi phạm nghĩa vụ này.

2- Thuyền trưởng của tầu đang trong tình trạng nguy hiểm trên biển có quyền yêu cầu cứu nạn và sau khi thoả thuận với các tầu đến cứu nạn, có quyền chỉ định tầu thực hiện hành động cứu hộ.

Điều 49.

1- Thuyền trưởng là người đại diện của chủ tầu và của những người có lợi ích liên quan đến hàng hoá khi giải quyết những công việc thông thường trong việc điều khiển tầu, quản trị tầu và hàng hoá.

2- Trong phạm vi các công việc nói tại khoản 1, Điều này, thuyền trưởng có quyền nhân danh chủ tầu và người có lợi ích liên quan đến hàng hoá thực hiện các hành vi pháp lý, có thể khởi kiện hoặc tham gia tố tụng trước toà án khi tầu ở ngoài cảng đăng ký, trừ trường hợp chủ tầu hoặc người có lợi ích liên quan đến hàng hoá tuyên bố hạn chế một phần hoặc toàn bộ quyền đại diện đó. Tuyên bố này còn có hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba, nếu người đó biết về sự hạn chế này.

Điều 50.

1- Trong trường hợp cần thiết, khi tầu ở ngoài cảng đăng ký, thuyền trưởng có quyền vay tín dụng hoặc nhân danh chủ tầu để vay tiền mặt, nhưng chỉ trong giới hạn đủ để sửa chữa tầu, bổ sung thuyền viên, cung ứng cho tầu hoặc vì nhu cầu khác để có thể tiếp tục chuyến đi.

2- Trong thời hạn nói tại khoản 1, Điều này, thuyền trưởng còn có quyền đem bán một phần tài sản hoặc phần dự trữ dư thừa của tầu, nếu việc chờ nhận tiền hoặc chỉ thị của chủ tầu không có lợi hoặc không hiện thực.

3- Trong thời gian thực hiện chuyến đi, nếu không còn cách nào khác để có đủ các điều kiện cần thiết cho việc kết thúc chuyến đi, thì thuyền trưởng có quyền cầm cố hoặc đem bán một phần hàng hoá sau khi đã tìm mọi cách xin chỉ thị của người thuê vận chuyển và chủ tầu mà không được.

4- Khi lựa chọn biện pháp để có khoản tiền cần thiết cho việc kết thúc chuyến đi, thuyền trưởng có nghĩa vụ giảm tới mức thấp nhất sự thiệt hại của chủ tầu và những người có lợi ích liên quan đến hàng hoá.

Điều 51.

1- Trong khi đang hành trình mà trên tầu không còn lương thực, thực phẩm dự trữ, thuyền trưởng có quyền trưng dụng một phần hàng hoá là lương thực, thực phẩm vận chuyển trên tầu; nếu thật cần thiết, thì có quyền trưng dụng lương thực, thực phẩm của những người đang ở trên tầu. Việc trưng dụng này phải được lập thành biên bản.

2- Chủ tầu có nghĩa vụ bồi thường số lương thực, thực phẩm bị trưng dụng.

Điều 52.

1- Thuyền trưởng có trách nhiệm ghi vào nhật ký hàng hải và lập biên bản với sự tham gia của nhân viên y tế của tầu và hai nhân chứng về các trường hợp sinh, tử xẩy ra trên tầu và các sự kiện có liên quan. Thuyền trưởng có nghĩa vụ lập bản kê và bảo quản tài sản của người chết để lại trên tầu.

2- Thuyền trưởng có trách nhiệm thông báo về các trường hợp sinh, tử xảy ra ở trên tầu và chuyển di chúc, bản kê tài sản của người chết cho cơ quan hộ tịch có thẩm quyền ở cảng Việt nam đầu tiên mà tầu ghé vào hoặc cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt nam, nếu tầu đến cảng nước ngoài .

3- Sau khi đã cố gắng tìm mọi cách để xin chỉ thị của chủ tầu và hỏi ý kiến của thân nhân người chết, thuyền trưởng nhân danh chủ tầu làm thủ tục và tổ chức mai táng.

Mọi chi phí liên quan được thanh toán theo quy định của pháp luật.

Điều 53.

1- Khi xảy ra hành vi phạm tội ở trên tầu, thì thuyền trưởng có trách nhiệm:

a) áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết, lập hồ sơ theo qui định của pháp luật;

b) Bảo vệ chứng cứ và tuỳ theo điều kiện cụ thể, chuyển giao người có hành vi phạm tội và hồ sơ cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở cảng Việt Nam đầu tiên mà tầu ghé vào hoặc cho tầu thuộc các lực lượng vũ trang Việt Nam gặp ở trên biển khi tầu đang hành trình hoặc thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam và làm theo chỉ thị của cơ quan này, nếu tầu đến cảng nước ngoài.

2- Trong trường hợp cần thiết để bảo đảm an toàn, trật tự cho tầu, người ở trên tầu và hàng hoá vận chuyển trên tầu, thuyền trưởng có quyền giữ bất cứ người nào có liên quan đang ở trên tầu tại một phòng dành riêng.

Điều 54.

1- Khi tầu đến cảng nước ngoài, thuyền trưởng có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam biết về việc tầu đến cảng, trừ trường hợp không có điều kiện thực hiện trách nhiệm này.

2- Thuyền trưởng có trách nhiệm xuất trình các tài liệu của tầu, nếu cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự yêu cầu.

Điều 55.

1- Ngay sau khi xảy ra các tai nạn hàng hải, phát hiện các tai nạn hàng hải hoặc sự kiện đặc biệt liên quan đến an toàn hàng hải tại khu mực mà tầu hoạt động, thuyền trưởng có nghĩa vụ thông báo ngay cho nhà chức trách nơi gần nhất biết.

2- Sau khi tầu ghé vào cảng Việt Nam đầu tiên trong chuyến đi xảy ra tai nạn hàng hải hoặc khi xảy ra tổn thất toàn bộ, thuyền trưởng có nghĩa vụ báo cáo cho các cơ quan quản lý an toàn hàng hải Việt Nam một cách đầy đủ về sự kiện đó. Thuyền trưởng và những người liên quan có thể bị cơ quan này thẩm vấn, nếu xét thấy cần thiết.

3- Tai nạn hàng hải nói tại Bộ luật này là tai nạn do đâm va và các sự cố liên quan đến tầu, gây hậu quả chết người, gậy thương tích, làm cho tầu bị hư hỏng, chìm đắm, phá huỷ, bị cháy, bị mắc cạn hoặc gây ô nhiễm môi trường.

Điều 56.

1- Trong trường hợp tầu, người ở trên tầu hoặc hàng hoá vận chuyển trên tầu bị tổn thất do gặp tai nạn hoặc nghi ngờ là có tổn thất, thì thuyền trưởng có nghĩa vụ làm "Kháng nghị hàng hải" và chậm nhất là hai mươi bốn giờ sau khi xảy ra tai nạn hoặc kể từ khi tầu ghé vào cảng đầu tiên sau khi xảy ra tai nạn, phải trình cơ quan có thẩm quyền để xác nhận việc trình kháng nghị này.

2- Bộ trưởng Bộ giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định cơ quan có thẩm quyền xác nhận việc trình "Kháng nghị hàng hải" tại các cảng biển Việt Nam, trình tự và thủ tục xác nhận vào "Kháng nghị hàng hải".

3- Khi tầu hoạt động ở nước ngoài, thuyền trưởng trình "Kháng nghị hàng hải" tại cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam hoặc trình cho cơ quan có thẩm quyền ở địa phương để xác nhận việc trình kháng nghị này.

Chương 4:

CẢNG BIỂN VÀ CẢNG VỤ

Điều 57.

1- Cảng biển nói tại Bộ luật này là cảng được mở ra để tầu biển ra, vào hoạt động. Cảng biển bao gồm các khu vực sau đây:

a) Kho bãi, cầu cảng, nhà xưởng, khu hành chính và dịch vụ hàng hải, sau đây gọi chung là vùng đất cảng;

b) Vùng nước trước cầu cảng, vùng neo đậu - chuyển tải, luồng ra, vào cảng, vùng tránh bão, sau đây gọi chung là vùng nước cảng.

2- Khu vực hàng hải nói tại Bộ luật này bao gồm vùng nước của nhiều cảng gần kề nhau và luồng quá cảng.

3- Hội đồng bộ trưởng quy định việc mở các cảng biển.

Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện công bố việc mở cảng biển, việc tạm thời cấm tầu ra, vào cảng và ban hành Quy chế hoạt động hàng hải trong từng vùng nước cảng biển hoặc khu vực hàng hải.

Điều 58.

1- Cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước chuyên ngành về hàng hải tại các khu vực hàng hải và vùng nước cảng biển là cảng vụ.

2- Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện công bố khu vực trách nhiệm của cảng vụ, sau khi tham khảo ý kiến của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương; quy định về tổ chức và chỉ đạo hoạt động của cảng vụ.

Điều 59.

Người có quyền chỉ huy cao nhất của cảng vụ là Giám đốc cảng vụ, Giám đốc cảng vụ có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Tổ chức thực hiện quy chế hoạt động của cảng vụ, kiểm tra việc chấp hành các quy định bảo đảm an toàn hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường, vệ sinh và trật tự hàng hải;

2- Không cho phép tầu vào hoặc rời cảng khi tầu không có đủ các điều kiện an toàn hàng hải cần thiết hoặc chưa thanh toán xong các khoản nợ, tiền phạt vi phạm quy chế hoạt động tại cảng;

3- Thực hiện yêu cầu tạm giữ, bắt giữ hàng hải đối với tầu biển hoặc lệnh bắt giữ tầu biển của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

4- Cấp giấy phép hoạt động cho tầu thuyền và người hoạt động trong khu vực trách nhiệm; thu hồi giấy phép đã cấp, nếu xét thấy không đủ điều kiện bảo đảm an toàn hàng hải;

5- Tổ chức tìm kiếm và cứu nạn tầu, người trong khu vực trách nhiệm;

6- Xử phát hành chính các hành vi vi phạm quy định về an toàn hàng hải, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, vệ sinh và trật tự hàng hải.

Điều 60.

1- Trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình, các cơ quan quản lý Nhà nước về hàng hải, an ninh, kiểm dịch, hải quan, thuế, văn hoá, phòng chống cháy - nổ, bảo vệ môi trường và các cơ quan quản lý Nhà nước khác hoạt động tại cảng biển theo quy định của pháp luật.

2- Các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm hoạt động thường xuyên tại cảng có quyền đặt trụ sở làm việc trong cảng, Giám đốc xí nghiệp cảng có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan này thực hiện nhiệm vụ.

3- Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quy chế phối hợp công tác giữa các cơ quan quản lý Nhà nước hoạt động tại cảng biển.

Chương 5:

HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ

Mục A: QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 61.

1- Hợp đồng vận chuyển hàng hoá là hợp đồng được ký kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển mà theo đó người vận chuyển thu tiền cước vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và dùng tầu biển để vận chuyển hàng hoá từ cảng bốc hàng đến cảng đích.

Hợp đồng vận chuyển được ký kết theo các hình thức do các bên thoả thuận và là cơ sở để xác định quan hệ pháp luật giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển.

2- Người vận chuyển là người dùng tầu biển thuộc sở hữu của mình hoặc thuê tầu thuộc sở hữu của người khác để thực hiện dịch vụ vận chuyển hàng hoá.

Người thuê vận chuyển là người nhân danh mình hoặc nhân danh người khác ký hợp đồng để thuê người vận chuyển vận chuyển hàng hoá.

3- Người thuê vận chuyển có quyền chỉ định một người khác thay mặt mình thực hiện nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển, sau đây gọi là người giao hàng.

Các quy định tại Chương này đối với người giao hàng cũng được áp dụng đối với người thuê vận chuyển, nếu trong thực tế người thuê vận chuyển tự mình giao hàng cho người vận chuyển.

Điều 62.

1- Hợp đồng vận chuyển hàng hoá có thể được ký kết với điều kiện người vận chuyển phải dành cho người thuê vận chuyển nguyên tầu hoặc một phần tầu cụ thể để vận chuyển hàng hoá theo chuyến hoặc trong thời hạn nhất định, sau đây gọi là hợp đồng thuê tầu.

2- Hợp đồng vận chuyển hàng hoá cũng có thể được ký kết với điều kiện người vận chuyển không phải dành cho người thuê vận chuyển nguyên tầu hoặc một phần tầu cụ thể mà chỉ căn cứ vào chủng loại, số lượng, kích thước hoặc trọng lượng của hàng hoá để vận chuyển, sau đây gọi là hợp đồng lưu khoang.

Điều 63.

Người thuê vận chuyển có thể chuyển giao quyền theo hợp đồng của mình cho người thứ ba mà không cần người vận chuyển đồng ý, nhưng vẫn phải có trách nhiệm về việc thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hoá theo nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm với người thứ ba đã được chuyển giao quyền.

Điều 64.

Người vận chuyển có nghĩa vụ dùng tầu đã được chỉ định trong hợp đồng để vận chuyển hàng hoá, trừ những trường hợp sau đây:

a) Đối với hợp đồng thuê tầu, thì người vận chuyển chỉ được thay thế tầu đã được chỉ định trong hợp đồng bằng tầu khác, sau khi người thuê vận chuyển đồng ý;

b) Đối với hợp đồng lưu khoang, thì người vận chuyển có quyền thay thế tầu đã được chỉ định trong hợp đồng bằng một tầu khác cùng loại, có đủ điều kiện cần thiết để vận chuyển hàng hoá, nếu hợp đồng không cấm việc thay thế tầu và phải thông báo cho người thuê vận chuyển biết.

Điều 65.

1- Thời hiệu khiếu nại liên quan đến việc thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hoá là một năm, tính từ ngày thanh toán tiền cước vận chuyển.

2- Thời hiệu khiếu nại về hư hỏng hoặc mất mát hàng hoá vận chuyển theo vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển hàng hoá tương đương là một năm, tính từ ngày trả hàng hoặc lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng.

Điều 66.

Các quy định tại Chương này không áp dụng đối với việc vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện. Hội đồng bộ trưởng quy định việc vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện bằng tầu biển.

Mục B: BỐC HÀNG

Điều 67.

1- Người vận chuyển có nghĩa vụ đưa tầu đến cảng bốc hàng trong trạng thái sẵn sàng để nhận hàng, đúng thời điểm và địa điểm; lưu tầu tại nơi bốc hàng theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá.

2- Người vận chuyển có nghĩa vụ chăm sóc chu đáo để trước và khi bắt đầu chuyến đi, tầu có đủ khả năng đi biển; có thuyền bộ thích hợp; được cung ứng đầy đủ trang thiết bị và vật phẩm dự trữ; các hầm hàng, hầm lạnh và khu vực khác dùng để vận chuyển hàng hoá có đủ các điều kiện nhận, vận chuyển và bảo quản hàng hoá phù hợp với tính chất của hàng hoá.

Điều 68.

1- Nếu trong hợp đồng không có thoả thuận cụ thể về nơi bốc hàng tại cảng bốc hàng, thì người vận chuyển đưa tầu đến địa điểm được tập quán địa phương coi là nơi bốc hàng.

2- Nếu việc vận chuyển được thực hiện theo hợp đồng thuê tầu, thì người vận chuyển đưa tầu đến nơi bốc hàng do người thuê vận chuyển chỉ định. Nơi bốc hàng này phải an toàn, không gây trở ngại cho việc tầu vào, ra, chờ đợi cùng với hàng hoá. Trong trường hợp có nhiều người thuê vận chuyển mà họ không thoả thuận được về nơi bốc hàng hoặc khi người thuê vận chuyển không chỉ định rõ nơi bốc hàng, thì người vận chuyển đưa tầu đến địa điểm được tập quán địa phương coi là nơi bốc hàng.

3- Người thuê vận chuyển trong trường hợp thuê tầu, trừ tầu chuyên tuyến, có thể yêu cầu người vận chuyển thay đổi vị trí tầu, mặc dù nơi bốc hàng đã được ghi rõ trong hợp đồng. Người thuê vận chuyển phải thanh toán đầy đủ các chi phí liên quan đến việc thực hiện yêu cầu này.

4- Người thuê vận chuyển trong hợp đồng lưu khoang chỉ được yêu cầu người vận chuyển thay đổi vị trí tầu, nếu đã có thoả thuận trong hợp đồng hoặc được tập quán địa phương cho phép.

Điều 69.

1- Nếu việc vận chuyển hàng hoá được thực hiện theo hợp đồng thuê tầu, thì người vận chuyển có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng về việc tầu đã đến cảng bốc hàng và sẵn sàng để nhận hàng, sau đây gọi là "Thông báo sẵn sàng".

Ngày, giờ có hiệu lực của "Thông báo sẵn sàng" do các bên thoả thuận trong hợp đồng; nếu không có thoả thuận, thì được xác định theo tập quán địa phương.

Người vận chuyển phải bồi thường mọi thiệt hại phát sinh do nội dung của "Thông báo sẵn sàng" không dúng với sự thật ở thời điểm người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng nhận được văn bản này.

2- Nếu việc vận chuyển hàng hoá được thực hiện theo hợp đồng lưu khoang, thì người vận chuyển có nghĩa vụ thông báo trong thời gian hợp lý cho người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng biết trước về nơi bốc hàng lên tầu, thời điểm mà tầu sẵn sàng nhận hàng và thời hạn tập kết hàng hoá.

Trách nhiệm thông báo này không áp dụng đối với tầu chuyên tuyến, trừ trường hợp lịch tầu có sự thay đổi.

Điều 70.

1- Thời hạn bốc hàng do các bên thoả thuận trong hợp đồng thuê tầu; nếu không có thoả thuận, thì áp dụng tập quán địa phương.

2- Thời gian gián đoạn do người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng gây ra, cũng như thời gian tầu thay đổi vị trí theo yêu cầu của người thuê vận chuyển đều được tính vào thời hạn bốc hàng.

3- Thời gian gián đoạn do người vận chuyển gây ra hoặc do các nguyên nhân bất khả kháng hoặc do điều kiện thời tiết làm ảnh hưởng đến việc bốc hàng đúng kỹ thuật hoặc có thể gây nguy hiểm cho việc bốc hàng đều không được tính vào thời hạn bốc hàng.

4- Người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng có thể thoả thuận với người vận chuyển về chế độ thưởng cho việc bốc hàng xong trước thời hạn hoặc phạt đối với việc bốc hàng quá thời hạn bốc hàng đã thoả thuận.

Điều 71.

1- Các bên tham gia hợp đồng thuê tầu có thể thoả thuận trong hợp đồng về thời gian cho phép kéo dài thêm ngoài thời hạn bốc hàng nói tại Điều 70 của Bộ luật này, sau đây gọi là thời hạn dôi nhật. Nếu trong hợp đồng không quy định cụ thể số ngày, giờ, thì thời hạn dôi nhật được các bên liên quan xác định theo tập quán địa phương.

2- Tiền thanh toán về thời hạn dôi nhật do các bên thoả thuận trong hợp đồng; nếu không có thoả thuận, thì xác định theo tập quán địa phương.

Nếu tập quán địa phương cũng không có quy ước, thì khoản tiền này được xác định trên cơ sở tổng chi phí thực tế để duy trì tầu và thuyền bộ trong thời hạn dôi nhật.

3- Thời gian tầu phải lưu lại cảng bốc hàng sau thời hạn bốc hàng và thời hạn dôi nhật do người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng gây ra gọi là thời gian lưu tầu. Người vận chuyển có quyền đòi bồi thường các thiệt hại phát sinh do lưu tầu.

Điều 72.

Người thuê vận chuyển có quyền thay thế hàng hoá đã được ghi trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng loại hàng hoá khác có tính chất tương đương, không ảnh hưởng đến quyền lợi của người vận chuyển và những người thuê vận chuyển khác.

Tiền cước vận chuyển đối với loại hàng hoá thay thế không được thấp hơn giá cước đã thoả thuận đối với loại hàng hoá bị thay thế.

Điều 73.

1- Hàng hoá phải được sắp xếp trên tầu theo "Sơ đồ hàng hoá" do thuyền trưởng quyết định. Việc xếp hàng hoá trên boong phải được người giao hàng đồng ý bằng văn bản.

2- Người vận chuyển có nghĩa vụ chăm sóc chu đáo tới việc bốc hàng; sắp xếp, chằng buộc và ngăn cách hàng hoá ở trên tầu. Các chi phí liên quan do hai bên thoả thuận trong hợp đồng.

Điều 74.

Người vận chuyển có quyền cho tầu rời nơi bốc hàng sau khi thời hạn bốc hàng và thời hạn dôi nhật trong hợp đồng thuê tầu hoặc thời hạn tập kết hàng hoá trong hợp đồng lưu khoang đã kết thúc, mặc dù toàn bộ hàng hoá hoặc một phần hàng hoá được thuê vận chuyển chưa được bốc lên tầu do những nguyên nhân thuộc về người thuê vận chuyển. Trong trường hợp này, người vận chuyển vẫn được thu đủ tiền cước vận chuyển, kể cả tiền cước của số hàng hoá chưa được bốc lên tầu, cước thu đối với số hàng hoá đó gọi là cước khống.

Điều 75.

1- Trong trường hợp cho thuê nguyên tầu, người vận chuyển có quyền thu đủ cước, nhưng phải thực hiện các yêu cầu sau đây của người thuê vận chuyển:

a) Cho tầu khởi hành trước thời hạn;

b) Bốc lên tầu số hàng hoá đã tập kết ở nơi bốc hàng, mặc dù thời hạn dôi nhật đã kết thúc, nếu việc bốc số hàng đó chỉ làm lưu tầu trong thời hạn không quá mười bốn ngày và vẫn được hưởng quyền lợi nói tại khoản 3, Điều 71 của Bộ luật này.

2- Trong trường hợp cho thuê một phần tầu, người vận chuyển có quyền thu đủ cước và từ chối bốc lên tầu số hàng hoá được đưa đến sau thời hạn bốc hàng hoặc sau thời hạn dôi nhật đã thoả thuận do nguyên nhân thuộc về người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng.

Điều 76.

1- Chỉ được xếp hàng vào những khu vực dành riêng cho việc vận chuyển hàng hoá ở trên tầu, ngay cả khi người thuê vận chuyển thuê nguyên tầu.

2- Người thuê vận chuyển có quyền đòi người vận chuyển giảm tiền cước vận chuyển và bồi thường các thiệt hại phát sinh do không nhận đủ phần tầu đã thuê theo hợp đồng thuê tầu.

Điều 77.

1- Hàng hoá phải được đóng gói và đánh dấu ký, mã hiệu hàng hoá theo quy định hiện hành.

2- Người vận chuyển có quyền từ chối bốc lên tầu những hàng hoá không bảo đảm các tiêu chuẩn đóng gói cần thiết.

3- Đối với hàng hoá dễ nổ, dễ cháy và các loại hàng hoá nguy hiểm khác hoặc loại hàng hoá cần phải có biện pháp đặc biệt khi bốc, vận chuyển, bảo quản và dỡ hàng, thì ngoài trách nhiệm nói tại khoản 1, Điều này, người thuê vận chuyển còn có nghĩa vụ cung cấp trong một thời gian thích hợp cho người vận chuyển các tại liệu và chỉ dẫn cần thiết về hàng hoá.

Người thuê vận chuyển phải bồi thường các tổn thất phát sinh do việc cung cấp chậm trễ, thiếu chính xác hoặc không hợp lệ các tài liệu và chỉ dẫn cần thiết.

Điều 78.

1- Người thuê vận chuyển dù cố ý hoặc vô ý đều phải chịu trách nhiệm đối với người vận chuyển, hành khách, thuyền viên và các chủ hàng khác về những tổn thất phát sinh do khai báo hàng hoá không chính xác hoặc không đúng sự thật.

2- Người giao hàng cũng phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 1, Điều này, nếu có lỗi gây ra tổn thất.

3- Người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng chỉ chịu trách nhiệm về tổn thất nói tại khoản 1, Điều này, nếu người vận chuyển chứng minh được là họ có lỗi gây ra tổn thất đó.

Điều 79.

1- Người vận chuyển có quyền dỡ khỏi tầu, huỷ bỏ hoặc làm mất khả năng gây hại của hàng hoá dễ nổ, dễ cháy hoặc hàng hoá nguy hiểm khác mà không phải bồi thường và vẫn được thu đủ cước, nếu số hàng hoá đó đã được khai báo sai hoặc do người vận chuyển không được thông báo trước và cũng không thể nhận biết về những đặc tính nguy hiểm của hàng hoá khi bốc hàng qua sự hiểu biết nghiệp vụ thông thường.

Người thuê vận chuyển phải chịu trách nhiệm về các tổn thất phát sinh.

2- Trong trường hợp người vận chuyển đã nhận bốc lên tầu những hàng hoá nguy hiểm, mặc dù đã được thông báo trước hoặc đã nhận biết tính chất nguy hiểm của hàng hoá đó qua sự hiểu biết nghiệp vụ thông thường và đã thực hiện các biện pháp bảo quản theo đúng quy định, nhưng khi hàng hoá đó đe doạ sự an toàn của tầu, người và hàng hoá trên tầu, thì người vận chuyển cũng có quyền xử lý như quy định tại khoản 1, Điều này. Trong trường hợp này, người vận chuyển chịu trách nhiệm về tổn thất phát sinh theo các nguyên tắc về tổn thất chung và chỉ được thu cước cự ly.

Mục C: VẬN ĐƠN

Điều 80.

1- Theo yêu cầu của người giao hàng, người vận chuyển có nghĩa vụ ký phát cho người giao hàng một bộ vận đơn.

2- Người vận chuyển và người giao hàng có thể thoả thuận việc thay thế vận đơn bằng giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hoá tương đương và thoả thuận về nội dung, giá trị của các chứng từ này theo tập quán hàng hải quốc tế.

Điều 81.

1- Vận đơn là bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận lên tầu số hàng hoá với số lượng, chủng loại, tình trạng như ghi rõ trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng.

2- Vận đơn gốc là chứng từ có giá trị, dùng để định đoạt và nhận hàng.

3- Vận đơn xác định mối quan hệ pháp luật giữa người vận chuyển và người nhận hàng. Các quy định trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá chỉ có tác dụng ràng buộc người nhận hàng, nếu trong vận đơn có ghi rõ điều đó.

Điều 82.

1- Vận đơn phải bao gồm nội dung cơ bản sau:

a) Tên người vận chuyển và trụ sở giao dịch chính;

b) Tên người giao hàng;

c) Tên người nhận hàng hoặc ghi rõ vận đơn được ký phát dưới dạng vận đơn theo lệnh hoặc vận đơn vô danh;

d) Tên tầu;

e) Sự mô tả về chủng loại, kích thước, thể tích, số lượng đơn vị, trọng lượng hoặc giá trị, nếu xét thấy cần thiết;

g) Sự mô tả tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng hoá;

h) Ký, mã hiệu và đặc điểm nhận biết hàng hoá mà người giao hàng đã thông báo bằng văn bản trước khi bốc hàng và được đánh dấu trên từng đơn vị hàng hoá hoặc bao bì;

i) Tiền cước vận chuyển và các khoản thu khác của người vận chuyển; ghi chú phương thức thanh toán;

k) Nơi bốc hàng và cảng bốc hàng;

l) Cảng đích hoặc chỉ dẫn thời gian, địa điểm sẽ chỉ định cảng đích;

m) Số bản vận đơn gốc đã ký phát cho người giao hàng;

n) Thời điểm và địa điểm ký phát vận đơn;

o) Chữ ký của người vận chuyển hoặc của thuyền trưởng hoặc đại diện khác có thẩm quyền của người vận chuyển.

2- Nếu tên người vận chuyển không được xác định cụ thể trong vận đơn, thì chủ tầu được coi là người vận chuyển. Trong trường hợp vận đơn được lập theo quy định tại khoản 1, Điều này ghi không chính xác hoặc không đúng sự thật về người vận chuyển, thì chủ tầu chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất phát sinh và sau đó được đòi người vận chuyển bồi hoàn.

Điều 83.

1- Vận đơn có thể được ký phát dưới các dạng sau đây:

a) Ghi rõ tên người nhận hàng, gọi là vận đơn đích danh;

b) Ghi rõ người giao hàng hoặc những người do người giao hàng chỉ định sẽ phát lệnh trả hàng, gọi là vận đơn theo lệnh;

c) Không ghi rõ tên người nhận hàng hoặc người phát lệnh trả hàng, gọi là vận đơn xuất trình.

2- Nếu trong vận đơn theo lệnh không ghi rõ tên người phát lệnh trả hàng, thì người giao hàng mặc nhiên được coi là người có quyền đó.

Điều 84.

Vận đơn có thể được chuyển nhượng theo các nguyên tắc sau đây:

a) Vận đơn đích danh được chuyển nhượng bằng cách sang tên quyền sở hữu theo thủ tục do pháp luật quy định. Người có tên trong vận đơn đích danh là người nhận hàng hợp pháp;

b) Vận đơn theo lệnh được chuyển nhượng bằng cách ghi vào ô ký hậu của vận đơn về người có quyền phát lệnh trả hàng. Người cuối cùng có quyền phát lệnh trả hàng trong vận đơn theo lệnh là người nhận hàng hợp pháp, mặc dù vẫn còn ô ký hậu để trống;

c) Vận đơn vô danh được chuyển nhượng bằng cách trao cho người được chuyển nhượng. Người xuất trình vận đơn vô danh là người nhận hàng hợp pháp.

Điều 85.

1- Các đặc điểm của hàng hoá được ghi vào vận đơn theo "Giấy khai hàng" của người giao hàng.

2- Người giao hàng phải chịu trách nhiệm đối với người vận chuyển về tổn thất phát sinh do đã khai không chính xác hoặc không đúng sự thật về chủng loại, kích thước, thể tích, số lượng đơn vị, trọng lượng, ký, mã hiệu của hàng hoá.

Người vận chuyển vẫn phải chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng vận chuyển đối với những người khác, không phải là người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng.

Điều 86.

1- Người vận chuyển có quyền ghi chú vào vận đơn các nhận xét của mình về tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng hoá, nếu có nghi vấn.

2- Người vận chuyển có quyền từ chối ghi vào vận đơn sự mô tả về hàng hoá, nếu có đủ căn cứ nghi ngờ tính chính xác về lời khai báo của người giao hàng ở thời điểm bốc hàng hoặc khi không có điều kiện xác minh.

3- Người vận chuyển có quyền từ chối ghi vào vận đơn ký, mã hiệu hàng hoá, nếu chúng chưa được đánh dấu rõ ràng trên từng kiện hàng hoặc bao bì, bảo đảm dễ nhận thấy khi chuyến đi kết thúc.

4- Nếu hàng hoá được đóng gói trước khi giao cho người vận chuyển, thì người vận chuyển có quyền ghi vào vận đơn là không biết rõ nội dung bên trong.

Điều 87.

1- Việc vận chuyển hàng hoá được thực hiện với sự tham gia của người vận chuyển đường bộ, đường sông hoặc đường không, gọi là liên hiệp vận chuyển.

Vận đơn được ký phát cho cả quá trình vận chuyển hàng hoá trong liên hiệp vận chuyển, gọi là vận đơn suốt.

2- Các quy định về vận đơn nói tại Bộ luật này cũng được áp dụng đối với loại vận đơn suốt do người vận chuyển đường biển ký phát, trừ trường hợp có những văn bản pháp luật khác qui định cụ thể.

Điều 88.

1- Người vận chuyển đã ký phát vận đơn suốt có nghĩa vụ tổ chức việc vận chuyển hàng hoá và chịu trách nhiệm về hàng hoá trong cả quá trình vận chuyển theo vận đơn suốt, cho đến khi hàng đã được trả cho người nhận hàng hợp pháp.

2- Phạm vi trách nhiệm giữa người ký phát vận đơn suốt và những người vận chuyển khác trong liên hiệp vận chuyển do các bên thoả thuận theo nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm.

3- Người vận chuyển nào đã phải bồi thường tổn thất liên quan đến vận đơn suốt theo nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm, thì có quyền yêu cầu những người vận chuyển khác hoàn trả số tiền bồi thường theo tỉ lệ tiền cước vận chuyển tương ứng với quãng vận chuyển do họ thực hiện.

Người vận chuyển nào chứng minh được mình đã không có lỗi, thì không phải hoàn trả số tiền đó.

4- Người vận chuyển tham gia liên hiệp vận chuyển có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các trách nhiệm của mình và tận tâm chuẩn bị cho các quãng vận chuyển khác được thực hiện có kết quả.

Người vận chuyển trong quãng cuối cùng của liên hiệp vận chuyển có nghĩa vụ bảo vệ các quyền của những người vận chuyển khác, đặc biệt là quyền cầm giữ hàng hoá.

Mục D: THỰC HIỆN VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ

Điều 89.

1- Người vận chuyển phải thực hiện việc vận chuyển hàng hoá trong thời gian hợp lý, theo đúng tuyến đường quy định trong hợp đồng hoặc theo tuyến đường thường lệ, nếu trong hợp đồng không có thoả thuận khác.

2- Người vận chuyển không bị coi là vi phạm hợp đồng, nếu tầu phải đi trệch đường để cứu người, tài sản trên biển hoặc do các nguyên nhân chính đáng khác mà không ảnh hưởng đến hợp đồng vận chuyển. Người vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất hàng hoá phát sinh do tầu phải đi trệch đường trong các trường hợp này.

Điều 90.

1- Trong trường hợp tầu không vào được cảng đích do những nguyên nhân không thể vượt qua được và cũng không có khả năng chờ đợi để vào cảng đích sau một thời gian hợp lý, thì người vận chuyển được phép đưa tầu vào một cảng an toàn gần nhất và phải thông báo cho người thuê vận chuyển biết để xin chỉ thị.

2- Trong trường hợp cho thuê nguyên tầu, thì tuỳ theo điền kiện cụ thể, thuyền trưởng phải xin chỉ thị và hành động theo chỉ thị của người thuê vận chuyển. Nếu không có khả năng thực hiện chỉ thị của người vận chuyển hoặc sau một thời gian chờ đợi hợp lý mà vẫn không nhận được chỉ thị của người thuê vận chuyển, thì thuyền trưởng có thể dỡ hàng lên khỏi tầu hoặc vận chuyển hàng quay lại cảng bốc hàng, tuỳ theo sự suy xét của mình, sao cho quyền lợi của người thuê vận chuyển được bảo vệ chính đáng. Người thuê vận chuyển phải trả cho người vận chuyển cước cự ly và chi phí liên quan.

3- Trong trường hợp không cho thuê nguyên tầu, thì thuyền trưởng cũng có quyền hành động như quy định tại khoản 1, Điều này, nếu năm ngày sau khi gửi thông báo xin chỉ thị mà vẫn không nhận được chỉ thị của người thuê vận chuyển. Người thuê vận chuyển phải trả cho người vận chuyển đủ cước và chi phí liên quan.

Mục E: DỠ HÀNG VÀ TRẢ HÀNG

Điều 91.

Các quy định tại Chương này liên quan đến việc bốc hàng cũng được áp dụng tương tự đối với việc dỡ hàng và trả hàng.

Điều 92.

1- Người thuê vận chuyển có quyền định đoạt hàng hoá cho tới khi hàng được trả cho người nhận hợp pháp, nếu chưa chính thức giao quyền này cho người khác; có quyền yêu cầu dỡ hàng trước khi tầu bắt đầu chuyến đi, thay đổi người nhận hàng hoặc cảng đích sau khi chuyến đi đã bắt đầu với điều kiện phải bồi thường mọi tổn thất và chi phí liên quan.

2- Trong trường hợp hàng hoá được vận chuyển theo vận đơn, thì các quyền nói tại khoản 1, Điều này thuộc về người nhận hàng hợp pháp nào có vận đơn gốc. Người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ thực hiện các chỉ thị của người đó sau khi đã thu lại toàn bộ số vận đơn gốc đã ký phát.

3- Các quyền nói tại khoản 1, Điều này, không được áp dụng, nếu việc thực hiện gây ra sự chậm chễ đáng kể cho việc bắt đầu chuyến đi, trừ khi người vận chuyển đồng ý.

Điều 93.

Khi tầu đến cảng đích, người vận chuyển có nghĩa vụ trả hàng cho người nhận hàng hợp pháp nào có ít nhất một bản vận đơn gốc hoặc giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hoá tương đương có giá trị để nhận hàng quy định tại khoản 2, Điều 80 của Bộ luật này.

Sau khi hàng đã được trả, các bản khác không còn giá trị để nhận hàng.

Điều 94.

1- Khi nhận hàng, người nhận hàng phải thanh toán cho người vận chuyển tiền cước vận chuyển, tiền bồi thường do lưu tầu hoặc các khoản chi phí khác liên quan đến việc vận chuyển hàng hoá, nếu các khoản tiền đó chưa được thanh toán trước.

Trong trường hợp hàng hoá được vận chuyển theo vận đơn, thì người nhận hàng chỉ phải thanh toán các chi phí quy định trong vận đơn.

2- Người vận chuyển có quyền từ chối trả hàng và có quyền lưu giữ hàng, nếu người thuê vận chuyển và người nhận hàng chưa thanh toán đủ các khoản nợ hoặc khi chưa nhận được sự bảo đảm thoả đáng.

Các khoản nợ không trả đúng hạn được tính thêm lãi, theo lãi suất áp dụng tại ngân hàng giao dịch liên quan.

Các khoản nợ này bao gồm cả các chi phí đóng góp vào tổn thất chung và tiền công cứu hộ được phân bổ cho hàng hoá.

3- Người vận chuyển mất quyền khiếu nại người thuê vận chuyển, nếu hàng đã được trả cho người nhận hàng.

Điều 95.

1- Trước khi trả hàng, người nhận hàng và người vận chuyển đều có thể yêu cầu giám định hàng hoá. Người yêu cầu phải thanh toán giám định phí.

Người vận chuyển phải thanh toán giám định phí, ngay cả khi người nhận hàng yêu cầu giám định, nếu không chứng minh được rằng hàng hoá bị mất mát, hư hỏng ngoài phạm vi trách nhiệm của mình.

2- Hàng hoá được coi là đã trả đủ và đúng như ghi trong vận đơn, nếu người nhận hàng không thông báo bằng văn bản cho người vận chuyển về các mất mát, hư hỏng hàng hoá ngay khi nhận hàng hoặc chậm nhất là ba ngày tính từ ngày nhận hàng, nếu không thể phát hiện thiệt hại từ bên ngoài. Đối với hàng hoá đã giám định nói tại khoản 1, Điều này, thì không cần thông báo bằng văn bản.

Mọi thoả thuận trái với quy định này đều không có giá trị.

Điều 96.

1- Nếu người nhận hàng không đến nhận hoặc từ chối nhận hàng hoặc trì hoãn việc dỡ hàng, thì người vận chuyển có quyền dỡ hàng và ký gửi vào một nơi an toàn, thích hợp và thông báo cho người thuê vận chuyển biết. Mọi chi phí và tổn thất phát sinh do người nhận hàng chịu trách nhiệm bồi thường.

2- Người vận chuyển có quyền hành động theo quy định tại khoản 1, Điều này, nếu có nhiều người cùng xuất trình vận đơn gốc hoặc giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hoá tương đương có giá trị để nhận hàng.

3- Việc bồi thường tổn thất do lưu tầu để dỡ hàng và ký gửi hàng nói tại khoản 1, Điều này cũng được giải quyết tương tự như trường hợp lưu tầu để bốc hàng.

4- Trong thời hạn sáu mươi ngày, tính từ ngày tầu đến cảng đích, nếu không có người nhận số hàng ký gửi hoặc người nhận hàng không thanh toán hết các khoản nợ hoặc không đưa ra một bảo đảm cần thiết, thì người vận chuyển có quyền bán đấu giá số hàng đó để trừ nợ; nếu là hàng hoá mau hỏng hoặc việc ký gửi là quá tốn kém so với giá trị thực tế của hàng, thì người vận chuyển có quyền bán đấu giá trước thời hạn đó.

Người vận chuyển có nghĩa vụ thông báo cho người thuê vận chuyển biết về những trường hợp nói tại khoản 1, 2 và 4, Điều này và dự định bán hàng để trừ nợ theo quy định tại khoản 4, Điều này.

5- Hội đồng bộ trưởng quy định cụ thể thủ tục bán đấu giá các loại hàng hoá nói tại Điều này.

Điều 97.

1- Sau khi khấu trừ các khoản nợ của người nhận hàng và các chi phí liên quan đến việc ký gửi và bán đấu giá hàng hoá nói tại Điều 96 của Bộ luật này, số tiền còn thừa phải được gửi vào ngân hàng để trả lại cho người có quyền nhận số tiền đó.

2- Nếu tiền bán hàng không đủ để thanh toán các khoản tiền nói tại khoản 1, Điều này, thì người vận chuyển có quyền tiếp tục khiếu nại đòi những người liên quan phải trả đủ.

3- Trong thời hạn một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày bán đấu giá hàng hoá mà không có ai yêu cầu nhận lại số tiền còn thừa, thì người vận chuyển đem nộp vào kho bạc Nhà nước theo thủ tục do pháp luật quy định.

Mục G: CƯỚC PHÍ VÀ PHỤ PHÍ VẬN CHUYỂN

Điều 98.

1- Giá cước và phụ phí vận chuyển hàng hoá được xác định trên cơ sở biểu giá do Hội đồng bộ trưởng quy định. Nếu giá cước và phụ phí vận chuyển hàng hoá không được Hội đồng bộ trưởng quy định, thì do các bên tự thoả thuận trong hợp đồng.

2- Thời hạn, phương thức thanh toán tiền cước và phụ phí vận chuyển do các bên thoả thuận trong hợp đồng.

Điều 99.

1- Đối với số hàng hoá bị thiệt hại do có tai nạn trong khi tầu đang hành trình, thì dù với bất cứ nguyên nhân nào cũng được miễn tiền cước vận chuyển; nếu đã thu thì phải hoàn trả lại. Trong trường hợp hàng hoá lại được cứu thoát hoặc được hoàn trả lại, thì người vận chuyển chỉ được thu cước cự ly, nếu người có quyền lợi liên quan đến hàng hoá đó không thu được lợi ích gì từ quãng đường mà hàng hoá đó đã được tầu vận chuyển.

2- Cước cự ly là tiền cước vận chuyển được tính trên cơ sở tỉ lệ giữa quãng đường mà hàng hoá được vận chuyển trong thực tế so với toàn bộ quãng đường vận chuyển đã thoả thuận trong hợp đồng, cũng như trên cơ sở tỷ lệ giữa sự đầu tư chi phí, thời gian, sự rủi ro hoặc khó khăn thông thường liên quan đến quãng vận chuyển đã thực hiện so với quãng vận chuyển còn lại.

3- Trong trường hợp hàng hoá hư hỏng hoặc hao hụt do đặc tính riêng hoặc hàng hoá là súc vật mà bị chết trong khi vận chuyển, thì người vận chuyển vẫn có quyền thu đủ tiền cước vận chuyển.

Điều 100.

1- Trong trường hợp hàng hoá được bốc lên tầu vượt qúa khối lượng đã thoả thuận trong hợp đồng, thì người vận chuyển cũng chỉ có quyền thu tiền cước vận chuyển theo giá cước đã thoả thuận đối với số hàng hoá đó.

2- Trong trường hợp hàng hoá được bốc lậu lên tầu, thì người vận chuyển có quyền thu gấp đôi tiền cước vận chuyển từ cảng bốc hàng đến cảng đích và được bồi thường các tổn thất phát sinh do việc xếp số hàng hoá bốc lậu đó trên tầu. Người vận chuyển còn có quyền dỡ số hàng hoá bốc lậu đó tại bất cứ cảng nào, nếu xét thấy cần thiết.

Mục H: CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG

Điều 101.

1- Người thuê vận chuyển có quyền rút khỏi hợp đồng trong các trường hợp sau đây:

a) Người vận chuyển không đưa tầu đến nơi bốc hàng đúng thời điểm thoả thuận hoặc chậm trễ trong việc bốc hàng hoặc bắt đầu chuyến đi; người thuê vận chuyển có quyền được bồi thường các tổn thất phát sinh;

b) Khi hàng đã xếp xong mà vẫn chưa bắt đầu chuyến đi hoặc khi tầu đang thực hiện chuyến đi, người thuê vận chuyển có quyền yêu cầu dỡ hàng và phải trả đủ tiền cước vận chuyển, chi phí liên quan cho người vận chuyển.

2- Người vận chuyển có quyền từ chối, không thực hiện yêu cầu dỡ hàng của người thuê vận chuyển nói tại điểm b, khoản 1, Điều này, nếu xét thấy việc đó làm chậm trễ chuyến đi hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi của những người liên quan do phải thay đổi lịch trình đã định.

Điều 102.

1- Trong trường hợp thuê nguyên tầu, người thuê vận chuyển có quyền rút khỏi hợp đồng trước khi tầu bắt đầu chuyến đi, nhưng phải bồi thường các chi phí liên quan, ngoài ra tuỳ theo thời điểm rút khỏi hợp đồng, người thuê vận chuyển còn phải trả tiền cước theo các nguyên tắc sau:

a) Phải trả một nửa tiền cước vận chuyển, nếu rút khỏi hợp đồng trước khi tính thời hạn bốc hàng;

b) Phải trả đủ tiền cước vận chuyển, nếu rút khỏi hợp đồng sau khi tính thời hạn bốc hàng hoặc rút khỏi hợp đồng sau

khi tính thời hạn dôi nhật, nếu hợp đồng chỉ ký kết cho một chuyến;

c) Phải trả đủ tiền cước vận chuyển của cả chuyến đi mà người thuê vận chuyển rút khỏi hợp đồng trước khi bắt đầu chuyến đi cộng thêm một nửa tiền cước vận chuyển của tất cả các chuyến đi tiếp theo, nếu hợp đồng được ký kết cho nhiều chuyến.

2- Trong trường hợp người thuê vận chuyển rút khỏi hợp đồng theo quy định tại khoản 1, Điều này, thì người vận chuyển có nghĩa vụ lưu tầu tại nơi bốc hàng cho đến khi hàng hoá đã được dỡ xong, mặc dù việc đó vượt quá thời hạn bốc hàng và thời hạn dôi nhật.

Điều 103.

Trong trường hợp không thuê nguyên tầu, thì người thuê vận chuyển có quyền rút khỏi hợp đồng và phải bồi thường các chi phí liên quan, ngoài ra tuỳ theo thời điểm rút khỏi hợp đồng, người thuê vận chuyển còn phải trả tiền cước vận chuyển theo các nguyên tắc sau đây:

a) Phải trả một nửa tiền cước vận chuyển, nếu rút khỏi hợp đồng sau thời hạn tập kết hàng hoá đã thoả thuận;

b) Phải trả đủ tiền cước vận chuyển, nếu rút khỏi hợp đồng trong khi tầu đang thực hiện chuyến đi.

Điều 104.

Người vận chuyển có quyền rút khỏi hợp đồng trước khi bắt đầu chuyến đi, nếu số hàng hoá đã bốc lên tầu chưa đủ theo hợp đồng và tổng giá trị của số hàng hoá đó không đủ để bảo đảm cho tiền cước vận chuyển và các chi phí liên quan mà người vận chuyển phải chi cho hàng hoá, trừ khi người thuê vận chuyển đã trả đủ tiền cước vận chuyển hoặc có một sự bảo đảm thoả đáng. Người thuê vận chuyển phải trả mọi chi phí liên quan đến việc dỡ hàng và một nửa tiền cước vận chuyển đã thoả thuận.

Điều 105.

1- Các bên tham gia hợp đồng đều có quyền rút khỏi hợp đồng mà không phải bồi thường, nếu trước khi tầu bắt đầu rời khỏi nơi bốc hàng đã xẩy ra các sự kiện sau đây:

a) Chiến tranh đe doạ sự an toàn của tầu hoặc hàng hoá; cảng bốc hàng hoặc cảng đích được công bố là bị phong toả;

b) Tầu bị giữ lại theo lệnh của nhà chức trách địa phương mà không do lỗi của các bên tham gia hợp đồng;

c) Tầu bị Nhà nước trưng dụng;

d) Có lệnh cấm vận chuyển hàng hoá ra khỏi cảng bốc hàng hoặc vào cảng đích.

2- Bên rút khỏi hợp đồng trong các trường hợp nói tại khoản 1, Điều này, phải chịu mọi chi phí dỡ hàng.

3- Các bên cũng có quyền rút khỏi hợp đồng, nếu các sự kiện nói tại khoản 1, Điều này xảy ra trong khi tầu đang hành trình; người thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả tiền cước cự ly và chi phí dỡ hàng.

Điều 106.

1- Hợp đồng mặc nhiên chấm dứt, không bên nào phải bồi thường thiệt hại, nếu sau khi hợp đồng đã ký kết và trước khi tầu rời khỏi nơi bốc hàng mà không bên nào có lỗi gây ra các trường hợp sau đây:

a) Tầu được chỉ định trong hợp đồng bị chìm đắm, mất tích, bị cưỡng đoạt hoặc được coi là hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa là không kinh tế.

b) Hàng hoá ghi cụ thể trong hợp đồng bị mất.

2- Trong trường hợp tầu đang hành trình, mà xẩy ra các trường hợp nói tại khoản 1, Điều này, thì người vận chuyển chỉ có quyền thu cước cự ly. Nếu chỉ có tầu bị tổn thất mà hàng hoá được cứu thoát hoặc được hoàn trả, thì người vận chuyển có quyền thu cước cự ly đối với số hàng hoá đó.

Điều 107.

Trong trường hợp hợp đồng chấm dứt theo các quy định tại Mục này, người vận chuyển vẫn phải có nghĩa vụ chăm sóc hàng hoá cho đến khi chuyển giao lại.

Mục I: TRÁCH NHIỆM BỒI THƯƠNG TỔN THẤT HÀNG HOÁ

Điều 108.

1- Người vận chuyển có trách nhiệm chăm sóc chu đáo hàng hoá và chịu trách nhiệm về các tổn thất do hư hỏng, mất mát hàng hoá từ khi nhận bốc lên tầu cho đến khi giao cho người nhận hàng. Người vận chuyển có nghĩa vụ bồi thường tổn thất hàng hoá, nếu không chứng minh được rằng mình không có lỗi gây ra các tổn thất đó.

2- Người vận chuyển được miễn hoàn toàn trách nhiệm, nếu tổn thất hàng hoá xẩy ra do:

a) Hành động, sự sơ suất hoặc sai lầm của thuyền trưởng, thuyền viên khác, hoa tiêu hoặc những người làm công cho người vận chuyển trong việc điều khiển hoặc quản trị tầu;

b) Hoả hoạn mà bản thân người vận chuyển không gây ra;

c) Tai hoạ hoặc tai nạn hàng hải trên biển và vùng nước liên quan đến biển mà tầu biển được phép hoạt động;

d) Thiên tai bất khả kháng;

e) Chiến tranh;

g) Hành động xâm phạm trật tự và an toàn công cộng;

h) Hành động bắt giữ hoặc các hành động cưỡng chế khác của nhà chức trách, nhân dân hoặc toà án;

i) Hạn chế về phòng dịch;

k) Hành động hoặc sự sơ suất của người giao hàng, chủ sở hữu hàng, đại lý hoặc đại diện của họ;

l) Đình công, đóng cửa xí nghiệp hoặc các hành động tương tự khác làm hạn chế hoàn toàn hoặc một phần công việc do bất cứ nguyên nhân nào;

m) Bạo động hoặc gây rối;

n) Hành động cứu hoặc nhằm mục đích cứu tính mạng con người hoặc tài sản trên biển;

o) Hao hụt về khối lượng, trọng lượng hoặc bất cứ mất mát, hư hỏng nào khác của hàng hoá xảy ra do chất lượng, khuyết tật ẩn hoặc khuyết tật khác của hàng hoá;

p) Hàng hoá không được đóng gói đúng quy cách;

q) Hàng hoá không được đánh dấu ký, mã hiệu đúng quy cách hoặckhông phù hợp;

r) Khuyết tật ẩn của tầu mà những người có trách nhiệm không phát hiện được, mặc dù đã thực hiện nhiệm vụ một cách mẵn cán;

s) Bất kỳ nguyên nhân nào khác xảy ra mà người vận chuyển không có lỗi hoặc không đồng tình với việc gây ra tổn thất hoặc không phải do đại lý và những người làm công khác cho người vận chuyển có lỗi hoặc sơ suất gây nên tổn thất.

Trong trường hợp có người được hưởng quyền miễn hoàn toàn trách nhiệm của người vận chuyển theo quy định của pháp luật hoặc theo sự thoả thuận ghi trong hợp đồng, thì người đó phải chứng minh rằng người vận chuyển đã không có lỗi, không đồng tình hoặc đại lý và những người làm công khác cho người vận chuyển cũng không có lỗi hoặc sơ suất gây ra sự mất mát, hư hỏng của hàng hoá.

Điều 109.

Người thuê vận chuyển không chịu trách nhiệm bồi thường về các mất mát hoặc hư hỏng xảy ra đối với người vận chuyển hoặc tầu, nếu chứng minh được rằng bản thân mình hoặc đại lý và những người làm công cho mình đã không có hành động, sự sơ suất hoặc sai lầm gây ra tổn thất đó.

Điều 110.

1- Trong trường hợp chủng loại và giá trị của hàng hoá không được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng hoặc không được ghi rõ vào vận đơn, giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hoá tương đương, thì người vận chuyển hoặc tầu chỉ có nghĩa vụ bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hoá hoặc tổn thất khác liên quan đến hàng hoá trong giới hạn tối đa tương đương với mười nghìn Frăng vàng cho mỗi kiện hoặc đơn vị hàng hoá quy ước hoặc ba mươi Frăng vàng cho mỗi kilôgam trọng lượng cả bì của số hàng hoá bị mất mát, hư hỏng tuỳ theo giá trị nào là cao nhất.

Tiền bồi thường được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỉ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố ở thời điểm thanh toán bồi thường.

Tổng số tiền bồi thường được xác định trên cơ sở tham khảo giá trị hàng hoá đó tại nơi và thời điểm dỡ hàng quy định trong hợp đồng hoặc lẽ ra phải được dỡ hàng.

Giá trị của hàng hoá được xác định theo giá giao dịch thương mại, nếu không xác định được giá đó, thì xác định theo giá thị trường. Trong trường hợp cả hai giá trên đều không xác định được, thì căn cứ vào giá hàng cùng loại, cùng chất lượng tại nơi giải quyết bồi thường.

2- Trong trường hợp chủng loại và giá trị hàng hoá được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng và được người vận chuyển chấp nhận, ghi vào vận đơn, giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hoá tương đương, thì người vận chuyển chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng của hàng hoá trên cơ sở giá trị đó theo nguyên tắc sau đây:

a) Đối với hàng hoá bị mất mát, thì bồi thường bằng giá trị đã khai báo;

b) Đối với hàng hoá bị hư hỏng, thì bồi thường bằng mức chênh lệch giữa giá trị khai báo và giá trị còn lại của hàng hoá.

Giá trị còn lại của hàng hoá được xác định trên cơ sở giá thị trường ở nơi và thời điểm dỡ hàng hoặc lẽ ra phải dỡ hàng; nếu không xác định được, thì căn cứ vào giá thị trường ở nơi và thời điểm tầu bốc hàng cộng thêm chi phí vận chuyển đến cảng đích.

Điều 111.

Trong mọi trường hợp, người vận chuyển hoặc tầu đều không chịu trách nhiệm bồi thường các mất mát, hư hỏng hàng hoá hoặc tổn thất liên quan đến hàng hoá, nếu người giao hàng đã cố tình khai gian về chủng loại, giá trị của hàng hoá khi bốc hàng và khai báo đó đã được ghi nhận vào vận đơn, giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hoá tương đương.

Điều 112.

1- Trong trường hợp hàng hoá được vận chuyển theo vận đơn, thì mọi thoả thuận nhằm mục đích giảm các nghĩa vụ và trách nhiệm của người vận chuyển nói tại các Điều 67, 108 và 110 của Bộ luật này, đều không có giá trị.

2- Nếu vận đơn được ký phát theo hợp đồng thuê tầu, thì quy định tại khoản 1, Điều này được áp dụng từ khi vận đơn được chuyển nhượng cho người thứ ba.

3- Các bên tham gia hợp đồng vận chuyển chỉ có quyền thoả thuận về việc giảm trách nhiệm của người vận chuyển, khác với quy định tại khoản 1, Điều này trong các trường hợp liên quan đến:

a) Quãng thời gian từ khi nhận hàng đến trước khi bốc hàng và quãng thời gian từ khi kết thúc dỡ hàng đến khi trả xong hàng;

b) Vận chuyển súc vật sống;

c) Vận chuyển hàng hoá trên boong theo hợp đồng.

Mục K: CẦM GIỮ HÀNG HOÁ

Điều 113.

1- Chủ nợ có quyền sử dụng quyền cầm giữ hàng hoá theo luật định để bảo đảm cho các khoản nợ ưu tiên, mặc dù hàng hoá đó đã được cầm giữ, cầm cố hoặc thế chấp để bảo đảm cho các khoản nợ khác trên cơ sở hợp đồng hoặc quyết định của toà án.

2- Các khoản nợ ưu tiên được giải quyết theo thứ tự sau đây:

a) Các loại án phí và chi phí hành án; chi phí bảo quản, bán và chia tiền bán hàng hoá; thuế và các khoản chi phí công cộng khác;

b) Tiền phân bổ hàng hoá để trả công cứu hộ hoặc đóng góp vào tổn thất chung;

c) Tiền bồi thường các tổn thất do hàng hoá gây ra;

d) Quyền lợi của người vận chuyển.

Điều 114.

1- Các chủ nợ còn có quyền cầm giữ các khoản tiền bồi thường cho tổn thất hàng hoá đã xảy ra, nhưng chưa được phục hồi và tiền phân bổ cho hàng hoá trong trường hợp xảy ra tổn thất chung.

2- Các chủ nợ không có quyền cầm giữ các khoản tiền do người bảo hiểm bồi thường cho hàng hoá.

Điều 115.

1- Quyền cầm giữ hàng hoá chấm dứt hiệu lực, kể từ khi hàng hoá được trả cho người nhận hàng hợp pháp.

2- Quyền cầm giữ các khoản tiền liên quan đến hàng hoá chấm dứt hiệu lực, kể từ khi thanh toán các khoản tiền đó cho người nhận hợp pháp.

Chương 6:

HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH VÀ HÀNH LÝ

Điều 116.

1- Hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý là hợp đồng được ký kết giữa người vận chuyển và hành khách mà theo đó người vận chuyển thu tiền công vận chuyển hành khách, tiền cước hành lý do hành khách trả và dùng tầu biển để vận chuyển hành khách từ cảng nhận khách đến cảng đích.

Hợp đồng là cơ sở để xác định quan hệ pháp luật giữa người vận chuyển và hành khách. Vé đi tầu là bằng chứng về việc ký kết hợp đồng.

2- Hành khách có nghĩa vụ trả tiền công vận chuyển hành khách, tiền cước hành lý và phí dịch vụ khác cho người vận chuyển.

3- Những thoả thuận nhằm hạn chế quyền của hành khách hoặc miễn giảm trách nhiệm của người vận chuyển quy định tại Bộ luật này đều không có giá trị.

4- Người vận chuyển có quyền thay thế vé bằng loại chứng từ tương đương, nếu hành khách được vận chuyển trên tầu biển không chuyên dùng chở khách.

Điều 117.

1- Hành khách có nghĩa vụ phục tùng sự chỉ huy của thuyền trưởng và phải chấp hành mọi nội quy, chỉ dẫn trên tầu.

2- Hành khách được hưởng mọi quyền lợi theo đúng hạng vé và không phải trả tiền cước vận chuyển đối với hành lý xách tay trong phạm vi trọng lượng và chủng loại do người vận chuyển quy định.

Điều 118.

1- Người vận chuyển có nghĩa vụ chuẩn bị cho tầu có đủ khả năng đi biển và an toàn vận chuyển cần thiết tương tự như quy định tại Điều 67 của Bộ luật này.

2- Người vận chuyển có nghĩa vụ chăm sóc và bảo vệ chu đáo hành khách và hành lý của họ từ khi nhận khách lên tầu cho đến khi hành khách và hành lý của họ rời cầu tầu ở cảng đích an toàn; chịu mọi phí tổn để đưa đón, chu cấp ăn uống, phục vụ sinh hoạt và giải trí trong các trường hợp đặc biệt xảy ra ngoài dự kiến, trong thời gian tầu thực hiện chuyến đi.

Điều 119.

Người vận chuyển không chịu trách nhiệm về việc hành khách bị các nhà chức trách tại cảng mà tầu ghé vào trong thời gian thực hiện chuyến đi bắt giữ do những nguyên nhân mà bản thân hành khách tự gây ra.

Điều 120.

1- Hành khách lậu vé có nghĩa vụ trả đủ tiền công vận chuyển cho quãng đường đi tầu và một khoản tiền phạt tương đương.

2- Thuyền trưởng có quyền đưa hành khách lậu vé lên bờ hoặc chuyển sang một tầu khác để đưa về cảng, nơi hành khách đó đã lên tầu và phải thông báo cho nhà chức trách có thẩm quyền biết về tên, tuổi, quốc tịch của hành khách lậu vé, nơi hành khách lên tầu và trốn trên tầu. Hành khách lậu vé vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nói tại khoản 1, Điều này.

Điều 121.

1- Nếu hành khách không có mặt tại tầu đúng thời điểm quy định, kể cả khi tầu ghé vào cảng trong thời gian thực hiện chuyến đi, thì người vận chuyển có quyền không trả lại tiền công vận chuyển đã thu.

2- Nếu hành khách bị ốm đau nguy hiểm đến tính mạng mà không thể đi tầu được hoặc bị chết trong vòng ít nhất là hai mươi bốn giờ trước khi tầu bắt đầu chuyến đi hoặc trong khi tầu đang hành trình và khi hành khách từ chối tiếp tục đi tầu vì những nguyên nhân do người vận chuyển gây ra, thì hành khách được quyền nhận lại toàn bộ hoặc một phần tiền công vận chuyển tương ứng với quãng đường còn lại.

3- Trong trường hợp tầu không thể đến cảng đích hoặc không đến được cảng đích đúng thời gian quy định vì những nguyên nhân khách quan không thuộc trách nhiệm của người vận chuyển, thì người vận chuyển có nghĩa vụ hoàn trả cho hành khách số tiền công vận chuyển tương ứng với quãng đường còn lại hoặc phải chịu phí tổn đưa hành khách quay lại cảng nhận khách hoặc đến cảng đích tuỳ theo ý muốn của hành khách, bằng tầu biển hoặc các phương tiện vận chuyển khác, nếu không có điều kiện vận chuyển bằng tầu biển chở khách.

Điều 122.

1- Hành khách có thể rút khỏi hợp đồng và yêu cầu được nhận lại tiền công vận chuyển, nếu đã thông báo ý định của mình cho người vận chuyển biết trước bảy ngày trong vận chuyển quốc tế hoặc một ngày trong vận chuyển nội địa, trước khi tầu bắt đầu chuyến đi.

Người vận chuyển có quyền giữ lại 25% tiền công vận chuyển, nếu không bán lại được cho người khác vé đi tầu đó.

2- Hành khách có thể rút khỏi hợp đồng và nhận lại toàn bộ tiền vận chuyển, nếu ba ngày sau thời điểm lẽ ra tầu phải bắt đầu chuyến đi mà tầu vẫn không rời cảng, đối với loại tầu không chuyên dùng chở khách, thì thời hạn đó là bảy ngày.

Điều 123.

1- Trong trường hợp vận chuyển hành khách bằng tầu không chuyên dùng chở khách, thì người vận chuyển có quyền rút khỏi hợp đồng và hoàn trả tiền công vận chuyển cho hành khách vì không thể bắt đầu chuyến đi do những nguyên nhân không thuộc về mình.

2- Người vận chuyển cũng có quyền theo quy định tại khoản 1, Điều này khi tầu đang thực hiện chuyến đi và có nghĩa vụ thực hiện các quy định tại khoản 3, Điều 121 của Bộ luật này.

Điều 124.

Trong trường hợp tầu chưa bắt đầu chuyến đi hoặc đang hành trình mà xảy ra các trường hợp nói tại khoản 1, Điều 105 của Bộ luật này, thì các bên tham gia hợp đồng đều có quyền rút khỏi hợp đồng mà khồng phải bồi thường; người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ hoàn trả cho khách số tiền công vận chuyển tương ứng với quãng đường còn lại, ngay cả khi hành khách rút khỏi hợp đồng.

Điều 125.

1- Hợp đồng mặc nhiên chấm dứt trong các trường hợp tầu bị mất tích, bị chìm đắm, bị phá huỷ hoặc được coi là hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa là không có hiệu quả kinh tế.

2- Tiền công vận chuyển được hoàn trả cho hành khách theo quy định tại Điều 124 của Bộ luật này.

Điều 126.

1- Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm về mọi tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức khoẻ của hành khách xảy ra trong thời gian thực hiện chuyến đi, nếu không chứng minh được rằng bản thân mình hoặc các đại diện, người làm công cho mình không có lỗi để xảy ra tai nạn liên quan đến các tổn thất đó do tầu bị đâm va, chìm đắm, phá huỷ, mắc cạn, bị nổ hoặc cháy. Mọi thoả thuận nhằm làm giảm nhẹ hoặc miễn trừ trách nhiệm này của người vận chuyển đều không có giá trị.

2- Nếu người vận chuyển chứng minh được hành khách cố ý hoặc vô ý gây ra tai nạn, thì người vận chuyển được giảm một phần trách nhiệm quy định tại khoản 1, Điều này.

3- Thời gian thực hiện chuyến đi bao gồm thời gian hành khách ở trên tầu, thời gian hành khách lên tầu và rời tầu, thời gian người vận chuyển chở khách từ bờ đến tầu và ngược lại bằng đường thuỷ, nếu tiền công vận chuyển đã được tính vào giá vé chung hoặc khi phương tiện chuyển tải hành khách do người vận chuyển cung cấp.

Điều 127.

1- Người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức khoẻ của hành khách trong mức giới hạn do Hội đồng bộ trưởng quy định hoặc trên cơ sở điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận.

2- Người vận chuyển không có quyền hưởng mức giới hạn này, nếu bản thân có lỗi gây ra tổn thất hoặc các đại diện, người làm công cho người vận chuyển ở trên tầu có lỗi khi thực hiện các trách nhiệm do người vận chuyển uỷ nhiệm.

Điều 128.

1- Người vận chuyển chịu trách nhiệm về sự mất mát, hư hỏng hành lý theo các nguyên tắc liên quan đến hàng hoá quy định tại Chương V của Bộ luật này.

2- Người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm về sự mất mát, hư hỏng hành lý xách tay của hành khách xảy ra do người vận chuyển hoặc những người làm công trên tầu cố ý hoặc vô ý gây ra hoặc khi nhận ký gửi để bảo quản đã không chăm sóc cho đáo.

3- Người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm bồi thường đồ vật quý hiếm, tiền bạc, giấy tờ có giá trị, tác phẩm nghệ thuật và các tài sản có giá trị khác, nếu hành khách đã khai báo về tính chất và giá trị của các tài sản đó cho thuyền trưởng hoặc sĩ quan có trách nhiệm về hành lý biết khi ký gửi để bảo quản.

Điều 129.

1- Người vận chuyển có quyền lưu giữ hành lý của hành khách để bảo đảm quyền lợi của mình cho đến khi đã được thoả mãn hoặc nhận được một sự bảo đảm thoả đáng khác.

2- Hành lý không có người nhận được xử lý theo Điều 96 của Bộ luật này.

Điều 130.

1- Mọi tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức khoẻ của hành khách phải được báo cho người vận chuyển biết ngay sau khi xảy ra và trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày rời tầu, người khiếu nại phải gửi cho người vận chuyển văn bản khiếu nại đòi bồi thường.

2- Yêu cầu đòi bồi thường mất mát, hư hỏng hành lý phải được thông báo bằng văn bản cho người vận chuyển trong thời hạn bảy ngày, kể từ khi hành lý được giao hoặc lẽ ra phải được giao cho người nhận.

3- Thời hiệu khiếu nại đòi bồi thường các tổn thất về tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức khoẻ của hành khách là hai năm, tính từ ngày hành khách rời tầu; nếu hành khách chết trên tầu thì thời hiệu đó tính từ ngày hành khách lẽ ra phải rời tầu.

Trong trường hợp hành khách chết sau khi rời tầu thì thời hiệu khiếu nại là ba năm, tính từ ngày hành khách rời tầu.

4- Thời hiệu khiếu nại đòi bồi thường mất mát, hư hỏng hành lý là sáu tháng, tính từ ngày trả hành lý hoặc ngày lẽ ra phải trả hành lý cho người nhận.

Chương 7:

HỢP ĐỒNG CHO THUÊ TẦU

Điều 131.

1- Hợp đồng cho thuê tầu là hợp đồng được ký kết giữa chủ tầu và người thuê tầu, mà theo đó chủ tầu giao quyền sử dụng tầu biển của mình cho người thuê tầu trong một thời hạn hoặc một số chuyến đi liên tục vào các mục đích cụ thể được thoả thuận trong hợp đồng để hưởng tiền thuê tầu do người thuê tầu trả. Hợp đồng cho thuê tầu là cơ sở để xác định quan hệ pháp luật giữa người thuê tầu và chủ tầu.

2- Hợp đồng cho thuê tầu được ký kết theo các hình thức do hai bên thoả thuận.

Điều 132.

Hợp đồng cho thuê tầu quy định việc chủ tầu giao quyền sử dụng tầu biển cho người thuê tầu cùng với cả thuyền bộ, gọi là hợp đồng thuê tầu định hạn.

Hợp đồng cho thuê tầu chỉ quy định việc chủ tầu giao quyền sử dụng tầu biển cho người thuê tầu mà không có thuyền bộ, gọi là hợp đồng thuê tầu trần.

Điều 133.

1- Nếu có thoả thuận trong hợp đồng, thì người thuê tầu có thể cho người thứ ba thuê lại tầu, nhưng vẫn có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đã ký kết với chủ tầu.

2- Các quyền và nghĩa vụ của chủ tầu quy định tại Chương này cũng được áp dụng đối với người cho thuê lại tầu.

Điều 134.

1- Chủ tầu có nghĩa vụ giao tầu biển cho người thuê tầu đúng địa điểm, thời điểm với trạng thái an toàn kĩ thuật cần thiết, có dủ dự trữ, phù hợp với mục đích sử dụng đã thoả thuận trong hợp đồng và duy trì như vậy suốt thời gian cho thuê tầu.

2- Chủ tầu cho thuê tầu định hạn còn có nghĩa vụ cung cấp cùng với tầu một thuyền bộ có năng lực phù hợp với mục đích sử dụng tầu đã thoả thuận trong hợp đồng, trả lương và bảo đảm các quyền lợi hợp pháp khác cho thuyền viên trong thời gian thuê tầu.

Điều 135.

1- Người thuê tầu có toàn quyền sử dụng các khu vực chuyên dùng ở trên tầu để vận chuyển hàng hoá hoặc hàng khách.

2- Nếu chủ tầu không đồng ý, người thuê tầu không có quyền sử dụng các khu vực khác ở trên tầu để vận chuyển hàng hoá hoặc hành khách.

Điều 136.

1- Người thuê tầu không phải trả tiền thuê tầu cho thời gian tầu không đủ khả năng khai thác do hư hỏng, thiếu dự trữ hoặc do thuyền bộ không đủ năng lực cần thiết, nếu là tầu cho thuê định hạn. Trong trường hợp này, người thuê tầu được miễn trách nhiệm đối với các chi phí để duy trì tầu.

2- Nếu tầu không đủ khả năng khai thác do lỗi của người thuê tầu, thì chủ tầu vẫn được hưởng tiền thuê tầu và được bồi thường các thiệt hại liên quan.

Điều 137.

1- Trong thời gian tầu cho thuê định hạn, thuyền trưởng và các thuyền viên khác trong thuyền bộ của tầu vẫn thuộc quyền quản lý về lao động của chủ tầu. Chủ tầu hoàn toàn chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến thuyền bộ.

2- Trong hoạt động khai thác tầu, thuyền trưởng là người đại diện của người thuê tầu và phải thực hiện các chỉ thị của người thuê tầu.

3- Chủ tầu chịu trách nhiệm với người thuê tầu về việc thuyền trưởng thực hiện quyền hạn nói tại khoản 2, Điều này theo nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm, trừ khi thuyền trưởng đã ghi rõ trong cam kết của mình là thực hiện quyền hạn đó nhân danh người thuê tầu.

Điều 138.

Nếu tầu cho thuê định hạn tham gia cứu hộ trong thời gian cho thuê, thì tiền công cứu hộ được chia đều giữa chủ tầu và người thuê tầu, sau khi đã trừ lần lượt các tổn thất liên quan đến hành động cứu hộ và tiền thưởng công cứu hộ cho thuyền bộ.

Điều 139.

1- Người thuê tầu có nghĩa vụ sử dụng tầu đúng các mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng và phải chăm sóc chu đáo các quyền lợi của chủ tầu.

2- Sau khi đã hết hạn cho thuê tầu, người thuê tầu có nghĩa vụ giao trả tầu cho chủ tầu đúng địa điểm, thời điểm và trạng thái kĩ thuật như đã thoả thuận.

Người thuê tầu có trách nhiệm trả tiền thuê tầu cho đến ngày giao trả tầu cho chủ tầu.

3- Người thuê tầu có nghĩa vụ bảo dưỡng tầu và các trang thiết bị của tầu, nếu không có thoả thuận khác trong hợp đồng.

4- Người thuê tầu trần còn có nghĩa vụ sửa chữa các hư hỏng của tầu trong thời gian thuê tầu và phải thông báo cho chủ tầu biết. Chủ tầu chịu trách nhiệm trả tiền sửa chữa, nếu các tổn thất phát sinh ngoài phạm vi trách nhiệm của người thuê tầu.

Điều 140.

1- Người thuê tầu có quyền rút khỏi hợp đồng và được đòi bồi thường các thiết hại liên quan, nếu chủ tầu có lỗi trong khi thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 1, Điều 134 của Bộ luật này.

2- Cả hai bên đều có quyền rút khỏi hợp đồng mà không phải bồi thường, nếu xảy ra chiến tranh, bạo loạn hoặc do các hành động cưỡng chế của chính quyền cản trở việc thực hiện hợp đồng mà các sự kiện đó không thể chấm dứt sau một thời gian chờ đợi hợp lý.

Điều 141.

1- Hợp đồng cho thuê tầu mặc nhiên chấm dứt, nếu tầu bị mất tích, bị chìm đắm,

bị phá huỷ hoặc bị coi là hư hỏng không sửa chữa được hoặc việc sửa chữa là không có hiệu quả kinh tế.

2- Trong trường hợp tầu cho thuê bị mất tích, thì tiền thuê tầu được tính đến ngày thực tế nhận được tin tức cuối cùng về tầu đó.

Điều 142.

Thời hiệu khiếu nại đối với các vụ việc liên quan đến hợp đồng cho thuê tầu là hai năm, tính từ ngày hợp đồng đó chấm dứt.

Chương 8:

ĐẠI LÝ TẦU BIỂN VÀ MÔI GIỚI HÀNG HẢI

Mục A: ĐẠI LÝ TẦU BIỂN

Điều 143.

1- Người đại lý tầu biển là người đại diện thường trực của chủ tầu tại một cảng hoặc khu vực đại lý nhất định.

2- Chủ tầu và người đại lý ký kết hợp đồng đại lý cho từng chuyến tầu hoặc cho một thời hạn cụ thể, theo các hình thức do hai bên thoả thuận. Trong hợp đồng phải ghi rõ phạm vi uỷ thác của chủ tầu cho người đại lý.

3- Hợp đồng là cơ sở để xác định quan hệ pháp luật giữa hai bên và là bằng chứng về sự uỷ nhiệm của chủ tầu cho người đại lý trong quan hệ đối với người thứ ba.

Điều 144.

1- Trên cơ sở hợp đồng, người đại lý nhân danh chủ tầu tiến hành các hoạt động liên quan đến việc kinh doanh hàng hải, bao gồm việc thực hiện các thủ tục cần thiết liên quan đến hoạt động của tầu tại cảng; ký kết các hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng bốc xếp hàng hoá, hợp đồng cho thuê tầu, hợp đồng thuê thuyền viên; ký phát vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển hàng hoá tương đương; thu chi các khoản tiền liên quan đến hoạt động khai thác tầu; giải quyết tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hoặc về tai nạn hàng hải.

2- Người đại lý có thể phục vụ cho quyền lợi của người thuê vận chuyển, người thuê tầu hoặc những người khác có quan hệ hợp đồng với chủ tầu, nếu được chủ tầu đồng ý.

3- Trong trường hợp người đại lý có hành động vượt quá phạm vi uỷ thác của chủ tầu, thì chủ tầu vẫn phải chịu trách nhiệm về hành động đó, nếu ngay sau khi nhận được tin đã không tuyên bố cho những người liên quan biết là mình không công nhận hành động này của người đại lý.

Điều 145.

1- Người đại lý có trách nhiệm tiến hành các hoạt động cần thiết để chăm sóc và bảo vệ chu đáo các quyền lợi của chủ tầu; phải chấp hành các yêu cầu và chỉ dẫn của chủ tầu; nhanh chóng thông báo cho chủ tầu về các sự kiện liên quan đến công việc được uỷ thác; tính toán chính xác các khoản thu và chi liên quan đến công việc được uỷ thác.

2- Người đại lý phải bồi thường cho chủ tầu các thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

Điều 146.

Chủ tầu có trách nhiệm hướng dẫn người đại lý thực hiện công việc đã uỷ thác khi cần thiết và phải ứng trước theo yêu cầu của người đại lý khoản tiền dự chi cho công việc được uỷ thác.

Điều 147.

Các bên tham gia hợp đồng đại lý thoả thuận về đại lý phí; nếu trong hợp đồng không có thoả thuận, thì đại lý phí được xác định trên cơ sở tập quán địa phương.

Điều 148.

Các bên tham gia hợp đồng đại lý đều có quyền rút khỏi hợp đồng theo các điều kiện đã thoả thuận trước trong hợp đồng.

Điều 149.

Thời hiệu khiếu nại về việc thực hiện hợp đồng đại lý là hai năm, tính từ ngày phát sinh vụ việc.

Mục B: MÔI GIỚI HÀNG HẢI

Điều 150.

1- Người môi giới hàng hải là người làm trung gian trong việc ký kết hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng cho thuê tầu, hợp đồng mua bán tầu, hợp đồng lai dắt, hợp đồng thuê thuyền viên và các hợp đồng khác liên quan đến hoạt động hàng hải, theo sự uỷ thác từng vụ việc của người uỷ thác.

2- Người môi giới hàng hải chỉ được hưởng hoa hồng môi giới khi hợp đồng được ký kết do hoạt động trung gian của mình. Người môi giới và người uỷ thác thoả thuận về hoa hồng môi giới; nếu không có thoả thuận trước, thì hoa hồng môi giới được xác định trên cơ sở tập quán địa phương.

3- Trên cơ sở uỷ thác, người môi giới hàng hải nhân danh người uỷ thác ký kết hợp đồng hoặc thu các khoản tiền liên quan, nếu không có sự hạn chế rõ ràng mà phía bên kia đã biết.

Điều 151.

Người môi giới hàng hải có quyền phục vụ các bên tham gia hợp đồng với điều kiện phải thông báo cho tất cả các bên biết về việc đó và có nghĩa vụ quan tâm thích đáng đến quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

Điều 152.

Thời hiệu khiếu nại về việc thực hiện hoạt động môi giới hàng hải giữa người môi giới và người uỷ thác là hai năm, tính từ ngày phát sinh vụ việc.

Chương 9:

HOA TIÊU HÀNG HẢI

Điều 153.

1- Hoa tiêu là người cố vấn và giúp đỡ cho thuyền trưởng điều khiển tầu phù hợp với điều kiện hàng hải ở khu vực dẫn tầu của hoa tiêu. Việc sử dụng hoa tiêu không miễn giảm trách nhiệm chỉ huy tầu của thuyền trưởng, kể cả trong trường hợp việc sử dụng hoa tiêu là bắt buộc theo quy định của pháp luật.

2- Thuyền trưởng có quyền lựa chọn hoa tiêu hoặc đình chỉ hoạt động của hoa tiêu và yêu cầu thay thế hoa tiêu.

Điều 154.

1- Trong thời gian dẫn tầu, hoa tiêu thuộc quyền chỉ huy của thuyền trưởng tầu được dẫn.

2- Hoa tiêu có nghĩa vụ thường xuyên chỉ dẫn cho thuyền trưởng biết về các điều kiện hàng hải ở khu vực dẫn tầu; khuyến nghị thuyền trưởng về các hành động không phù hợp với các quy định bảo đảm an toàn hàng hải và các quy định pháp luật khác.

Khi thuyền trưởng cố ý không thực hiện các chỉ dẫn hoặc khuyến nghị hợp lý của mình, thì với sự làm chứng của người thứ ba, hoa tiêu có quyền từ chối dẫn tầu.

3- Hoa tiêu có nghĩa vụ thông báo cho Giám đốc cảng vụ về tình hình dẫn tầu và những thay đổi có tính chất nguy hiểm về hàng hải mà mình phát hiện được trong khi dẫn tầu.

4- Hoa tiêu phải thực hiện mẫn cán nghĩa vụ của mình.

Điều 155.

Thuyền trưởng có nghĩa vụ thông báo chính xác cho hoa tiêu tính năng và đặc điểm riêng của tầu; bảo đảm an toàn cho hoa tiêu khi lên và rời tầu; cung cấp cho hoa tiêu các tiện nghi làm việc, phục vụ sinh hoạt trong suốt thời gian hoa tiêu ở trên tầu.

Điều 156.

Nhiệm vụ của hoa tiêu chỉ được coi là kết thúc sau khi tầu đã thả neo, cập cầu hoặc đã đến vị trí thoả thuận một cách an toàn hoặc khi có hoa tiêu khác thay thế. Không có sự đồng ý của thuyền trưởng, hoa tiêu không được phép rời tầu.

Trong trường hợp vì lý do bảo đảm an toàn, hoa tiêu không thể rời tầu sau khi kết thúc nhiệm vụ, thì thuyền trưởng phải ghé vào cảng gần nhất để hoa tiêu rời tầu. Chủ tầu phải chịu trách nhiệm đài thọ các chi phí liên quan và tổ chức đưa hoa tiêu trở về nơi đã tiếp nhận hoa tiêu.

Điều 157.

1- Trong trường hợp xảy ra tổn thất do lỗi của hoa tiêu, thì chủ tầu phải chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất đó như đối với tổn thất xảy ra do lỗi của thuyền viên.

2- Hoa tiêu chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc hình sự trong trường hợp nói tại khoản 1, Điều này.

Điều 158.

1- Hội đồng bộ trưởng quy định biểu phí hoa tiêu tại Việt Nam.

2- Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định cụ thể về tổ chức hoa tiêu; tiêu chuẩn và chứng chỉ chuyên môn của hoa tiêu; vùng hoa tiêu bắt buộc hoặc không bắt buộc tại Việt Nam.

Chương 10:

LAI DẮT TRÊN BIỂN

Điều 159.

1- Lai dắt trên biển là việc thực hiện tác nghiệp lai, kéo, đẩy hoặc hỗ trợ tầu biển và các phương tiện nổi khác trên biển và các vùng nước liên quan đến biển mà tầu biển được phép hoạt động, ngay cả khi tầu lai chỉ túc trực bên cạnh để hỗ trợ khi cần thiết.

2- Người thuê lai dắt và chủ tầu lai thoả thuận về tiền công lai dắt trong hợp đồng lai dắt; nếu không có thoả thuận trong hợp đồng, thì tiền công lai dắt được xác định trên cơ sở tập quán địa phương.

3- Hợp đồng lai dắt phải được làm thành văn bản, trừ trường hợp lai dắt tầu làm man-nơ trong cảng.

Điều 160.

1- Tầu lai và tầu biển hoặc các phương tiện được lai dắt khác hợp thành tập thể lai dắt. Tập thể lai dắt được hình thành kể từ khi tầu lai và các thành viên khác của tập thể lai dắt đã sẵn sàng thực hiện các tác nghiệp cần thiết theo lệnh của người chỉ huy tập thể lai dắt và được giải tán khi các tác nghiệp cuối cùng đã được thực hiện xong, các thành viên của tập thể lai dắt đã rời xa nhau ở một khoảng cách an toàn.

2- Các bên tham gia hợp đồng lai dắt trên biển thoả thuận trong hợp đồng về người có quyền chỉ huy theo tập thể lai dắt; nếu không có thoả thuận, thì xác định theo tập quán địa phương.

Điều 161.

Chủ tầu lai có nghĩa vụ cung cấp tầu lai đúng địa điểm, thời điểm với điều kiện kĩ thuật thoả thuận trong hợp đồng.

Điều 162.

1- Chủ tầu của tầu có thuyền trưởng giữ quyền chỉ huy tập thể lai dắt phải chịu trách nhiệm về các tổn thất về tầu, người và tài sản trên tầu của các thành viên khác trong tập thể lai dắt, nếu không chứng minh được rằng các tổn thất đó xảy ra ngoài phạm vi trách nhiệm của mình.

2- Các tầu dưới quyền chỉ huy của thuyền trưởng tầu khác không được miễn giảm trách nhiệm quan tâm đến sự an toàn chung của tập thể lai dắt và an toàn hàng hải; chủ tầu chịu trách nhiệm về các tổn thất về tầu, người và tài sản trên tầu của các thành viên khác, nếu tầu của mình có lỗi gây ra tổn thất.

Điều 163.

Thời hiệu khiếu nại về việc thực hiện hợp đồng lai dắt trên biển là hai năm, tính từ ngày chấm dứt hợp đồng lai dắt.

Chương 11:

CỨU HỘ HÀNG HẢI

Điều 164.

1- Cứu hộ hàng hải là hành động cứu tầu biển hoặc các tài sản thuộc về tầu thoát khỏi nguy hiểm hoặc hành động cứu trợ tầu biển đang bị nguy hiểm, được thực hiện trên cơ sở hợp đồng cứu hộ hàng hải.

2- Hợp đồng cứu hộ hàng hải được ký kết theo các hình thức do các bên thoả thuận.

Điều 165.

1- Mọi hành động cứu hộ hàng hải mang lại kết quả có ích đều được hưởng tiền công cứu hộ hợp lý.

2- Tiền công cứu hộ cũng phải được trả, kể cả trong các trường hợp: người cứu hộ có hành động trực tiếp hoặc gián tiếp giúp người được cứu hộ bảo vệ các quyền lợi liên quan đến tiền cước, tiền công vận chuyển hành khách; cứu hộ tầu biển thuộc cùng một chủ tầu; cứu hộ tầu sông hoặc thuỷ phi cơ trên biển hoặc các vùng nước nội địa

3- Hành động cứu hộ trái với sự chỉ định rõ ràng và hợp lý của thuyền trưởng tầu được cứu, thì không được trả tiền công cứu hộ.

Điều 166.

1- Người được cứu tính mạng không có nghĩa vụ trả bất cứ một khoản tiền nào cho người đã cứu mình.

2- Người cứu tính mạng được hưởng một khoản tiền thưởng hợp lý trong tiền công cứu hộ tài sản, nếu hành động đó liên quan đến cùng một tai nạn làm phát sinh hành động cứu hộ tài sản.

Điều 167.

Người đang thực hiện nhiệm vụ hoa tiêu hoặc lai dắt trên biển được thưởng công cứu hộ, nếu đã có những sự giúp đỡ đặc biệt vượt quá phạm vi trách nhiệm theo hợp đồng để cứu hộ tầu mà mình đang phục vụ.

Điều 168.

Các bên tham gia hợp đồng cứu hộ đều có quyền yêu cầu huỷ bỏ hoặc thay đổi những thoả thuận không hợp lý trong hợp đồng, nếu các thoả thuận này được ký kết trong tình trạng nguy cấp và bị tác động bởi tình trạng đó hoặc chứng minh được là đã bị lừa dối, lợi dụng khi ký kết và khi tiền công cứu hộ quá thấp hoặc quá cao so với thực tế.

Điều 169.

1- Tiền công cứu hộ bao gồm tiền thưởng công cứu hộ, chi phí cứu hộ và chi phí vận chuyển, bảo quản tầu hoặc tài sản được cứu hộ.

2- Tiền công cứu hộ được thoả thuận trong hợp đồng, nhưng phải hợp lý và không được vượt quá giá trị tầu hoặc tài sản được cứu hộ.

3- Trong trường hợp tiền công cứu hộ không được thoả thuận trong hợp đồng hoặc không hợp lý và khi có nhiều người tham gia cứu hộ, thì tiền công cứu hộ được xác định trên cơ sở:

a) Kết quả cứu hộ;

b) Công sức và mức độ cố gắng của người cứu hộ;

c) Mức độ nguy hiểm đối với người trên tầu bị nạn, tầu hoặc tài sản bị nạn;

d) Mức độ nguy hiểm đối với người cứu hộ cũng như đối với các tầu và thiết bị cứu hộ mà người cứu hộ sử dụng;

e) Thời gian, chi phí và các tổn thất liên quan;

g) Rủi ro về trách nhiệm hoặc các rủi ro khác mà người cứu hộ phải gánh chịu;

h) Giá trị các thiết bị cứu hộ;

i) Sự điều chỉnh đặc biệt của tầu cứu hộ để phục vụ hành động cứu hộ;

k) Giá trị tài sản được cứu.

4- Tiền công cứu hộ có thể bị giảm hoặc không được công nhận, nếu người cứu hộ đã tự gây ra tình trạng phải cứu hộ hoặc có hành động trộm cắp, lừa đảo, gian lận khi thực hiện hợp đồng cứu hộ.

Điều 170.

Giá trị tầu hoặc tài sản được cứu là giá trị thực tế tại nơi để tầu hoặc tài sản sau khi được cứu hộ hoặc tiền bán, định giá tài sản sau khi đã trừ chi phí ký gửi, bảo quản, tổ chức bán đấu giá và các chi phí tương tự khác.

Điều 171.

Tầu hoặc tài sản được cứu hộ có thể bị cầm giữ hoặc tạm giữ để bảo đảm việc thanh toán tiền công cứu hộ và các chi phí khác liên quan đến việc định giá, tổ chức bán đấu giá.

Điều 172.

1- Tiền công cứu hộ được chia đều giữa chủ tầu và thuyền bộ tầu cứu hộ, sau khi trừ chi phí, tổn thất của tầu và chi phí, tổn thất của chủ tầu hoặc của thuyền bộ liên quan đến hành động cứu hộ.

Nguyên tắc này không áp dụng đối với tầu cứu hộ chuyên dùng.

2- Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định cụ thể cách thức phân chia tiền công cứu hộ của thuyền bộ.

Điều 173.

1- Các quy định tại Chương này cũng được áp dụng đối với các loại tầu thuộc các lực lượng vũ trang Việt Nam.

2- Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ trưởng Bộ nội vụ quy định cụ thể cách thức phân chia tiền công cứu hộ của thuyền bộ các tầu thuộc các lực lượng vũ trang Việt Nam.

Điều 174.

Thời hiệu khiếu nại về việc thực hiện hợp đồng cứu hộ là hai năm, tính từ ngày kết thúc hành động cứu hộ.

Chương 12:

TRỤC VỚT TÀI SẢN CHÌM ĐẮM

Điều 175.

1- Tài sản chìm đắm nói tại Chương này là tầu, hàng hoá hoặc các vật thể khác chìm đắm ở nội thuỷ, lãnh hải Việt Nam hoặc trôi nổi trên biển hoặc dạt vào bờ biển Việt Nam.

2- Trong thời hạn chậm nhất là một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày tài sản bị chìm đắm, chủ sở hữu tài sản đó phải thông báo cho Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện về ý định trục vớt và thời hạn dự kiến kết thúc hành động trục vớt.

Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận được thông báo nói trên, Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện ra quyết định chấp nhận thời hạn dự kiến kết thúc hoạt động trục vớt hoặc quy định cụ thể thời hạn chủ sở hữu phải kết thúc hoạt động trục vớt. Thời hạn trục vớt không được quá một năm, kể từ ngày chủ sở hữu tài sản được giao quyết định này.

3- Trong trường hợp chủ sở hữu tài sản không tiến hành hoạt động trục vớt trong thời hạn nói tại khoản 2, Điều này hoặc kéo dài hoạt động trục vớt quá một năm, kể từ ngày kết thúc thời hạn trục vớt, thì tài sản đó đương nhiên trở thành tài sản của Nhà nước Việt Nam.

Điều 176.

Việc trục vớt tài sản chìm đắm trong khu vực quân sự và việc trục vớt trang thiết bị quân sự phải được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc thủ trưởng cơ quan quân sự mà Bộ trưởng Bộ Quốc phòng uỷ nhiệm cấp giấy phép.

Điều 177.

1- Trong trường hợp tài sản bị chìm đắm gây nguy hiểm hoặc cản trở hoạt động hàng hải, khai thác cảng và tài nguyên biển; đe doạ tính mạng và sức khoẻ con người; gây ô nhiễm môi trường biển, thì chủ tài sản có nghĩa vụ trục vớt ngay sau khi bị chìm đắm. Trong trường hợp chủ tài sản không thực hiện việc trục vớt, thì Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện tổ chức trục vớt và quy định rõ thời hạn chủ sở hữu tài sản phải thanh toán các chi phí liên quan.

Chủ sở hữu tài sản còn phải bồi thường các tổn thất liên quan và bị phạt theo quy định của pháp luật, ngay cả khi bị mất quyền sở hữu tài sản quy định tại khoản 3, Điều 175 của Bộ luật này.

2- Trong trường hợp nói tại khoản 1, Điều này, Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện có quyền chỉ định người trục vớt tài sản, nếu xét thấy người trục vớt do chủ sở hữu tài sản chỉ định không có khả năng bảo đảm trục vớt tài sản đúng thời hạn.

3- Sau một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày nhận thông báo về việc tài sản đã được trục vớt, nếu chủ sở hữu tài sản không yêu cầu nhận lại tài sản hoặc không thanh toán các chi phí liên quan trong thời hạn quy định, thì Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện hoặc cơ quan được Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện uỷ nhiệm có quyền đem bán đấu giá tài sản. Sau khi thu lại chi phí trục vớt, chi phí bảo quản, tổ chức bán đấu giá và các chi phí khác, số tiền còn thừa phải được ký gửi vào ngân hàng để trả lại cho chủ sở hữu tài sản.

4- Chủ sở hữu tài sản chỉ chịu trách nhiệm thanh toán các chi phí liên quan đến các trường hợp nói tại Điều này trong giới hạn giá trị thực tế của tài sản đã được trục vớt.

Điều 178.

Các tổ chức và cá nhân Việt Nam được giành quyền ưu tiên trong việc ký kết hợp đồng trục vớt tài sản chìm đắm tại nội thuỷ, lãnh hải Việt Nam.

Điều 179.

1- Trong trường hợp ngẵu nhiên trục vớt được tài sản của người khác trong nội thuỷ, lãnh hải Việt Nam hoặc khi đưa tài sản ngẵu nhiên trục vớt được vào nội thuỷ, lãnh hải Việt Nam, người trục vớt phải thông báo ngay cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương, Hải quan nơi gần nhất và Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện biết về thời điểm, địa điểm và các sự kiện liên quan khác; phải bảo vệ tài sản đó đến khi giao lại; nếu có điều kiện cũng phải thông báo cho chủ sở hữu tài sản biết.

2- Trong trường hợp nói tại khoản 1, Điều này, người trục vớt được hưởng tiền công trục vớt và nhận lại chi phí liên quan khác theo các nguyên tắc tương ứng về cứu hộ.

3- Trong trường hợp tài sản trục vớt nói tại khoản 1, Điều này thuộc loại mau hỏng hoặc khi việc bảo quản là quá tốn kém, thì người trục vớt có quyền xử lý tài sản theo quy định tại khoản 3, Điều 177 của Bộ luật này.

4- Trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày được thông báo mà chủ sở hữu tài sản không yêu cầu nhận lại tài sản hoặc không thanh toán các khoản nợ và khi không xác định được chủ sở hữu tài sản, thì người trục vớt có nghĩa vụ giao nộp tài sản đó cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương quản lý.

Trong thời hạn một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày thông báo mà chủ sở hữu tài sản không có hành động gì để bảo vệ quyền lợi của mình, thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương có quyền xử lý tài sản theo quy định tại khoản 3, Điều 177 của Bộ luật này.

Điều 180.

1- Người nào tìm thấy, cứu hoặc tham gia cứu được tài sản của người khác đang trôi nổi trên biển, thì có quyền hưởng tiền công theo nguyên tắc tương tự về cứu hộ, nếu đã thông báo cho chủ sở hữu tài sản biết về yêu cầu của mình, chậm nhất là khi trao trả tài sản.

2- Người tìm thấy, bảo quản tài sản dạt vào bờ biển, thì có quyền được hưởng một khoản tiền thưởng và bồi hoàn chi phí bảo quản không quá 30% giá trị thị trường của tài sản đó, nếu đã thông báo cho chủ sở hữu tài sản biết, chậm nhất là khi trao trả tài sản.

3- Các quy định tại các khoản 1, 3 và 4 , Điều 179 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với các trường hợp nói tại khoản 1 và khoản 2, Điều này.

Điều 181.

Hội đồng bộ trưởng quy định cụ thể việc xử lý tài sản chìm đắm ở biển.

Chương 13:

TAI NẠN ĐÂM VA

Điều 182.

1- Tai nạn đâm va nói tại Bộ luật này là tai nạn xảy ra do đâm va giữa tầu biển với tầu biển, tầu biển với tầu sông, tầu biển với thuỷ phi cơ hoặc các phương tiện nổi khác trong các vùng nước mà tầu biển được phép hoạt động.

2- Tầu có lỗi gây ra tai nạn đâm va phải bồi thường mọi tổn thất về tầu, người và tài sản liên quan đến tai nạn đâm va đó. Khi chưa xác định được lỗi một cách rõ ràng, thì không ai có thể bị coi là đã có lỗi gây ra tai nạn đâm va.

3- Tầu có lỗi gây ra tai nạn đâm va là tầu gây ra sự đâm va do có hành động hoặc sự sơ suất trong việc trang bị, điều khiển, quản trị tầu; trong việc chấp hành quy tắc phòng ngừa đâm va trên biển và quy định bảo đảm an toàn hàng hải; do không thực hiện những tập quán nghề nghiệp cần thiết.

Điều 183.

1- Trong trường hợp có hai hoặc nhiều tầu cùng có lỗi trong một tai nạn đâm va, thì trách nhiệm bồi thường được phân bổ tuỳ theo mức độ lỗi của mỗi bên. Trong trường hợp mức độ lỗi ngang nhau hoặc khi không xác định cụ thể mức độ lỗi của mỗi bên, thì trách nhiệm bồi thường được phân bổ đều cho tất cả các bên.

2- Đối với việc bồi thường tính mạng, thương tích hoặc tổn hại khác về sức khoẻ con người, các tầu có lỗi phải chịu trách nhiệm theo nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm. Tầu đã bồi thường quá trách nhiệm của mình có quyền đòi các tầu liên quan hoàn trả số tiền quá mức đó.

Thời hiệu khiếu nại về việc đòi hoàn trả số tiền quá mức là một năm, tính từ ngày trả tiền bồi thường.

Điều 184.

Trong trường hợp tai nạn đâm va xảy ra do các nguyên nhân bất khả kháng, ngẵu nhiên hoặc khi không xác định được tầu có lỗi, thì thiệt hại của tầu nào do tầu đó chịu, kể cả trường hợp tầu đang được neo, buộc hoặc cặp mạn một tầu khác thì xảy ra đâm va.

Điều 185.

1- Khi xảy ra tai nạn đâm va, thuyền trưởng các tầu liên quan có nghĩa vụ tiến hành cứu nạn tầu, người và tài sản trên tầu khác, nếu hành động đó không gây ra sự nguy hiểm đặc biệt cho tầu, người và tài sản trên tầu của mình.

2- Ngay sau khi đâm va, thuyền trưởng các tầu liên quan có nghĩa vụ trao đổi cho nhau biết tên tầu, hô hiệu, nơi đăng ký, cảng rời cuối cùng và cảng định đến của tầu mình.

3- Chủ tầu không chịu trách nhiệm về việc thuyền trưởng dưới quyền không thực hiện nghĩa vụ nói tại khoản 1 và khoản 2, Điều này.

Điều 186.

1- Các quy định tại Chương này cũng được áp dụng khi tầu có lỗi gây ra tổn thất cho tầu, người và tài sản trên tầu khác mà không có sự đâm va trực tiếp.

2- Các quy định tại Chương này cũng được áp dụng đối với các tầu thuộc các lực lượng vũ trang Việt Nam. Các tầu này chỉ được miễn trách nhiệm bồi thường nếu có lỗi gây ra tai nạn đâm va khi đang làm nhiệm vụ ở vùng diễn tập quân sự và vùng cấm hoạt động hàng hải đã được công bố, nhưng thuyền trưởng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều 185 của Bộ luật này.

Chương 14:

TỔN THẤT CHUNG

Điều 187.

1- Tổn thất chung bao gồm những hy sinh hoặc chi phí bất thường được thực hiện một cách có ý thức và hợp lý vì sự an toàn chung nhằm cứu tầu, hàng hoá, tiền cước vận chuyển hoặc tiền công vận chuyển hành khách thoát khỏi hiểm hoạ chung.

2- Tổn thất là hậu quả trực tiếp của hành động gây ra tổn thất chung mới được tính vào tổn thất chung. Tổn thất gián tiếp liên quan đến hành động gây ra tổn thất chung như tổn thất do lưu tầu hoặc do chênh lệch giá đều không được tính vào tổn thất chung.

3- Chi phí đặc biệt vượt quá mức cần thiết chỉ được tính vào tổn thất chung trong giới hạn hợp lý đối với từng trường hợp cụ thể.

Điều 188.

1- Tổn thất chung được phân bổ theo một tỉ lệ tương ứng với giá trị của tầu, hàng hoá, tiền cước vận chuyển, tiền công vận chuyển hành khách ở nơi và thời điểm mà tầu ghé vào lánh nạn sau khi xảy ra tổn thất chung.

2- Các quy định tại khoản 1, Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hiểm hoạ chung phát sinh do lỗi của người cùng có lợi ích trong tổn thất chung hoặc của người thứ ba.

3- Tổn thất chung cũng được phân bổ ngay cả khi đã phải hy sinh tầu hoặc toàn bộ hàng hoá mà không đạt được hiệu quả mong muốn.

4- Việc phân bổ tổn thất chung không loại trừ quyền của người liên quan đòi người có lỗi phải bồi thường cho mình.

Điều 189.

Tổn thất của số hàng hoá được bốc lậu lên tầu hoặc khai sai về chủng loại và giá trị không được tính vào tổn thất chung; nếu hàng hoá đó cũng được cứu thoát khỏi hiểm hoạ chung, thì cũng phải chịu một giá trị phân bổ tương ứng.

Điều 190.

Mọi tổn thất về tầu, hàng hoá, tiền cước vận chuyển không được tính vào tổn thất chung theo các nguyên tắc trên đây, được gọi là tổn thất riêng. Người bị thiệt hại không được bồi thường, nếu không chứng minh được tổn thất xảy ra do lỗi của người khác.

Điều 191.

1- Việc xác định tổn thất chung, giá trị tổn thất và phân bổ tổn thất chung do các chuyên viên phân bổ tổn thất chung thực hiện theo yêu cầu và chỉ định của chủ tầu.

2- Chủ tầu có nghĩa vụ chỉ định chuyên viên phân bổ tổn thất chung của mình chậm nhất là sau ba mươi ngày, kể từ ngày tầu ghé vào nơi lánh nạn, sau khi xảy ra tổn thất chung. Sau thời hạn đó mà chủ tầu chưa chỉ định được, thì bất cứ ai trong số những người liên quan cũng có quyền chỉ định chuyên viên phân bổ tổn thất chung.

3- Các nguyên tắc dùng để xác định cụ thể giá trị tổn thất và giá trị phân bổ tổn thất chung do các bên thoả thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp không có thoả thuận trước trong hợp đồng, thì chuyên viên phân bổ tổn thất chung căn cứ vào tập quán quốc tế để giải quyết.

Điều 192.

Thời hiệu khiếu nại về tổn thất chung là hai năm, tính từ ngày xảy ra tổn thất chung. Thời hiệu này tạm dừng khi các chuyên viên phân bổ tổn thất chung bắt đầu tiến hành hoạt động xác định tổn thất chung và tiếp tục được tính từ ngày hoạt động đó chấm dứt.

Điều 193.

Hội đồng bộ trưởng ban hành Quy chế về chuyên viên phân bổ tổn thất chung.

Chương 15:

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ TẦU

Điều 194.

1- Chủ tầu có trách nhiệm bồi thường dân sự các tổn thất phát sinh trong việc sử dụng tầu biển, nếu không chứng minh được rằng đã không có lỗi gây ra tổn thất đó, sau đây gọi là trách nhiệm dân sự của chủ tầu.

2- Trách nhiệm bồi thường dân sự không loại trừ trách nhiệm hành chính và hình sự.

Điều 195.

1- Chủ tầu được hạn chế trách nhiệm bồi thường theo mức giới hạn quy định tại Điều 196 của Bộ luật này khi bồi thường các tổn thất liên quan đến:

a) Bất cứ người nào có mặt ở trên tầu mà bị chết, bị thương hoặc bị tổn hại khác về sức khoẻ con người; mọi tài sản ở trên tầu bị mất mát, hư hỏng;

b) Bất cứ người nào ở bên ngoài con tầu mà bị chết, bị thương hoặc bị tổn hại khác về sức khoẻ con người; mọi tài sản hoặc các quyền lợi khác ở bên ngoài con tầu bị mất mát, hư hỏng hoặc bị xâm phạm do hành động, sự sơ suất, sai lầm của bất cứ ai đang ở trên tầu hoặc ở ngoài con tầu mà chủ tầu phải chịu trách nhiệm về hành động, sự sơ suất, sai lầm của họ. Trong trường hợp tổn thất do những người ở bên ngoài con tầu gây ra mà chủ tầu phải chịu trách nhiệm về hành động, sự sơ suất, sai lầm của họ, thì chủ tầu chỉ được hạn chế trách nhiệm bồi thường đối với các tổn thất phát sinh trong việc điều khiển, quản trị tầu, bốc hàng, vận chuyển và dỡ hàng; nhận hành khách, vận chuyển và trả hàng khách;

c) Mọi nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định của pháp luật về việc thanh thải xác tầu và các vật thể liên quan đến tầu khi trục vớt, di chuyển, phá huỷ tầu bị đắm, bị mắc cạn hoặc bị bỏ lại; nghĩa vụ hoặc trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho thiết bị cảng, cầu bến, luồng lạch, vũng đậu tầu, ụ tầu; nghĩa vụ hoặc trách nhiệm bồi thường tổn thất ô nhiễm môi trường do tầu gây ra mà không phải là tổn thất ô nhiệm môi trường do phóng xạ nguyên tử.

2- Chủ tầu cũng được hạn chế trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp nói tại điểm b, khoản 1, Điều này, nếu trách nhiệm đó phát sinh từ việc sở hữu, chiếm hữu, quản lý, kiểm soát tầu mà không cần phải chứng minh; lỗi của chủ tầu hoặc của những người khác mà chủ tầu phải chịu trách nhiệm.

3- Chủ tầu không được hạn chế trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp xảy tổn thất liên quan đến:

a) Hành động cứu hộ hoặc chi phí để đóng góp vào tổn thất chung;

b) Ô nhiễm môi trường do phóng xạ nguyên tử;

c) Khiếu nại của thuyền trưởng, thuyền viên khác, người làm công cho chủ tầu ở trên tầu hoặc của những người làm công khác ở bên ngoài con tầu mà có nhiệm vụ liên quan đến tầu, kể cả khiếu nại của người thừa kế, người đại diện và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng, nếu quy định pháp luật về hợp đồng lao động giữa chủ tầu và những người này không cho phép chủ tầu được hạn chế trách nhiệm bồi thường đối với những khiếu nại của họ hoặc chỉ cho phép chủ tầu giới hạn trách nhiệm bồi thường với mức cao hơn so với mức giới hạn quy định tại Điều 196 của Bộ luật này.

4- Trong trường hợp pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận có quy định khác với Bộ luật này, thì mức giới hạn trách nhiệm bồi thường của chủ tầu được xác định và giải quyết trên cơ sở các văn bản đó.

Điều 196.

1- Chủ tầu chỉ có trách nhiệm bồi thường theo trách nhiệm dân sự trong các mức giới hạn:

a) Tổng giá trị của con tầu liên quan, tính theo đơn giá tương đương ba nghìn một trăm Frăng vàng cho mỗi tấn đăng ký dung tích toàn phần (GRT), nếu là để bồi thường tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức khoẻ con người;

b) Tổng giá trị của con tầu liên quan, tính theo đơn giá tương đương một nghìn Frăng vàng cho mỗi tấn đăng ký dung tích toàn phần (GRT), nếu là để bồi thường mất mát, hư hỏng tài sản;

c) Tổng giá trị của con tầu liên quan, tính theo giá tương đương ba nghìn một trăm Frăng vàng cho mỗi tấn đăng ký dung tích toàn phần (GRT), nếu là để bồi thường tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn thất khác về sức khoẻ con người và mất mát, hư hỏng tài sản trong cùng một vụ việc. Trong đó, tổng số tiền tính theo đơn giá tương đương hai nghìn một trăm Frăng vàng cho mỗi tấn đăng ký dung tích toàn phần (GRT) dùng để bồi thường tổn thất liên quan tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức khoẻ con người; số còn lại dùng để bồi thường mất mát, hư hỏng tài sản. Trong trường hợp tổng số tiền dành để bồi thường tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức khoẻ con người không đủ, thì phần còn thiếu được tính vào phần tiền dành để bồi thường mất mát, hư hỏng tài sản theo tỉ lệ thuận.

2- Mọi thoả thuận nhằm giảm trách nhiệm bồi thường của chủ tầu dưới mức giới hạn nói tại khoản 1, Điều này đều không có giá trị.

3- Số tấn đăng ký dung tích toàn phần (GRT) nói tại khoản 1, Điều này là:

a) Tổng dung tích thực dụng cộng với dung tích buồng máy, nếu là tầu có động cơ;

b) Tổng dung tích thực dụng, nếu là tầu không có động cơ.

4- Khi xác định giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tầu, loại tầu dưới ba trăm tấn đăng ký dung tích toàn phần được quy tròn là ba trăm.

Điều 197.

1- Mức giới hạn quy định tại Điều 196 của Bộ luật này chỉ được dùng để bồi thường các tổn thất phát sinh trong cùng một vụ việc, không liên quan đến các vụ việc khác.

2- Trong trường hợp chủ tầu có quyền đòi người khiếu nại mình bồi thường trong cùng một vụ việc, thì các quy định tại Chương này chỉ áp dụng để xác định khoản tiền chênh lệch so với trách nhiệm của mỗi bên.

3- Mức giới hạn quy định tại Điều 196 của Bộ luật này được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỉ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thanh toán.

Điều 198.

1- Trong trường hợp số tiền bồi thường vượt quá mức giới hạn quy định tại Điều 196 của Bộ luật này, thì chủ tầu có thể lập "Quỹ bồi thường" để thoả mãn các khiếu nại.

2- "Quỹ bồi thường" này chỉ dành để giải quyết các khiếu nại đòi bồi thường mà chủ tầu được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm dân sự.

3- "Quỹ bồi thường" được lập bằng cách ký quỹ hoặc bằng các hình thức bảo đảm khác ở toà án nhận khiếu nại hoặc tại một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác và phải được toà án hoặc cơ quan đó công nhận là hợp lệ và bảo hộ.

4- Sau khi chủ tầu đã lập "Quỹ bồi thường", không ai có quyền xâm phạm quyền lợi hoặc tài sản của chủ tầu. Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nói ở khoản 3, Điều này có quyền ra lệnh giải phóng tài sản bị cầm giữ, bắt giữ hoặc chấm dứt các bảo đảm tương tự.

5- "Quỹ bồi thường" được phân chia cho những người khiếu nại theo tỉ lệ thích hợp giữa các khoản tiền khiếu nại.

6- Việc lập "Quỹ bồi thường" không có nghĩa là chủ tầu đã thừa nhận mọi trách nhiệm về mình.

Điều 199.

Giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tầu cũng được áp dụng theo nguyên tắc tương tự đối với người khai thác tầu, người quản lý tầu, người cứu hộ chuyên nghiệp và những người mà bản thân chủ tầu hoặc những người nói trên phải chịu trách nhiệm về hành động, sự sơ suất, sai lầm của họ.

Chương 16:

HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI

Mục A: QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 200.

1- Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng được ký kết giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm mà theo đó, người bảo hiểm thu bảo hiểm phí do người được bảo hiểm trả và người được bảo hiểm được người bảo hiểm bồi thường tổn thất của đối tượng bảo hiểm do các hiểm hoạ hàng hải gây ra theo mức độ và điều kiện đã thoả thuận với người bảo hiểm.

2- Hợp đồng bảo hiểm hàng hải có thể áp dụng đối với cả các hiểm hoạ có thể gây ra tổn thất cho đối tượng bảo hiểm hàng hải trên quãng vận chuyển đường không, đường thuỷ nội địa hoặc đường bộ trong liên hiệp vận chuyển.

3- Hợp đồng bảo hiểm hàng hải phải được làm bằng văn bản.

Điều 201.

1- Đối tượng bảo hiểm hàng hải có thể là bất kỳ quyền lợi vật chất nào liên quan đến các hoạt động hàng hải mà có thể quy ra tiền, bao gồm: tầu biển, hàng hoá, tiền cước vận chuyển, tiền công vận chuyển hành khách, tiền thuê tầu, tiền thuê - mua tầu, tiền lãi ước tính của hàng hoá, các khoản hoa hồng, chi phí tổn thất chung, trách nhiệm dân sự và các khoản tiền được bảo đảm bằng tầu, hàng hoá hoặc tiền cước vận chuyển.

2- Đối tượng bảo hiểm hàng hải còn có thể là tầu đang đóng.

Điều 202.

1- Người bảo hiểm có thể cho người khác tái bảo hiểm đối tượng bảo hiểm mà mình đã nhận bảo hiểm.

2- Hợp đồng tái bảo hiểm độc lập với hợp đồng bảo hiểm gốc.

Điều 203.

1- Theo yêu cầu của người được bảo hiểm, người bảo hiểm có nghĩa vụ cấp đơn bảo hiểm cho người được bảo hiểm. Đơn bảo hiểm là bằng chứng về việc ký kết hợp đồng.

2- Trước khi cấp đơn bảo hiểm, người bảo hiểm có nghĩa vụ cấp cho người được bảo hiểm giấy chứng nhận về việc ký kết hợp đồng, nếu người đó yêu cầu.

3- Đơn bảo hiểm có thể được cấp theo hình thức đơn bảo hiểm đích danh, đơn bảo hiểm theo lệnh hoặc đơn bảo hiểm vô danh.

4- Đơn bảo hiểm phải có những nội dung cơ bản sau đây:

a) Tên người được bảo hiểm hoặc người có quyền lợi được bảo hiểm;

b) Đối tượng bảo hiểm;

c) Các hiểm hoạ được bảo hiểm;

d) Số lượng chuyến đi hoặc thời hạn thực hiện hợp đồng bảo hiểm, tuỳ theo hợp đồng đó là hợp đồng bảo hiểm chuyến hoặc hợp đồng bảo hiểm thời hạn;

e) Số tiền bảo hiểm;

g) Nơi, ngày, tháng và giờ cấp đơn bảo hiểm;

h) Chữ ký và xác nhận của người bảo hiểm.

Điều 204.

1- Người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm biết tất cả các thông tin mà mình biết hoặc cần phải biết liên quan đến việc ký kết hợp đồng bảo hiểm, có thể ảnh hưởng đến việc xác định khả năng xảy ra hiểm hoạ hoặc quyết định của người bảo hiểm về việc nhận bảo hiểm và các điều kiện bảo hiểm, trừ loại thông tin mà mọi người đều biết hoặc người bảo hiểm đã biết hoặc cần phải biết.

2- Nghĩa vụ của người được bảo hiểm quy định tại khoản 1, Điều này cũng được áp dụng đối với các đại diện được uỷ quyền của người được bảo hiểm.

3- Các nghĩa vụ quy định tại Điều này cũng được áp dụng đối với người thứ ba, nếu hợp đồng bảo hiểm được ký kết vì quyền lợi của người thứ ba, trừ trường hợp người thứ ba không biết về việc ký kết này.

Điều 205.

1- Hợp đồng bảo hiểm hàng hải có thể được ký kết vì quyền lợi của người thứ ba, sau đây gọi là người có quyền lợi được bảo hiểm.

2- Người có quyền lợi được bảo hiểm có quyền yêu cầu người bảo hiểm cấp đơn bảo hiểm; nếu đơn bảo hiển đã được giao cho người có quyền lợi được bảo hiểm, thì người đó được hưởng đầy đủ các quyền theo hợp đồng.

Nghĩa vụ của người được bảo hiểm liên quan đến việc thực hiện hợp đồng, trừ nghĩa vụ nộp bảo hiểm phí, được chuyển sang cho người có quyền lợi được bảo hiểm từ khi người này nhận được đơn bảo hiểm.

Điều 206.

1- Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt hiệu lực, nếu vào thời điểm ký kết hợp đồng, hiểm hoạ được bảo hiểm đã xảy ra hoặc không có khả năng xảy ra trong thực tế. Người bảo hiểm vẫn có quyền thu tiền phạt huỷ hợp đồng, trừ trường hợp trước khi ký kết người bảo hiểm đã biết về sự kiện đó.

2- Hai bên thoả thuận trong hợp đồng về mức tiền phạt huỷ hợp đồng.

Điều 207.

Trong trường hợp người được bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 204 của Bộ luật này, thì người bảo hiểm có quyền rút khỏi hợp đồng và vẫn được thu đầy đủ bảo hiểm phí. Nếu người được bảo hiểm không có lỗi trong việc khai báo không chính xác hoặc không khai báo theo quy định tại Điều 204 của Bộ luật này, thì người bảo hiểm không có quyền rút khỏi hợp đồng, nhưng có quyền thu thêm bảo hiểm phí ở mức độ hợp lý.

Điều 208.

Người được bảo hiểm có quyền rút khỏi hợp đồng bảo hiểm vào bất kỳ lúc nào, trước khi xuất hiện hiểm hoạ được bảo hiểm và có nghĩa vụ trả tiền phạt huỷ hợp đồng.

Các bên tham gia hợp đồng thoả thuận trong hợp đồng về tiền phạt huỷ hợp đồng và điều kiện hoàn trả bảo hiểm phí.

Điều 209.

Thời hiệu khiếu nại liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hai năm, tính từ ngày phát sinh vụ việc.

Mục B: GIÁ TRỊ BẢO HIỂM VÀ SỐ TIỀN BẢO HIỂM

Điều 210.

Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của đối tượng bảo hiểm và được xác định như sau:

a) Giá trị bảo hiểm của tầu là tổng giá trị của tầu vào thời điểm bắt đầu bảo hiểm. Giá trị này còn bao gồm giá trị của máy móc, trang thiết bị, phụ tùng, dự trữ của tầu cộng với toàn bộ phí bảo hiểm phí. Tuỳ theo hợp đồng, giá trị tầu còn có thể bao gồm cả tiền lương ứng trước cho thuyền bộ và chi phí chuẩn bị chuyến đi;

b) Giá trị bảo hiểm của hàng hoá là giá trị hàng ghi trên hoá đơn ở nơi bốc hàng hoặc giá trị thị trường ở nơi và thời điểm bốc hàng cộng với phí bảo hiểm và có thể cả tiền lãi ước tính;

c) Giá trị bảo hiểm của tiền cước vận chuyển là tổng số tiền cước vận chuyển cộng với bảo hiểm phí. Trong trường hợp người thuê vận chuyển mua bảo hiểm cho tiền cước vận chuyển, thì số tiền cước này được tính gộp vào giá trị bảo hiểm của hàng hoá để bảo hiểm.

d) Giá trị bảo hiểm của các đối tượng bảo hiểm khác, trừ các trách nhiệm dân sự, là giá trị của đối tượng ở nơi và thời điểm bắt đầu bảo hiểm cộng với phí bảo hiểm.

Điều 211.

1- Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm phải kê khai số tiền cần bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm, sau đây gọi là số tiền bảo hiểm.

2- Nếu số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm thấp hơn giá trị bảo hiểm, thì người bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường tổn thất, theo tỉ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm, kể cả chi phí khác thuộc phạm vi bảo hiểm.

3- Nếu số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm, thì phần tiền vượt quá giá trị bảo hiểm không được thừa nhận.

Điều 212.

Trong trường hợp đối tượng bảo hiểm được nhiều người bảo hiểm đối với cùng một hiểm hoạ và tổng số tiền bảo hiểm vượt quá giá trị bảo hiểm, thì tất cả những người bảo hiểm đó chỉ chịu trách nhiệm bồi thường trong phạm vi giá trị bảo hiểm và mỗi người chỉ chịu trách nhiệm theo tỉ lệ tương ứng với số tiền bảo hiểm mà mình đã nhận bảo hiểm. Bảo hiểm này gọi là bảo hiểm trùng.

Mục C: CHUYỂN GIAO QUYỀN THEO HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI

Điều 213.

Các quyền theo hợp đồng bảo hiểm hàng hải chỉ được chuyển cho người đã được chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm; nếu các quyền đó không được chuyển cho người được chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm, thì hợp đồng mặc nhiên chấm dứt và người bảo hiểm vẫn có nghĩa vụ bồi thường các tổn thất liên quan, xảy ra trước khi đối tượng bảo hiểm được chuyển nhượng.

Nghĩa vụ của người chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm cũng đồng thời được chuyển cho người được chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm. Kể cả trách nhiệm liên quan đến những khiếu nại do người bảo hiểm đã đưa ra trước đó đối với người chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm.

Điều 214.

1- Việc chuyển quyền theo hợp đồng bảo hiểm hàng hải có cấp đơn bảo hiểm được thực hiện cùng với việc chuyển nhượng đơn bảo hiểm.

2- Việc chuyển nhượng đơn bảo hiểm được giải quyết theo nguyên tắc như chuyển nhượng vận đơn.

Điều 215.

1- Nếu đối tượng bảo hiểm là tầu biển, thì việc chuyển các quyền theo hợp đồng bảo hiểm phải được người bảo hiểm đồng ý trước.

2- Nếu tầu đang hành trình ở thời điểm được chuyển nhượng cho người khác, thì các quyền theo hợp đồng bảo hiểm tầu không được chuyển ngay cho người được chuyển nhượng tầu mà hợp đồng bảo hiểm vẫn giữ nguyên hiệu lực cho đến khi tầu đó vào neo đậu tại cảng đầu tiên, sau khi được chuyển nhượng.

Mục D: BẢO HIỂM BAO

Điều 216.

1- Bảo hiểm bao là loại bảo hiểm trọn gói, được áp dụng đối với đối tượng bảo hiểm là một loại hàng hoá hoặc một số loại hàng hoá mà người được bảo hiểm gửi đi hoặc nhận được trong một thời hạn nhất định.

2- Người bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm bao có nghĩa vụ cấp theo yêu cầu người được bảo hiểm đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm cho mỗi chuyến hàng hoặc cho từng đơn vị hàng hoá.

Điều 217.

1- Người được bảo hiểm trong bảo hiểm bao có nghĩa vụ thông báo ngay cho người bảo hiểm biết sau khi nhận được các thông tin liên quan đến việc gửi hàng hoặc nhận được hàng và mỗi lần đều phải thông báo tên tầu, tuyến hành trình, hàng hoá và số tiền bảo hiểm, kể cả khi người bảo hiểm nhận được thông báo, thì có thể hàng đã được gửi hoặc đã đến cảng đích.

2- Nếu người được bảo hiểm cố ý hoặc do cẩu thả mà không thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 1, Điều này, thì người bảo hiểm có quyền rút khỏi hợp đồng và vẫn được hưởng bảo hiểm phí tương tự như trong trường hợp hợp đồng được thực hiện đúng đắn.

Điều 218.

Các bên có quyền yêu cầu huỷ hợp đồng bảo hiểm bao với điều kiện phải thông báo cho nhau biết trước ba tháng về việc đó.

Mục E: THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI

Điều 219.

Người được bảo hiểm có nghĩa vụ nộp bảo hiểm phí cho người bảo hiểm ngay sau khi ký kết hợp đồng hoặc ngay khi được cấp đơn bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

Điều 220.

1- Người được bảo hiểm có nghĩa vụ báo ngay cho người bảo hiểm biết sau khi nhận được các thông tin liên quan đến sự thay đổi về các hiểm hoạ được bảo hiểm có khả năng đe doạ đối tượng bảo hiểm hoặc về tai nạn đã xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm và phải làm theo các chỉ dẫn của người bảo hiểm.

2- Người bảo hiểm có quyền rút khỏi hợp đồng bảo hiểm, nếu người được bảo hiểm đã vi phạm quy định nói tại khoản 1, Điều này.

Điều 221.

1- Trong trường hợp xảy ra tổn thất liên quan đến hiểm hoạ đã được bảo hiểm, người được bảo hiểm có nghĩa vụ tiến hành mọi biện pháp cần thiết để ngăn ngừa hoặc hạn chế tổn thất và bảo đảm cho việc thực hiện quyền khiếu nại của người bảo hiểm đối với người gây ra tổn thất. Khi thực hiện nghĩa vụ này, người được bảo hiểm phải thực hiện các chỉ dẫn của người bảo hiểm.

2- Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với tổn thất xảy ra do người được bảo hiểm quá cẩu thả hoặc cố ý không thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều này.

Điều 222.

Người bảo hiểm có trách nhiệm bồi hoàn cho người được bảo hiểm mọi chi phí hợp lý và cần thiết do người được bảo hiểm chi ra để ngăn ngừa hoặc hạn chế tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm, cũng như chi phí thực hiện những chỉ dẫn của người bảo hiểm quy định tại Điều 221 của Bộ luật này hoặc chi phí để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm và chi phí đóng góp vào tổn thất chung. Các chi phí này phải được bồi hoàn theo tỉ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm.

Điều 223.

Trong phạm vi số tiền bảo hiểm, người bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường cho những tổn thất là hậu quả trực tiếp của hiểm hoạ được bảo hiểm và còn phải bồi hoàn những chi phí quy định tại Điều 222 của Bộ luật này, mặc dù tổng số tiền phải trả cho người được bảo hiểm có thể vượt quá số tiền bảo hiểm.

Điều 224.

Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với những tổn thất xảy ra do hành động cố ý hoặc quá cẩu thả của người được bảo hiểm, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất phát sinh do sự sơ suất hoặc sai lầm của thuyền trưởng đồng thời cũng là người được bảo hiểm trong việc điều khiển, quản trị tầu và các tổn thất do lỗi của thuyền bộ, hoa tiêu.

Điều 225.

Khi bảo hiểm tầu và tiền cước vận chuyển, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm về các tổn thất phát sinh do:

a) Tầu không đủ khả năng an toàn đi biển vào lúc bắt đầu chuyến đi, trừ khi tầu có khuyết tật ẩn hoặc khi xảy ra các tình huống không thể tránh khỏi, mặc dù người được bảo hiểm đã có sự quan tâm thích đáng;

b) Tuổi của tầu hoặc thời gian sử dụng;

c) Bốc lên tầu những chất hoặc vật liệu dễ nổ, dễ cháy hoặc những hàng hoá nguy hiểm khác, không phù hợp với những quy định về việc vận chuyển loại hàng này, nếu người được bảo hiểm biết nhưng người bảo hiểm lại không biết về việc đó.

Điều 226.

Khi bảo hiểm hàng hoá, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm về các tổn thất phát sinh do:

a) Tính chất tự nhiên của hàng hoá;

b) Hàng bị rò chảy, hao hụt hoặc hao mòn tự nhiên;

c) Bao bì không đúng quy cách hoặc không thích hợp;

d) Chậm trễ trong việc cung ứng hàng hoá.

Điều 227.

Trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với những tổn thất của đối tượng bảo hiểm xảy ra do chiến tranh hoặc những hoạt động quân sự với bất kỳ tính chất nào và hậu quả của nó; bị cưỡng đoạt; gây rối, đình công hoặc những tổn thất xảy ra do hành động tịch thu, trưng dụng, bắt giữ, phá huỷ tầu hoặc hàng hoá theo mệnh lệnh quân sự hoặc lệnh của chính quyền dân sự.

Điều 228.

Trong trường hợp bồi thường tổn thất liên quan đến các trách nhiệm trong tai nạn đâm va, thì ngoài trách nhiệm bồi thường các tổn thất của đối tượng bảo hiểm, người bảo hiểm còn có trách nhiệm bồi thường các tổn thất của người thứ ba, nếu người được bảo hiểm phải chịu trách nhiệm về các tổn thất do tai nạn đâm va, mặc dù tổng số tiền bồi thường có thể vượt quá số tiền bảo hiểm.

Điều 229.

Trong trường hợp xảy ra hiểm hoạ thuộc phạm vi bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm, thì người bảo hiểm có thể bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm để được miễn mọi trách nhiệm khác theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên, người bảo hiểm phải thông báo ý định này cho người được bảo hiểm biết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của người được bảo hiểm về hiểm hoạ đã xảy ra và hậu quả của nó. Trong trường hợp này người bảo hiểm không được đòi quyền sở hữu đối với đối tượng bảo hiểm, nếu số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị bảo hiểm.

Ngoài việc bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm, người bảo hiểm còn phải bồi hoàn những chi phí nhằm mục đích ngăn ngừa, hạn chế tổn thất hoặc để sửa chữa, khôi phục đối tượng bảo hiểm mà người được bảo hiểm đã chi trước khi nhận được thông báo của người bảo hiểm.

Điều 230.

1- Trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng, người bảo hiểm phải chịu trách nhiệm đối với các tổn thất xảy ra kế tiếp nhau, mặc dù tổng số giá trị tổn thất có thể vượt quá số tiền bảo hiểm.

2- Nếu đối tượng bảo hiểm bị tổn thất bộ phận mà vẫn chưa được sửa chữa hoặc bồi thường và tiếp sau đó lại xảy ra tổn thất toàn bộ, thì người được bảo hiểm chỉ được bồi thường tổn thất toàn bộ.

3- Những quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều này không loại trừ trách nhiệm của người bảo hiểm đối với việc bồi hoàn chi phí liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ nói tại Điều 221 của Bộ luật này.

Mục G: THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG KHI CÓ NGƯỜI THỨ BA PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ TỔN THẤT

Điều 231.

Khi đã trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm, người bảo hiểm được quyền truy đòi người thứ ba về trách nhiệm bồi thường tổn thất trong phạm vi số tiền đã trả. Người bảo hiểm thực hiện quyền này theo đúng các thể thức quy định đối với người được bảo hiểm.

Điều 232.

1- Người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm mọi tin tức, tài liệu, bằng chứng và đồng thời phải áp dụng những biện pháp cần thiết để người bảo hiểm có thể thực hiện có hiệu quả quyền truy đòi người thứ ba.

2- Nếu người được bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ nói tại khoản 1, Điều này hoặc có lỗi làm cho quyền truy đòi của người bảo hiểm không thể thực hiện được thì người bảo hiểm được miễn trả toàn bộ tiền bồi thường hoặc được giảm ở mức độ thích đáng.

3- Nếu người được bảo hiểm đã nhận tiền bồi thường tổn thất do người thứ ba trả, thì người bảo hiểm chỉ có nghĩa vụ trả phần tiền chênh lệch giữa số tiền phải bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm và số tiền mà người được bảo hiểm đã nhận từ người thứ ba.

Điều 233.

1- Theo yêu cầu của người được bảo hiểm, người bảo hiểm phải cam kết thanh toán chi phí đóng góp vào tổn thất chung trong phạm vi số tiền bảo hiểm.

2- Khi lập bản phân bổ tổn thất chung, người được bảo hiểm có nghĩa vụ quan tâm thích đáng các quyền lợi của người bảo hiểm.

Mục H: TỪ BỎ ĐỐI TƯỢNG BẢO HIỂM

Điều 234.

1- Người được bảo hiểm có quyền tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm và chuyển cho người bảo hiểm quyền, nghĩa vụ của mình liên quan đến đối tượng bảo hiểm để được nhận tiền bồi thường tổn thất toàn bộ, nếu việc đối tượng bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ là không thể tránh khỏi hoặc việc ngăn ngừa tổn thất đó sẽ gây ra các chi phí quá cao so với giá trị của đối tượng bảo hiểm.

2- Quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm có thể được áp dụng trong trường hợp tầu biển bị mất tích, bị cưỡng đoạt, bị hư hỏng do tai nạn mà không thể sửa chữa được hoặc chi phí sửa chữa, phục hồi, chuộc tầu là không có hiệu quả kinh tế.

3- Quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm nói tại khoản 2, Điều này cũng được áp dụng đối với hàng hoá, kể cả khi chi phí sửa chữa, vận chuyển hàng hoá đến cảng đích là quá cao so với giá trị thị trường của hàng hoá đó tại cảng đích.

Điều 235.

1- Tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm phải làm bằng văn bản và phải ghi rõ căn cứ để áp dụng quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm.

2- Tuyên bố từ bỏ phải được gửi cho người bảo hiểm trong thời hạn hợp lý, nhưng không quá một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày người được bảo hiểm biết về các sự kiện làm căn cứ để áp dụng quyền từ bỏ hoặc trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày hết hạn bảo hiểm trong các trường hợp tầu hoặc hàng hoá bị cưỡng đoạt hoặc bị mất quyền chiếm hữu vì những nguyên nhân khác. Sau các thời hạn nói trên, thì người được bảo hiểm bị mất quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm, nhưng vẫn có quyền đòi bồi thường tổn thất.

3- Việc từ bỏ đối tượng bảo hiểm không được kèm theo bất kỳ điều kiện nào. Nếu việc từ bỏ đã được chấp nhận, thì người bảo hiểm và người được bảo hiểm đều không được thay đổi quyết định của mình.

Điều 236.

Khi tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm, người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm những thông tin liên quan đến quyền về tài sản đối với đối tượng bảo hiểm, các khoản bảo hiểm và hạn chế khác mà người được bảo hiểm biết.

Điều 237.

1- Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được tuyên bố từ bỏ, người bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo cho người được bảo hiểm biết là chấp nhận hoặc từ chối việc từ bỏ. Sau thời hạn này, người bảo hiểm bị mất quyền từ chối.

2- Quyền và nghĩa vụ liên quan đến đối tượng bảo hiểm được chuyển sang cho người bảo hiểm ngay sau khi người bảo hiểm thông báo chấp nhận từ bỏ; người bảo hiểm có thể không đòi quyền và nghĩa vụ này.

3- Nếu việc thông báo từ bỏ được thực hiện đúng quy định mà người bảo hiểm không chấp nhận việc từ bỏ, thì người được bảo hiểm vẫn có quyền đòi bồi thường.

Điều 238.

1- Trong trường hợp xảy ra tổn thất toàn bộ thực tế do tầu bị mất tích cùng với hàng hoá trên tầu, người được bảo hiểm có thể đòi người bảo hiểm bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm mà không phải tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm theo quy định tại Điều 235 của Bộ luật này.

2- Trong trường hợp tầu bị mất tích là tầu được bảo hiểm có thời hạn, người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường, nếu đã nhận được tin cuối cùng về tầu trước khi kết thúc thời hạn bảo hiểm. Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường, nếu chứng minh được tầu bị mất tích sau khi thời hạn bảo hiểm kết thúc.

Điều 239.

Nếu người bảo hiểm đã trả tiền bồi thường mà sau đó tầu lại thoát khỏi hiểm hoạ, thì người bảo hiểm có quyền yêu cầu người được bảo hiểm tiếp tục sở hữu tầu đó và hoàn lại số tiền đã được bồi thường, sau khi khấu trừ tiền bồi thường tổn thất bộ phận của tầu, với điều kiện tổn thất bộ phận đó là hậu quả trực tiếp của hiểm hoạ được bảo hiểm.

Mục I: THANH TOÁN TIỀN BỒI THƯỜNG

Điều 240.

Khi thanh toán tiền bồi thường tổn thất của đối tượng bảo hiểm, người bảo hiểm có quyền yêu cầu người được bảo hiểm trình bày về sự kiện liên quan, xuất trình tài liệu, bằng chứng cần thiết cho việc đánh giá sự kiện và mức độ tổn thất.

Chương 17:

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HÀNG HẢI

Điều 241.

1- Các bên liên quan có thể giải quyết tranh chấp hàng hải bằng thương lượng hoặc thoả thuận đưa tranh chấp ra giải quyết trước trọng tài hoặc khởi kiện trước toà án.

2- Các tranh chấp hàng hải được trọng tài hoặc toà án giải quyết theo thẩm quyền, thủ tục do pháp luật quy định.

Điều 242.

Nếu hợp đồng hàng hải có ít nhất một bên là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, thì các bên tham gia hợp đồng có thể thoả thuận đưa tranh chấp ra giải quyết trước trọng tài hoặc toà án ở nước ngoài.

Chương 18:

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 243.

Bộ luật hàng hải Việt Nam có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1991.

Điều 244.

Những quy định trước đây về hoạt động hàng hải trái với Bộ luật này đều bãi bỏ.

Bộ luật đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990.

 

 

Võ Chí Công

(Đã ký)

 

- Quy chế quản lý hoạt động hàng hải tại cảng biển và các khu vực hàng hải được ban hành kèm theo Nghị định 13-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 06/01/2004)

Căn cứ Bộ Luật Hàng hải Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 1990
...
Điều 1. - Ban hành kèm theo Nghị định này Quy chế quản lý hoạt động hàng hải tại cảng biển và các khu vực Hàng hải ở Việt Nam.

Điều 2. - Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ký; các quy ước trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Điều 3. - Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
...
QUYCHẾ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI TẠI CẢNG BIỂN VÀ KHU VỰC HÀNG HẢI Ở VIỆT NAM

Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.
...
Điều 2.
...
Điều 3.
...
Điều 4.
...
Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ VIỆC MỞ, ĐÓNG CỬA CÁC CẢNG BIỂN VÀ LUỒNG DÀNH CHO TẦU BIỂN

Điều 5.
...
Điều 6.
...
Điều 7.
...
Điều 8.
...
Điều 9.
...
Điều 10.
...
Chương 3: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI

MỤC A. THỦ TỤC XIN ĐẾN CẢNG ĐỐI VỚI TẦU THUYỀN NƯỚC NGOÀI

Điều 11.
...
Điều 12.
...
Điều 13. Việc cấp phép cho tầu có thể do chủ tầu, Đại diện chủ tầu hoặc Đại lý của chủ tầu trực tiếp thực hiện.

Điều 14.
...
MỤC B. THỦ TỤC VÀO CẢNG VÀ RỜI CẢNG

Điều 15.
...
Điều 16.
...
Điều 17.
...
Điều 18.
...
Điều 19.
...
Điều 20. Khi làm thủ tục vào Cảng, thuyền trưởng phải chuẩn bị sẵn sàng các loại giấy tờ sau đây:
...
Điều 21.
...
Điều 22.
...
Điều 23.
...
Điều 24.
...
Điều 25.
...
MỤC C. CHẾ ĐỘ HOA TIÊU

Điều 26.
...
Điều 27.
...
MỤC D. CÁC QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI, NEO ĐẬU, CẬP TẦU, CẬP MẠN

Điều 28.
...
Điều 29.
...
Điều 30. Khi thực hiện các hoạt động trong vùng nước cảng biển và các khu vực hàng hải khác, tất cả các thuyền trưởng phải chú ý thực hiện nghiêm chỉnh các quy định sau đây:
...
Điều 31.
...
Điều 32.
...
Điều 33.
...
Điều 34.
...
Điều 35.
...
Điều 36.
...
Điều 37.
...
Điều 38.
...
Điều 39.
...
Điều 40.
...
MỤC E. CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRẬT TỰ - VỆ SINH

Điều 41.
...
Điều 42.
...
Điều 43. Tất cả các loại tầu thuyền lớn, nhỏ khi vào hoạt động trong vùng nước cảng phải ghi rõ tên, số hiệu, nơi đăng ký theo quy định hiện hành.

Điều 44. Khi tầu thuyền đang neo đậu trong vùng nước cảng biển, cấm các hành vi sau đây;
...
Điều 45.
...
Điều 46.
...
Điều 47.
...
Điều 48.
...
MỤC F. AN TOÀN PHÒNG CHỐNG CHÁY - NỔ VÀ PHÒNG NGỪA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO TẦU BIỂN GÂY RA

Điều 49.
...
Điều 50.
...
Điều 51.
...
Điều 52.
...
Điều 53.
...
Điều 54.
...
Điều 55.
...
Điều 56.
...
Chương 4: XỬ LÝ CÁC VI PHẠM

Điều 57.
...
Điều 58. Việc phạt tiền đối với các hành vi vi phạm Quy chế này được quy định như sau:
...
Điều 59.
...
Điều 60.
...
Điều 61. Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam chịu trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện Quy chế này.

Xem nội dung VB
Quy chế quản lý hoạt động hàng hải tại cảng biển và các khu vực hàng hải được ban hành kèm theo Nghị định 13-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 06/01/2004)
- Điều kiện được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam được hướng dẫn bởi Điều 6 Quy chế kèm theo Nghị định 91-CP năm 1997 (VB hết hiệu lực: 12/06/2006)

Căn cứ Bộ Luật hàng hải Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 1990;
...
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,
...
QUY CHẾ ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN VÀ THUYỀN VIÊN
...
Điều 6.- Tầu biển được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Không còn mang đăng ký tầu biển nước khác;

2. Tầu đã được Đăng kiểm Việt Nam hoặc cơ quan đăng kiểm tầu biển có thẩm quyền kiểm tra kỹ thuật, phân cấp tầu, đo dung tích và cấp các giấy chứng nhận cần thiết tương ứng với cấp tầu, loại tầu và mục đích sử dụng;

3. Nếu là tầu cũ mua của nước ngoài, lần đầu tiên xin đăng ký hoặc tái đăng ký tại Việt Nam thì không được quá 15 tuổi. Trường hợp đặc biệt phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép;

4. Thuộc sở hữu của tổ chức Việt Nam có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc của công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam.

5. Phải có tên gọi riêng do chủ tầu tự đặt, và được cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên chấp thuận. Trong trường hợp dùng tên các nhân vật lịch sử, sự kiện hoặc địa danh lịch sử để đặt tên tầu thì phải được Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hoặc Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản (nếu là tầu chuyên dùng ngành thuỷ sản) chấp thuận bằng văn bản;

6. Chủ tầu phải cam kết không sử dụng tầu vào các mục đích trái pháp luật hoặc làm ảnh hưởng đến quyền lợi và uỷ tín của Nhà nước Việt Nam.

Xem nội dung VB
- Điều kiện đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam được hướng dẫn bởi Điều 10 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 14-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 07/09/1997)

Căn cứ Bộ Luật Hàng hải Việt Nam ngày 30/6/1990
...
QUY CHẾ ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN VÀ THUYỀN VIÊN
...
Điều 10. - Để được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam, tầu biển phải có đầy đủ các điều kiện cơ bản sau đây:

a) Không còn mang bất kỳ một đăng ký tầu nào khác;

b) Tầu đã được Đăng kiểm Việt Nam hoặc cơ quan đăng kiểm tầu biển nước ngoài mà Đăng kiểm Việt Nam uỷ quyền đã kiểm tra kỹ thuật, phân cấp tầu, đo đạc dung tích và cấp các giấy chứng nhận cần thiết tương ứng với cấp tầu, loại tầu và mục đích sử dụng. Nếu là tầu cũ mua của nước ngoài, lần đầu tiên được đăng ký hoặc tái đăng ký tại Việt Nam, thì không được quá 15 tuổi;

c) Chủ tầu thường trú hoặc đăng ký trụ sở chính tại Việt Nam và có đủ điều kiện do Luật định để được sử dụng, quản lý tầu biển vào các mục đích kinh tế, nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, văn hoá, thể thao, xã hội hoặc công vụ Nhà nước;

d) Chủ tầu phải có đơn xin đăng ký tầu biển theo mẫu do cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên quy định và cam kết không sử dụng tầu vào các mục đích trái pháp luật hoặc làm ảnh hưởng đến quyền lợi và uy tín của Nhà nước Việt Nam.

Điều 11.- Tầu biển thuộc sở hữu của tổ chức liên doanh giữa Việt Nam và nước ngoài tại Việt Nam hoặc của xí nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam có đủ các điều kiện quy định tại Điều 10 Quy chế này cũng được đăng ký tại Việt Nam. Các tầu biển này chỉ được tham gia vận chuyển hàng hoá, hành khách và hành lý trên các tuyến nội địa Việt Nam theo đề nghị của Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam và được Thủ tướng Chính phủ cho phép.

Xem nội dung VB
Điều kiện được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam được hướng dẫn bởi Điều 6 Quy chế kèm theo Nghị định 91-CP năm 1997 (VB hết hiệu lực: 12/06/2006)
Điều kiện đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam được hướng dẫn bởi Điều 10 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 14-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 07/09/1997)
- Việc đăng ký ở nước ngoài tầu biển thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân Việt Nam được hướng dẫn bởi Mục F Chương 2 Quy chế kèm theo Nghị định 91-CP năm 1997 (VB hết hiệu lực: 12/06/2006)

Căn cứ Bộ Luật hàng hải Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 1990;
...
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,
...
QUY CHẾ ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN VÀ THUYỀN VIÊN
...
Chương 2: ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN
...
MỤC F: ĐĂNG KÝ Ở NƯỚC NGOÀI TẦU BIỂN THUỘC SỞ HỮU CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN VIỆT NAM

Điều 20.-

1. Tầu biển thuộc sơ hữu của tổ chức Việt Nam có trụ sở chính ở Việt Nam và của công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có thể được phép đăng ký ở nước ngoài, nếu có đủ các điều kiện sau:

a) Tầu được khai thác trên cơ sở hợp đồng thuê tầu trần hoặc hợp đồng thuê - mua tầu được ký kết giữa chủ tầu Việt Nam với tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài;

b) Tầu được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài chấp thuận việc đăng ký tầu biển ở nước đó, nhưng vẫn giữa nguyên quyền sở hữu của chủ tầu Việt Nam;

c) Chủ tầu phải cam kết thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ do pháp luật Việt Nam quy định.

2. Việc cho phép đăng ký ở nước ngoài tầu biển thuộc sơ hữu của tổ chức, cá nhân Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hoặc Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản (nếu là tầu biển chuyên dùng cho ngành thuỷ sản) quyết định.

Điều 21.-

1. Trước khi đăng ký ở nước ngoài mà tầu đã đăng ký tại Việt Nam, thì chủ tầu phải làm đơn xin xoá đăng ký hoặc xin phép tạm ngừng đăng ký trong "Số đăng ký tầu biển quốc gia".

2. Cơ quan Đăng ký Tầu biển và Thuyền viên nơi tầu đó đăng ký thực hiện việc xoá đăng ký và cấp "Giấy chứng nhận xoá đăng ký" hoặc "Giấy chứng nhận tạm ngừng đăng ký" cho các tầu biển Việt Nam để đăng ký ở nước ngoài; đồng thời kịp thời báo cáo cho Cơ quan Đăng ký Tầu biển và Thuyền viên để xoá tên tầu đó trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia".

Điều 22.- Việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề liên quan đến tầu biển quy định tại Điều 20 của Quy chế này phải thực hiện theo nguyên tắc sau:

1. Pháp luật Việt Nam áp dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu tầu biển.

2. Pháp luật nước ngoài nơi tầu được phép đăng ký chỉ áp dụng để giải quyết các vấn đề có liên quan đến quyền khai thác và quản lý tầu trên cơ sở hợp đồng thuê tầu trần hoặc hợp đồng thuê - mua tầu.

Xem nội dung VB
- Đăng ký tầu biển thuộc sở hữu của tổ chức Việt Nam ở nước ngoài được hướng dẫn bởi Mục G Chương 3 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 14-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 07/09/1997)

Căn cứ Bộ Luật Hàng hải Việt Nam ngày 30/6/1990
...
QUY CHẾ ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN VÀ THUYỀN VIÊN
...
Chương 3: ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN
...
MỤC G. ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN THUỘC SỞ HỮU CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

Điều 27.- Các tầu biển thuộc sở hữu của tổ chức Việt Nam có trụ sở chính tại Việt Nam và của công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam được đăng ký ở nước ngoài khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Tầu được khai thác trên cơ sở hợp đồng thuê tầu trần hoặc hợp đồng thuê - mua tầu được ký kết giữa một bên là Chủ tầu Việt Nam và một bên là tổ chức, cá nhân nước ngoài;

b) Pháp luật của nước ngoài hữu quan cho phép được đăng ký tầu với danh nghĩa là tầu thuộc quyền sở hữu của Chủ tầu Việt Nam;

c) Chủ tàu cam kết thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ do pháp luật Việt Nam quy định.

Điều 28.- Nếu trước khi đăng ký ở nước ngoài mà tầu đã được đăng ký ở Việt Nam, thì Chủ tầu phải làm đơn xin rút khỏi đăng ký tầu biển Việt Nam và phải xuất trình bản gốc hợp đồng thuê tầu trần hoặc hợp đồng thuê - mua tầu cho Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực nơi tầu đã được đăng ký kiểm tra, trước khi làm thủ tục cho phép xoá đăng ký trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia".

Điều 29.- Việc giải quyết các vấn đề liên quan đến các tầu biển nói tại Điều 27, Quy chế này phải được thực hiện theo nguyên tắc sau:

1. Các vấn đề liên quan đến quan hệ tài sản và quyền định đoạt tầu chỉ được giải quyết trên cơ sở pháp luật Việt Nam.

2. Pháp luật của nước ngoài nơi tầu được phép đăng ký chỉ áp dụng trong việc giải quyết các vấn đề về quyền khai thác và quản lý tầu trên cơ sở hợp đồng có liên quan.

Xem nội dung VB
Việc đăng ký ở nước ngoài tầu biển thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân Việt Nam được hướng dẫn bởi Mục F Chương 2 Quy chế kèm theo Nghị định 91-CP năm 1997 (VB hết hiệu lực: 12/06/2006)
Đăng ký tầu biển thuộc sở hữu của tổ chức Việt Nam ở nước ngoài được hướng dẫn bởi Mục G Chương 3 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 14-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 07/09/1997)
- Việc đăng ký tàu biển được hướng dẫn bởi Chương 2 Quy chế kèm theo Nghị định 91-CP năm 1997 (VB hết hiệu lực: 12/06/2006)

Căn cứ Bộ Luật hàng hải Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 1990;
...
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,
...
QUY CHẾ ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN VÀ THUYỀN VIÊN
...
Chương 2: ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN

MỤC A: CÁC ĐIỀU KIỆN ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN

Điều 6.- Tầu biển được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam khi có đủ các điều kiện sau đây:
...
Điều 7.- Tầu biển thuộc sở hữu của các doanh nghiệp liên doanh hoặc của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập và hoạt động theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 5 và 6 Điều 6 của Quy chế này cũng được đăng ký tại Việt Nam.
...
Điều 8.- 1. Tầu biển thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài được đăng ký tại Việt Nam nếu có đủ các điều kiện quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 5 và 6 Điều 6 của Quy chế này.
...
MỤC B: TRÌNH TỰ VÀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN

Điều 9.- 1. Chủ tầu có nghĩa vụ đăng ký tầu biển của mình tại Cơ quan đăng ký Tầu biển và Thuyền viên khu vực.
...
Điều 10.- Khi tiến hành thủ tục đăng ký, chủ tầu phải nộp và xuất trình bản chính (hoặc bản sao có xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) các giấy tờ sau đây:
...
Điều 11.- 1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại Điều 10 Quy chế này, Cơ quan Đăng ký tầu biển và Thuyền viên khu vực có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển khu vực" và cấp "Giấy chứng nhận đăng ký tầu biển" (theo mẫu thống nhất trong cả nước) cho chủ tầu. Trường hợp không đủ điều kiện đăng ký hoặc hồ sơ xin đăng ký tầu chưa hợp lệ, thì phải kịp thời thông báo cho chủ tầu biết.
...
Điều 12.- Ngay sau khi tầu biển đã được đăng ký, chủ tầu có quyền và nghĩa vụ treo cờ Quốc tịch của Việt Nam ở trên tầu; đồng thời, phải sơn kẻ tên tầu, địa danh nơi đăng ký tầu và biểu trưng tầu biển Việt Nam ở trên tầu. Biểu trưng tầu biển Việt Nam nói tại Điều này thực hiện theo hướng dẫn của Cơ quan Đăng ký tầu biển và Thuyền viên.
...
MỤC C: THAY ĐỔI TÊN TẦU, TÁI ĐĂNG KÝ VÀ CHUYỂN ĐĂNG KÝ

Điều 13.- Trường hợp cần đổi tên tầu, chủ tầu phải làm đơn nói rõ lý do. Cơ quan Đăng ký Tầu biển và Thuyền viên nơi tầu đó đăng ký xem xét để cấp lại "Giấy chứng nhận đăng ký tầu biển" cho tầu chậm nhất 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.
...
Điều 14.- 1. Trường hợp tầu tái đăng ký tại cơ quan mà trước đây tầu đó đã được đăng ký, thì Cơ quan Đăng ký Tầu biển và Thuyền viên đó căn cứ hồ sơ cũ, đơn và hồ sơ tái đăng ký của chủ tầu để cấp lại "Giấy chứng nhận đăng ký tầu biển".
...
MỤC D: THỦ TỤC XOÁ ĐĂNG KÝ

Điều 15.- 1. Tầu biển Việt Nam đương nhiên được xoá đăng ký trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" trong những trường hợp sau:
...
Điều 16.- Chủ tầu phải làm đơn nói rõ lý do xoá đăng ký tầu biển theo quy định tại Điều 15 của Quy chế. Cơ quan Đăng ký tầu biển và Thuyền viên khu vực phải thẩm tra tính xác thực của việc xin xoá đăng ký trước khi cấp "Giấy chứng nhận xoá đăng ký" trong vòng 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn; chậm nhất 3 ngày kể từ ngày cấp "Giấy chứng nhận xoá đăng ký" phải xoá tên tầu đó trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia".
...
MỤC E: THỦ TỤC ĐĂNG KÝ VIỆC CẦM CỐ, THẾ CHẤP VÀ CẦM GIỮ HÀNG HẢI TẦU BIỂN

Điều 17.- 1. Thủ tục và trình tự cầm cố, thế chấp và cầm giữ hàng hải tầu biển được thực hiện theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam và quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam.
...
Điều 18.- 1. Trong trường hợp tầu biển bị cầm cố, bị thế chấp và bị cầm giữ hàng hải thì người nhận cầm cố, người nhận thế chấp hoặc người yêu cầu cầm giữ hàng hải tầu biển phải kịp thời thông báo bằng văn bản cho Cơ quan Đăng ký Tầu biển và Thuyền viên khu vực nơi tầu biển đó đăng ký để ghi vào "Sổ đăng ký tầu biển khu vực".
...
Điều 19.- 1. Tổ chức, cá nhân muốn đăng ký cầm cố, thế chấp và cầm giữ hàng hải tầu biển phải nộp cho cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên nơi tầu biển đó đăng ký các giấy tờ sau đây:
...
MỤC F: ĐĂNG KÝ Ở NƯỚC NGOÀI TẦU BIỂN THUỘC SỞ HỮU CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN VIỆT NAM

Điều 20.- 1. Tầu biển thuộc sơ hữu của tổ chức Việt Nam có trụ sở chính ở Việt Nam và của công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có thể được phép đăng ký ở nước ngoài, nếu có đủ các điều kiện sau:
...
Điều 21.- 1. Trước khi đăng ký ở nước ngoài mà tầu đã đăng ký tại Việt Nam, thì chủ tầu phải làm đơn xin xoá đăng ký hoặc xin phép tạm ngừng đăng ký trong "Số đăng ký tầu biển quốc gia".
...
Điều 22.- Việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề liên quan đến tầu biển quy định tại Điều 20 của Quy chế này phải thực hiện theo nguyên tắc sau:

Xem nội dung VB
- Đăng ký tàu biển được hướng dẫn bởi Chương 3 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 14-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 07/09/1997)

Căn cứ Bộ Luật Hàng hải Việt Nam ngày 30/6/1990
...
QUY CHẾ ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN VÀ THUYỀN VIÊN
...
Chương 3: ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN

MỤC A. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN

Điều 10. - Để được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam, tầu biển phải có đầy đủ các điều kiện cơ bản sau đây:

Điều 11.- Tầu biển thuộc sở hữu của tổ chức liên doanh giữa Việt Nam và nước ngoài tại Việt Nam hoặc của xí nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam có đủ các điều kiện quy định tại Điều 10 Quy chế này cũng được đăng ký tại Việt Nam. Các tầu biển này chỉ được tham gia vận chuyển hàng hoá, hành khách và hành lý trên các tuyến nội địa Việt Nam theo đề nghị của Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam và được Thủ tướng Chính phủ cho phép.

Điều 12. -1. Tầu biển thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng có thể được đăng ký tại Việt Nam với những điều kiện sau đây:
...
MỤC B. THỦ TỤC ĐĂNG KÝ TẠM THỜI

Điều 13.- Trong trường hợp cần thử tầu đóng mới, nhận tầu để đưa về nơi đăng ký chính thức trên cơ sở các hợp đồng đóng tầu, hợp đồng chuyển dịch sở hữu tầu và khi đăng ký tầu biển đang được đóng tại xưởng, thì Chủ tầu có thể đến Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực nơi gần nhất hoặc Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài để làm thủ tục đăng ký tạm thời.
...
Điều 14.- Hồ sơ xin đăng ký tạm thời bao gồm:
...
MỤC C. THỦ TỤC ĐĂNG KÝ CHÍNH THỨC

Điều 15.- 1. Chủ tầu có nghĩa vụ làm thủ tục đăng ký chính thức cho tầu tại Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực có liên quan chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày nhận tầu tại Việt Nam kể từ ngày đưa tầu về đến cảng Việt Nam đầu tiên (nếu nhận ở nước ngoài).
...
Điều 16.- 1. Khi làm thủ tục xin đăng ký chính thức cho tầu, Chủ tầu cần phải nộp và xuất trình bản chính các giấy tờ sau đây:
...
Điều 17.- 1. Sau khi đã được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam, tầu được Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên Trung ương cấp "Giấy chứng nhận đăng ký tầu biển".
...
Điều 18.- 1. Sau khi tầu biển đã được đăng ký tạm thời hoặc đăng ký chính thức, Chủ tầu có quyền và nghĩa vụ treo cờ quốc tịch của Việt Nam ở trên tầu. Đồng thời, phải sơn kẻ tên tầu, địa danh nơi đăng ký tầu và biểu trưng tầu biển Việt Nam ở trên tầu theo đúng quy định của Cơ quan đăng ký tầu biển, thuyền viên có liên quan.
...
MỤC D. THỦ TỤC CHUYÊN ĐĂNG KÝ - TÁI ĐĂNG ĐĂNG KÝ - ĐỔI TÊN TẦU

Điều 19. - Trong trường hợp chuyển đăng ký tầu từ khu vực đăng ký này đến khu vực đăng ký khác tại Việt Nam thì Chủ tầu chỉ cần làm đơn xin chuyển đăng ký và phải nộp lại "Giấy chứng nhận đăng ký tầu biển" cũ.
...
Điều 20.- Trong trường hợp tầu được tái đăng ký tại khu vực đăng ký mà trước đây tầu đã được đăng ký, Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên Trung ương căn cứ vào hồ sơ cũ để tái sử dụng tên tầu.

Điều 21.- Trong trường hợp xin đổi tên tầu, Chủ tầu phải làm đơn và nói rõ lý do.
...
Điều 22.- 1. Trong trường hợp thay đổi Chủ tầu trên cơ sở các hợp đồng chuyển dịch sở hữu tầu, thủ tục đăng ký được tiến hành như khi đăng ký lần đầu. Nếu Chủ tầu mới không có yêu cầu gì khác, thì tên tầu, hô hiệu quốc tế, số đăng ký cũ vẫn có thể được sử dụng lại.
...
MỤC E. THỦ TỤC XOÁ ĐĂNG KÝ

Điều 23.- 1. Tầu biển Việt Nam chỉ được xoá đăng ký trong các trường hợp sau:
...
Điều 24. - Kể từ thời điểm chính thức được xoá tên trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia", tầu biển không còn được hưởng mọi quyền lợi của tầu biển Việt Nam.

MỤC F. THỦ TỤC ĐĂNG KÝ VIỆC CẦM CỐ, THẾ CHẤP VÀ CẦM GIỮ HÀNG HẢI TẦU BIỂN

Điều 25.- 1. Thể thức và trình tự cầm cố, thế chấp, cầm giữ hàng hải tầu biển được thực hiện theo pháp luật Việt Nam.
...
Điều 26.- 1. Trong trường hợp tầu biển bị cầm cố, bị thế chấp hoặc bị cầm giữ hàng hải, thì người nhận cầm cố, thế chấp tầu biển hoặc người yêu cầu cầm giữ hàng hải tầu biển phải thông báo bằng văn bản về việc này cho Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực ở nơi tầu đăng ký để ghi vào "Sổ đăng ký tầu biển khu vực".
...
MỤC G. ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN THUỘC SỞ HỮU CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

Điều 27.- Các tầu biển thuộc sở hữu của tổ chức Việt Nam có trụ sở chính tại Việt Nam và của công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam được đăng ký ở nước ngoài khi có đủ các điều kiện sau đây:
...
Điều 28.- Nếu trước khi đăng ký ở nước ngoài mà tầu đã được đăng ký ở Việt Nam, thì Chủ tầu phải làm đơn xin rút khỏi đăng ký tầu biển Việt Nam và phải xuất trình bản gốc hợp đồng thuê tầu trần hoặc hợp đồng thuê - mua tầu cho Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực nơi tầu đã được đăng ký kiểm tra, trước khi làm thủ tục cho phép xoá đăng ký trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia".

Điều 29.- Việc giải quyết các vấn đề liên quan đến các tầu biển nói tại Điều 27, Quy chế này phải được thực hiện theo nguyên tắc sau:

Xem nội dung VB
Việc đăng ký tàu biển được hướng dẫn bởi Chương 2 Quy chế kèm theo Nghị định 91-CP năm 1997 (VB hết hiệu lực: 12/06/2006)
Đăng ký tàu biển được hướng dẫn bởi Chương 3 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 14-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 07/09/1997)
- Thủ tục đăng ký cầm cố, thế chấp và cầm giữ hàng hải tầu biển được hướng dẫn bởi Mục E Chương 2 Quy chế kèm theo Nghị định 91-CP năm 1997 (VB hết hiệu lực: 12/06/2006)

Căn cứ Bộ Luật hàng hải Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 1990;
...
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,
...
QUY CHẾ ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN VÀ THUYỀN VIÊN
...
Chương 2: ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN
...
MỤC E: THỦ TỤC ĐĂNG KÝ VIỆC CẦM CỐ, THẾ CHẤP VÀ CẦM GIỮ HÀNG HẢI TẦU BIỂN

Điều 17.-

1. Thủ tục và trình tự cầm cố, thế chấp và cầm giữ hàng hải tầu biển được thực hiện theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam và quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam.

2. Việc cầm cố, thế chấp và cầm giữ hàng hải tầu biển phải được đăng ký tại Cơ quan Đăng ký Tầu biển và Thuyền viên khu vực nơi tầu biển đó đăng ký và phải được ghi vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia".

3. Sau khi đã đăng ký cầm cố, thế chấp hoặc cầm, giữ hàng hải tầu biển, Cơ quan Đăng ký Tầu biển và Thuyền viên khu vực nơi tầu đó đăng ký sẽ cấp giấy chứng nhận về đăng ký cầm cố, thế chấp hoặc cầm giữ hàng hải tầu biển.

Điều 18.-

1. Trong trường hợp tầu biển bị cầm cố, bị thế chấp và bị cầm giữ hàng hải thì người nhận cầm cố, người nhận thế chấp hoặc người yêu cầu cầm giữ hàng hải tầu biển phải kịp thời thông báo bằng văn bản cho Cơ quan Đăng ký Tầu biển và Thuyền viên khu vực nơi tầu biển đó đăng ký để ghi vào "Sổ đăng ký tầu biển khu vực".

2. Việc cầm cố, thế chấp và cầm giữ hàng hải tầu biển chỉ chấm dứt hiệu lực theo quy định của pháp luật hoặc sau khi người nhận cầm cố, thế chấp và cầm giữ hàng hải tầu biển đó có văn bản đề nghị huỷ bỏ.

3. Thứ tự đăng ký việc cầm cố, thế chấp và cầm giữ hàng hải tầu biển trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" là cơ sở để xác định thứ tự ưu tiên khi giải quyết các tranh chấp có liên quan.

4. Khi có yêu cầu hợp pháp Cơ quan Đăng ký tầu biển và Thuyền viên có trách nhiệm cung cấp những thông tin về tình trạng sở hữu tầu biển đã được đăng ký cho tổ chức hoặc cá nhân yêu cầu.

Điều 19.-

1. Tổ chức, cá nhân muốn đăng ký cầm cố, thế chấp và cầm giữ hàng hải tầu biển phải nộp cho cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên nơi tầu biển đó đăng ký các giấy tờ sau đây:

- Đơn xin đăng ký cầm cố, thể chấp hoặc cầm giữ hàng hải tầu biển;

- Hợp đồng cầm cố, thể chấp tầu biển hoặc văn bản cầm giữ hàng hải tầu biển (nếu là bản sao phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền).

2. Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ các giấy tờ quy định ở Khoản 1 Điều này, Cơ quan Đăng ký Tầu biển và Thuyền viên khu vực nơi tầu đó đăng ký cấp giấy chứng nhận đăng ký cầm cố, thế chấp hoặc cầm giữ hàng hải tầu biển. Trường hợp không cấp giấy chứng nhận do không đủ điều kiện hoặc chưa cấp được vì lý do chính đáng, thì phải kịp thời thông báo cho tổ chức hoặc cá nhân đó biết.

3- Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyên viên được thu lệ phí đăng ký cầm cố, thế chấp và cầm giữ hàng hải theo quy định của Bộ Tài chính.

Xem nội dung VB
- Thủ tục đăng ký cầm cố, thế chấp, cầm giữ hàng hải tầu biển được hướng dẫn bởi Mục F Chương 3 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 14-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 07/09/1997)

Căn cứ Bộ Luật Hàng hải Việt Nam ngày 30/6/1990
...
QUY CHẾ ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN VÀ THUYỀN VIÊN
...
Chương 3: ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN
...
MỤC F. THỦ TỤC ĐĂNG KÝ VIỆC CẦM CỐ, THẾ CHẤP VÀ CẦM GIỮ HÀNG HẢI TẦU BIỂN

Điều 25.-

1. Thể thức và trình tự cầm cố, thế chấp, cầm giữ hàng hải tầu biển được thực hiện theo pháp luật Việt Nam.

2. Thủ tục đăng ký cầm cố, thế chấp, cầm giữ hàng hải tầu biển, vào "Sổ đăng ký tầu biển khu vực" do Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên ở khu vực nơi tầu đăng ký thực hiện.

Ngay sau khi đã được đăng ký các việc nói trên vào "Sổ đăng ký tầu biển khu vực", Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực phải thông báo cho Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên Trung ương biết để ghi vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia".

Điều 26.-

1. Trong trường hợp tầu biển bị cầm cố, bị thế chấp hoặc bị cầm giữ hàng hải, thì người nhận cầm cố, thế chấp tầu biển hoặc người yêu cầu cầm giữ hàng hải tầu biển phải thông báo bằng văn bản về việc này cho Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực ở nơi tầu đăng ký để ghi vào "Sổ đăng ký tầu biển khu vực".

2. Việc cầm cố, thế chấp, cầm giữ hàng hải tầu biển chỉ chấm dứt hiệu lực sau khi những người nói tại Khoản 1, Điều này đề nghị huỷ bỏ các việc đó bằng văn bản.

3. Thứ tự đăng ký việc cầm cố, thế chấp hoặc cầm giữ hàng hải tầu biển trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" là cơ sở để xác định thứ tự ưu tiên khi giải quyết các tranh chấp liên quan.

4. Đồng thời với việc đăng ký hoặc huỷ bỏ việc cầm cố, thế chấp hoặc cầm giữ hàng hải tầu biển trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia", Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực phải bổ sung các nội dung có liên quan vào Giấy chứng nhận đăng ký tầu biển ở cột mục dành riêng.

5. Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên có trách nhiệm cung cấp cho những người có yêu cầu các thông tin liên quan đến tình trạng sở hữu tầu biển mà mình đã đăng ký.

Xem nội dung VB
Thủ tục đăng ký cầm cố, thế chấp và cầm giữ hàng hải tầu biển được hướng dẫn bởi Mục E Chương 2 Quy chế kèm theo Nghị định 91-CP năm 1997 (VB hết hiệu lực: 12/06/2006)
Thủ tục đăng ký cầm cố, thế chấp, cầm giữ hàng hải tầu biển được hướng dẫn bởi Mục F Chương 3 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 14-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 07/09/1997)
- Việc đăng ký thuyền viên được hướng dẫn bởi Chương 3 Quy chế kèm theo Nghị định 91-CP năm 1997 (VB hết hiệu lực: 12/06/2006)

Căn cứ Bộ Luật hàng hải Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 1990;
...
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,
...
QUY CHẾ ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN VÀ THUYỀN VIÊN
...
Chương 3: ĐĂNG KÝ THUYỀN VIÊN

Điều 23.- Tầu biển Việt Nam chỉ được phép tiến hành các hoạt động hàng hải theo mục đích đã đăng ký khi định biên thuyền bộ của tầu được bố trí phù hợp với qui định tại Quy chế này và các qui định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam.
...
Điều 24.- 1. Chỉ được phép bố trí những công dân Việt Nam có đủ điều kiện sức khoẻ và có chứng chỉ chuyên môn hàng hải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam để làm việc trên các tầu biển.
...
Điều 25.- 1. Chủ tầu chịu trách nhiệm bố trí định biên thuyền bộ cho tầu theo quy định của pháp luật và định biên thuyền bộ này phải được đăng ký tại cơ quan Đăng ký Tầu biển và Thuyền viên nơi tầu đó đăng ký.
...
Điều 26.- 1. Cơ quan Đăng ký Tầu biển và Thuyền viên có trách nhiệm cấp Hộ chiếu thuyền viên cho thuyền viên là công dân Việt Nam làm việc trên tầu biển Việt Nam hoạt động tuyến nước ngoài.
...
Điều 27.- 1. Thời hạn giá trị của Hộ chiếu thuyền viên được ghi trong Hộ chiếu thuyền viên. Việc gia hạn hộ chiếu thuyền viên, chuyển tên tầu và thay đổi chức danh trong Hộ chiếu thuyền viên do Cơ quan Đăng ký Tầu biển và Thuyền viên nơi tầu đó đăng ký thực hiện trên cơ sở quyết định điều động (hoặc thay đổi chức danh) thuyền viên của chủ tầu.
...
Điều 28.- Bộ Thuỷ sản quy định thủ tục đăng ký thuyền viên làm việc trên tầu biển chuyên dùng của ngành thuỷ sản.

Xem nội dung VB
- Đăng ký thuyền viên được hướng dẫn bởi Chương 4 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 14-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 07/09/1997)

Căn cứ Bộ Luật Hàng hải Việt Nam ngày 30/6/1990
...
QUY CHẾ ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN VÀ THUYỀN VIÊN
...
Chương 4: ĐĂNG KÝ THUYỀN VIÊN

Điều 30.- Tầu biển Việt Nam chỉ được tiến hành các hoạt động hàng hải sau khi thuyền trưởng, các sĩ quan trưởng ca và các thuyền viên khác thuộc thuyền bộ của tầu đã được đăng ký vào Sổ danh bạ thuyền viên.

Điều 31.-

1. Công dân Việt Nam có đủ điều kiện sức khoẻ và trình độ chuyên môn tương ứng với chức danh nghề nghiệp ở trên tầu theo các quy định hiện hành tại Việt Nam đều có thể được làm việc trên các tầu biển Việt Nam.

2. Người nước ngoài chỉ được làm việc trên tầu biển thuộc sở hữu của tổ chức liên doanh giữa Việt Nam và nước ngoài tại Việt Nam, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài đầu tư tại Việt Nam. Nhưng, tổng số thuyền viên là người nước ngoài làm việc trên tầu đó không được vượt quá 1/3 định biên của tầu; thuyền trưởng hoặc thuyền phó I phải là công dân Việt Nam.

3. Thuyền viên là người nước ngoài chỉ được làm việc trên các tầu biển Việt Nam, nếu có đủ điều kiện sức khoẻ và trình độ chuyên môn tương ứng với chức danh nghề nghiệp ở trên tầu theo các quy định hiện hành của Việt Nam. Các loại chứng chỉ về chuyên môn hàng hải do các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp chỉ được công nhận nếu có ghi rõ là được cấp theo quy định của các điều ước quốc tế có liên quan, mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận.

Điều 32.-

1. Tất cả các thuyền viên Việt Nam làm việc trên tầu biển Việt Nam đều phải được cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực ở nơi họ đăng ký thường trú cấp "Sổ thuyền viên", nếu đã được cấp chứng chỉ về chuyên môn hàng hải do pháp luật quy định và được xác nhận là có đủ điều kiện sức khoẻ để làm việc trên tầu biển.

2. "Sổ thuyền viên" dùng để theo dõi quá trình hành nghề đi biển của thuyền viên.

3. Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực chỉ được làm thủ tục cho thuyền viên lên làm việc trên tầu biển Việt Nam sau khi đương sự xuất trình "Sổ thuyền viên", "Lệnh điều động" do Chủ tầu ký và chứng chỉ về chuyên môn hàng hải tương ứng với chức danh nghề nghiệp đã được phân công.

4. Thủ trưởng các Cơ quan nói tại Khoản 1, Điều 5 Quy chế này quy định cụ thể về mẫu và cách thức sử dụng "Số thuyền viên".

Điều 33.-

1. Trong trường hợp tầu hoạt động trên tuyến quốc tế, Chủ tầu phải làm thủ tục xin cấp hộ chiếu thuyền viên tại Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên Trung ương thuộc Cục Hàng hải Việt Nam.

2. Người được cấp hộ chiếu thuyền viên chỉ được phép sử dụng hộ chiếu này đúng mục đích đã quy định và có nghĩa vụ bảo quản chu đáo.

3. Chỉ có các Chủ tầu và tổ chức cho thuê thuyền viên đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mới được làm thủ tục xin cấp hộ chiếu thuyền viên cho những thuyền viên thuộc quyền quản lý của họ.

Điều 34.-

1. Hồ sơ xin cấp mới hoặc cấp lại hộ chiếu thuyền viên cần phải có:

a) Đơn xin cấp hộ chiếu thuyền viên của từng cá nhân (theo mẫu);

b) Một bản sơ yếu lý lịch có xác nhận của Chủ tầu và 3 ảnh cỡ 4 x 6;

c) Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền cho phép đi nước ngoài;

d) Lệnh điều động của Chủ tầu.

2. Hộ chiếu thuyền viên có giá trị sử dụng trong suốt thời hạn có giá trị của hộ chiếu.

Xem nội dung VB
Việc đăng ký thuyền viên được hướng dẫn bởi Chương 3 Quy chế kèm theo Nghị định 91-CP năm 1997 (VB hết hiệu lực: 12/06/2006)
Đăng ký thuyền viên được hướng dẫn bởi Chương 4 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 14-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 07/09/1997)
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục D Chương 2 Quy chế kèm theo Nghị định 91-CP năm 1997 (VB hết hiệu lực: 12/06/2006)

Căn cứ Bộ Luật hàng hải Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 1990;
...
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,
...
QUY CHẾ ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN VÀ THUYỀN VIÊN
...
Chương 2: ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN
...
MỤC D: THỦ TỤC XOÁ ĐĂNG KÝ

Điều 15.-

1. Tầu biển Việt Nam đương nhiên được xoá đăng ký trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" trong những trường hợp sau:

a. Tầu bị phá huỷ hoặc bị chìm đắm mà cơ quan điều tra tai nạn hàng hải có thẩm quyền xác nhận đã thực sự bị mất khả năng đi biển;

b. Tầu bị coi là mất tích khi tầu bị mất hoàn toàn liên lạc với chủ tầu trong một thời gian dài gấp hai lần thời gian cần thiết để tầu có thể đi từ nơi chủ tầu nhận được tin tức cuối cùng của tầu đến cảng đích trong những điều kiện bình thường. Tuy nhiên, khoảng thời gian này không được ít hơn 30 ngày và cũng không được kéo dài quá 90 ngày, kể từ ngày nhận được tin tức cuối cùng của tầu. Trong trường hợp do ảnh hưởng bởi chiến sự, thì thời hạn này có thể được kéo dài nhưng không quá 180 ngày;

c. Tầu hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa không có hiệu quả kinh tế khi các chi phí sửa chữa, phục hồi vượt quá giá trị thực tế của tầu trước khi bắt đầu chuyến đi hay khi việc sửa chữa tầu không thể thực hiện được tại chỗ và cũng không có khả năng đưa tầu đến nơi khác để sửa chữa;

d. Tầu không còn đủ cơ sở, điều kiện để mang Quốc tịch Việt Nam theo quy định của Quy chế này;

e. Tầu không còn tính năng tầu biển khi đã bị mất các đặc tính kỹ thuật cơ bản theo quy phạm về thiết kế - đóng tầu biển hiện hành.

2. Tầu biển Việt Nam có thể được xoá đăng ký trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" theo đề nghị của chủ tầu khi thực hiện việc chuyển quyền sở hữu hoặc chuyển đi đăng ký ở nước ngoài.

Điều 16.-

Chủ tầu phải làm đơn nói rõ lý do xoá đăng ký tầu biển theo quy định tại Điều 15 của Quy chế. Cơ quan Đăng ký tầu biển và Thuyền viên khu vực phải thẩm tra tính xác thực của việc xin xoá đăng ký trước khi cấp "Giấy chứng nhận xoá đăng ký" trong vòng 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn; chậm nhất 3 ngày kể từ ngày cấp "Giấy chứng nhận xoá đăng ký" phải xoá tên tầu đó trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia".

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục E Chương 2 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 14-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 07/09/1997)

Căn cứ Bộ Luật Hàng hải Việt Nam ngày 30/6/1990
...
QUY CHẾ ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN VÀ THUYỀN VIÊN
...
Chương 3: ĐĂNG KÝ TẦU BIỂN
...
MỤC E. THỦ TỤC XOÁ ĐĂNG KÝ

Điều 23.-

1. Tầu biển Việt Nam chỉ được xoá đăng ký trong các trường hợp sau:

a) Tầu bị phá huỷ hoặc bị chìm đắm, mà sau đây được hiểu là những tầu thực sự bị mất khả năng đi biển do tai nạn và phải được cơ quan có thẩm quyền điều tra, kết luận các tai nạn hàng hải ở khu vực có liên quan xác nhận;

b) Tầu bị coi là mất tích, mà sau đây được hiểu là tầu bị mất hoàn toàn liên lạc với Chủ tầu trong một thời gian dài gấp hai lần thời gian cần thiết để tầu có thể đi từ nơi Chủ tầu nhận được tin tức cuối cùng của tầu đến cảng đích trong những điều kiện bình thường. Tuy nhiên, khoảng thời gian này không được ít hơn 30 ngày và cũng không được kéo dài quá 90 ngày, kể từ ngày nhận được tin tức cuối cùng của tầu.

Nếu việc nhận tin của tầu thực sự bị ảnh hưởng bởi chiến sự, thì thời hạn nói trên được kéo dài tối đa đến 180 ngày;

c) Tầu bị hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa không có hiệu quả kinh tế, mà sau đây được hiểu là những tầu bị hư hỏng đến mức các chi phí sửa chữa, phục hồi sẽ vượt quá giá trị thực tế của tầu trước khi bắt đầu chuyến đi hay khi việc sửa chữa tầu không thể thực hiện tại chỗ và cũng không có khả năng đưa tầu đến nơi khác để sửa chữa;

d) Tầu không còn đủ cơ sở để được mang quốc tịch Việt Nam, mà sau đây được hiểu là tầu không còn đủ điều kiện để được đăng ký tại Việt Nam;

e) Tầu không còn tính năng tầu biển, mà sau đây được hiểu là tầu đã bị mất các đặc tính kỹ thuật cơ bản theo quy phạm thiết kế - đóng tầu biểu hiện hành.

2. Chủ tầu phải làm đơn xin xoá đăng ký và khai rõ lý do. Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực có liên quan phải thẩm tra lại tính xác thực của lý do xin xoá đăng ký trước khi cấp "Giấy chứng nhận xoá đăng ký", nhưng không được kéo dài quá 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn và phải thông báo ngay cho Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên Trung ương biết để xoá tên trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia".

Điều 24. - Kể từ thời điểm chính thức được xoá tên trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia", tầu biển không còn được hưởng mọi quyền lợi của tầu biển Việt Nam.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục D Chương 2 Quy chế kèm theo Nghị định 91-CP năm 1997 (VB hết hiệu lực: 12/06/2006)
Điều này được hướng dẫn bởi Mục E Chương 2 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 14-CP năm 1994 (VB hết hiệu lực: 07/09/1997)
- Chức danh, trách nhiệm theo chức danh và chế độ kỷ luật đối với thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam được hướng dẫn bởi Quyết định 174/QĐ-PCVT năm 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)

Căn cứ Điều 41, Bộ Luật hàng hải Việt Nam ngày 30/6/1990
...
Điều 1: Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản "Điều lệ chức trách thuyền viên trên tàu biển Việt Nam".

Điều 2: Quyết định này có hiệu lực từ ngày 01/3/1994 và thay thế quyết định số 1080/QĐ-PC ngày 08 tháng 05 năm 1984 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

Điều 3: Các ông thủ trưởng: Văn phòng Bộ, Vụ Pháp chế và vận tải, Vụ Tổ chức cán bộ và Lao động, Cục Hàng hải Việt Nam, các tổ chức và đơn vị có liên quan đến hoạt động tàu biển Việt Nam và các chủ tàu Việt Nam chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
...
ĐIỀU LỆ CHỨC TRÁCH THUYỀN VIÊN TRÊN TÀU BIỂN VIỆT NAM

Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Bản điều lệ này quy định các chức danh, trách nhiệm theo chức danh và chế độ kỷ luật đối với thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam.

Điều 2.
...
Điều 3.
...
Chương 2: QUỐC KỲ, CỜ LỄ VÀ NGHI LỄ TRÊN TÀU

Điều 4.
...
Điều 5.
...
Điều 6. Khi có các vị khách nói ở Khoản 6, Điều 4 của Điều lệ này đến thăm tàu:
...
Chương 3: THUYỀN VIÊN TRÊN TÀU BIỂN VIỆT NAM

Mục A: QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THUYỀN VIÊN

Điều 7.
...
Điều 8.
...
Điều 9.
...
Điều 10.
...
Điều 11.
...
Mục B: THUYỀN TRƯỞNG

Điều 12.
...
Điều 13. Khi giao hoặc nhận tàu, thuyền trưởng có trách nhiệm:
...
Điều 14. Khi đưa tàu vào khai thác hoặc ngừng khai thác thuyền trưởng có trách nhiệm:
...
Điều 15. Khi tàu hành trình thuyền trưởng có trách nhệm:
...
Điều 16. Khi tàu ra vào hoặc đậu ở cảng và tại các khu vực neo, thuyền trưởng có trách nhiệm:
...
Điều 17.
...
Mục C: SỸ QUAN TÀU BIỂN VIỆT NAM

I- THUYỀN PHÓ NHẤT

Điều 18.
...
Điều 19. Thuyền phó nhất có trách nhiệm:
...
Điều 20. Đối với việc vận chuyển hàng hoá trên tàu, thuyền phó nhất có trách nhiệm:
...
II- THUYỀN PHÓ HAI

Điều 21.
...
Điều 22. Thuyền phó hai có trách nhiệm:
...
III- THUYỀN PHÓ BA

Điều 23.
...
Điều 24. Thuyền phó ba có trách nhiệm:
...
IV- THUYỀN PHÓ HÀNH KHÁCH

Điều 25. Thuyền phó hành khách chịu sự lãnh đạo trực tiếp của thuyền trưởng và có nhiệm vụ tổ chức, quản lý bộ phận phục vụ hành khách và đảm nhiệm các công việc liên quan đến vận chuyển hành khách, hành lý trên tàu.

Điều 26. Thuyền phó hành khách có trách nhiệm:
...
V- MÁY TRƯỞNG

Điều 27. Máy trưởng chịu sự lãnh đạo của thuyền trưởng và chịu trách nhiệm trước thuyền trưởng về mặt kỹ thuật của toàn bộ hệ thống động lực và thiết bị động lực của tàu, trực tiếp lãnh đạo bộ phận máy và điện trên tàu.
...
Điều 28. Máy trưởng có trách nhiệm:
...
VI- MÁY NHẤT

Điều 29.
...
Điều 30. Máy nhất có trách nhiệm:
...
VII- MÁY HAI

Điều 31. Máy hai chịu sự lãnh đạo trực tiếp của máy trưởng và khi cần thiết, máy hai thay thế máy nhất.
...
Điều 32. Máy hai có trách nhiệm:
...
VIII- MÁY BA

Điều 33. Máy ba chịu sự lãnh đạo trực tiếp của máy trưởng và khi cần thiết máy ba thay thế máy hai.
...
Điều 34. Máy ba có trách nhiệm:
...
IX- SĨ QUAN MÁY LẠNH

Điều 35. Sỹ quan máy lạnh chịu sự lãnh đạo trực tiếp của máy trưởng và có nhiệm vụ bảo đảm tình trạng kỹ thuật, chế độ làm việc bình thường của các máy móc, thiết bị làm lạnh trên tàu.
...
Điều 36. Sĩ quan máy lạnh có trách nhiệm:
...
X- SĨ QUAN ĐIỆN

Điều 37.
...
Điều 38. Sĩ quan điện có trách nhiệm:
...
XI. SĨ QUAN VÔ TUYẾN ĐIỆN

Điều 39. Sĩ quan vô tuyến điện chịu sự lãnh đạo trực tiếp của thuyền trưởng và bảo đảm tình trạng kỹ thuật, chế độ làm việc bình thường của hệ thống máy móc thiết bị vô tuyến điện trên tàu.
...
Điều 40. Sĩ quan vô tuyến điện có trách nhiệm:
...
XII. SỸ QUAN THỰC TẬP

Điều 41.
...
XIII. BÁC SĨ (Y SĨ)

Điều 42.
...
Điều 43. Bác sĩ (y sĩ) có trách nhiệm:
...
XIV- QUẢN TRỊ

Điều 44. Quản trị chịu sự lãnh đạo trực tiếp của thuyền phó nhất, phụ trách công việc về quản trị tàu. Nếu trên tàu không bố trí chức danh quản trị thì nhiệm vụ quản trị tàu do thuyền phó ba đảm nhiệm.
...
Điều 45. Quản trị có trách nhiệm:
...
Mục D: THUYỀN VIÊN KHÁC

Điều 46. Thuỷ thủ trưởng chịu sự lãnh đạo trực tiếp của thuyền phó nhất, phụ trách và điều hành công việc của thuỷ thủ boong.
...
II- THUỶ THỦ PHÓ

Điều 47. Thuỷ thủ phó chịu sự lãnh đạo trực tiếp của thuỷ thủ trưởng và khi cần thiết thay thế thuỷ thủ trưởng.
...
III- THUỶ THỦ

Điều 48
...
Điều 49. Thuỷ thủ có trách nhiệm:
...
IV- ĐIỆN BÁO VIÊN

Điều 50.
...
V- THỢ MÁY CHÍNH

Điều 51. Thợ máy chính chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của máy nhất. Trường hợp cần thiết phải trực ca thì do máy trưởng quyết định.
...
VI- THỢ MÁY

Điều 52. Thợ máy chịu sự quản lý, điều hành trực tiếp của máy nhất và sự phân công trực tiếp của sĩ quan máy trực ca.
...
VII- THỢ BƠM

Điều 53. Thợ bơm chịu sự quản lý trực tiếp của máy nhất.
...
VIII- THỢ MÁY LẠNH

Điều 54. Thợ máy lạnh chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của sĩ quan máy lạnh.
...
IX- TRƯỞNG LÒ

Điều 55. rưởng lò chịu sự lãnh đạo trực tiếp của máy nhất, riêng về phần kỹ thuật lò và nồi hơi chịu sự hướng dẫn của máy hai.
...
Điều 56. hợ lò chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của máy nhất, riêng về kỹ thuật của lò và nồi hơi thì chịu sự hướng dẫn của máy hai và trưởng lò.
...
XI- THỢ ĐIỆN

Điều 57. Thợ điện chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của sĩ quan điện. Trưởng hợp cần thiết thợ điện thay thế sĩ quan điện đảm nhiệm những công việc về vận hành thiết bị điện trên tàu.
...
XII. PHỤC VỤ VIÊN

Điều 58.
...
XIII. TỔ TRƯỞNG PHỤC VỤ HÀNH KHÁCH.

Điều 59. Tổ trưởng phục vụ hành khách chịu sự lãnh đạo trực tiếp của thuyền phó hành khách và trực tiếp phụ trách nhân viên phục vụ buồng khách.
...
XIV. NHÂN VIÊN PHỤC VỤ HÀNH KHÁCH

Điều 60. Nhân viên phục vụ hành khách chịu sự qủan lý và điều hành trực tiếp của tổ trưởng phục vụ hành khách.
...
XV. TỔ TRƯỞNG PHỤC VỤ BÀN.

Điều 61. Tổ trưởng phục vụ bàn chịu qủan lý, điều hành trực tiếp của thuyền phó hành khách và phụ trách nhân viên phục vụ phòng ăn, phòng giải khát, qủan lý dụng cụ phòng ăn, phòng giải khát.
...
XVI. NHÂN VIÊN PHỤC VỤ BÀN

Điều 62. Nhân viên phục vụ bàn chịu sự qủan lý, điều hành trực tiếp của tổ trưởng phục vụ bàn và có trách nhiệm:
...
XVII. BẾP TRƯỞNG

Điều 63. Bếp trưởng chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của quản trị. Trên tàu không bố trí chức danh qủan trị thì bếp trưởng chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của thuyền phó ba.
...
XVIII. CẤP DƯỠNG

Điều 64.
...
XIX. QUẢN LÝ KHO HÀNH KHÁCH

Điều 65. Quản lý kho hành khách chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của thuyền phó hành khách.
...
XX. THỢ GIẶT LÀ

Điều 66. Thợ giặt là chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của tổ trưởng phục vụ hành khách.
...
XXI. KẾ TOÁN

Điều 67. Kế toán chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của thuyền phó hành khách.
...
XXII. THỦ QUỸ

Điều 68. Thủ quỹ chịu sự qủan lý và điều hành trực tiếp của thuyền phó hành khách.
...
XXIII. NHÂN VIÊN BÁN HÀNG

Điều 69. Nhân viên bán hàng chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của thuyền phó hành khách.
...
XXIV. NHÂN VIÊN BÁN VÉ

Điều 70. Nhân viên bán vé do thuyền phó hành khách chỉ định trong số các nhân viên phục vụ hành khách trên tàu khi được thuyền trưởng chấp thuận.
...
XXV. TRẬT TỰ VIÊN

Điều 71. Trật tự viên chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của thuyền phó hành khách.
...
Chương 4: TRỰC CA TRÊN TÀU BIỂN VIỆT NAM

Điều 72. Trực ca trên tàu biển Việt Nam là nghĩa vụ bắt buộc. Thuyền viên trực ca phải thực hiện nghiêm chỉnh chức trách của mình và luôn phải có mặt ở vị trí quy định.
...
Điều 73
...
Điều 74.
...
Điều 75. Thuyền viên trực ca có trách nhiệm:
...
Điều 76
...
I. THUYỀN PHÓ TRỰC CA

Điều 77.
...
Điều 78. Thuyền phó trực ca có trách nhiệm:
...
Điều 79. Khi nhận ca biển, thuyền phó trực ca có trách nhiệm:
...
Điều 80. Trong thời gian trực ca biển, thuyền phó trực ca có trách nhiệm:
...
Điều 81. Khi trực ca bờ, thuyền phó trực ca có trách nhiệm:
...
II. SỸ QUAN MÁY TRỰC CA

Điều 82.
...
Điều 83.
...
Điều 84. Sĩ quan máy trực ca có trách nhiệm:
...
Điều 85.
...
Điều 86.
...
III. THUỶ THỦ TRỰC CA

Điều 87. Thuỷ thủ trực ca chịu sự chỉ huy trực tiếp của thuyền phó trực ca. Việc nhận và giao ca của thuỷ thủ thuyền phó trực ca quyết định.
...
IV. THỢ MÁY TRỰC CA

Điều 88. Thợ máy trực ca chịu sự chỉ huy trực tiếp của sĩ quan máy trực ca. Việc nhận và giao ca do sĩ quan máy trực ca quyết định.
...
V. THỢ LÒ TRỰC CA

Điều 89. Thợ lò trực ca chịu sự chỉ huy trực tiếp của sĩ quan máy trực ca.
...
VI. THỢ ĐIỆN TRỰC CA

Điều 90. Thợ điện trực ca chịu sự chỉ huy trực tiếp của sĩ quan máy trực ca hoặc sĩ quan điện nếu trên tàu có bố trí chức danh sĩ quan điện. Trường hợp trên tàu không bố trí chức danh thợ điện thì việc trực ca điện do sĩ quan điện đảm nhiệm.
...
VII. ĐIỆN BÁO VIÊN TRỰC CA.

Điều 91.
...
Điều 92. Điện báo viên trực ca có trách nhiệm:
...
Chương 5: TỔ CHỨC BẢO ĐẢM AN TOÀN VÀ CHẾ ĐỘ SINH HOẠT TRÊN TÀU BIỂN VIỆT NAM

Điều 93. Trên tàu phải lập bảng phân công báo động về cứu hoả, cứu người rơi xuống biển, cứu thủng tàu và "bỏ tàu" (xuống xuồng cứu sinh).
...
Điều 94.
...
Điều 95. Tín hiệu báo động phải được thông báo bằng chuông điện và hệ thống truyền thanh trên tàu theo quy định như sau:
...
Điều 96.
...
Điều 97.
...
Điều 98.
...
Điều 99.
...
Điều 100.
...
Chương 6: CHẾ ĐỘ KÝ LUẬT ĐỐI VỚI THUYỀN VIÊN LÀM VIỆC TRÊN TÀU BIỂN VIỆT NAM

Điều 101.
...
Điều 102. Hình thức xử lý kỷ luật đối với những thuyền viên vi phạm khoản 2, điều 101 của Điều lệ này được quy định như sau:
...
Điều 103.

Xem nội dung VB
Chức danh, trách nhiệm theo chức danh và chế độ kỷ luật đối với thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam được hướng dẫn bởi Quyết định 174/QĐ-PCVT năm 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Quyết định 202-TTg năm 1992 (VB hết hiệu lực: 06/01/2004)

Căn cứ Bộ Luật Hàng hải Việt Nam ngày 12 tháng 7 năm 1990
...
Điều 1. Nay ban hành "Quy chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ quản lý Nhà nước tại các cảng biển Việt Nam" kèm theo Quyết định này.

Điều 2. Bản Quy chế này có hiệu lực từ ngày ban hành.

Các quy định trước đây trái với quy định của bản Quy chế này bị bãi bỏ.

Điều 3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
...
QUY CHẾ PHỐI HỢP HOẠT ĐỘNG GIUÃ CÁC CƠ QUAN TỔ CHỨC LÀM NHIỆM VỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TẠI CÁC CẢNG BIỂN VIỆT NAM

Điều 1.Bản Quy chế này quy định những nguyên tắc phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ quản lý Nhà nước tại cảng biển Việt Nam.

Điều 2. Các cơ quan, tổ chức nói tại Điều 1, Quy chế này là các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước chuyên ngành đối với tàu biển, hàng hoá vận chuyển trên tàu, thuyền viên, hành khách và những người khác làm việc trên tàu biển hoặc tại các cảng biển trong các lĩnh vực sau đây:
...
Điều 3.
...
Điều 4.
...
Điều 5. Giám đốc cảng vụ chịu trách nhiệm lập kế hoạch cho tàu vào, rời cảng, điều động tàu trong vùng nước và phải thông báo một cách kịp thời, chính xác kế hoạch đó cho thuyền trưởng hoặc đại lý của chủ tàu biết.
...
Điều 6.
...
Điều 7.
...
Điều 8.
...
Điều 9.
...
Điều 10. Nếu trong thời gian tàu lưu tại cảng mà tầu, người ở trên tàu bị các cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ quản lý Nhà nước tại cảng xử lý hành chính, thì cơ quan, tổ chức liên quan phải thông báo bằng văn bản cho Giám đốc cảng vụ biết để phối hợp thực hiện.

Điều 11. Chỉ có Giám đốc cảng vụ mới có quyền thi hành các yêu cầu lưu giữ, cầm giữ hoặc bắt giữ hàng hải hoặc lệnh bắt giữ tàu biển tại cảng biển theo quy định của pháp luật.
...
Điều 12.

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Quyết định 202-TTg năm 1992 (VB hết hiệu lực: 06/01/2004)
- Tổ chức và hoạt động đăng kiểm tầu biển được hướng dẫn bởi Quyết định 203-TTg năm 1992 (VB hết hiệu lực: 24/06/2006)

Căn cứ Bộ Luật Hàng hải Việt Nam ngày 12 tháng 7 năm 1990
...
Điều 1. Nay ban hành "Quy chế tổ chức và hoạt động đăng kiểm tầu biển tại Việt Nam" kèm theo bản Quyết định này.

Điều 2. Bản Quy chế này có hiệu lực từ ngày ban hành.

Các quy định trước đây trái với Quy định của bản Quy chế này bị bãi bỏ.

Điều 3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
...
QUY CHẾ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG ĐĂNG KIỂM TÀU BIỂN TẠI VIỆT NAM

Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Bản Quy chế này quy định về tổ chức và thực hiện hoạt động giám sát kỹ thuật, phân cấp, đo dung tích và cấp các giấy chứng nhận có liên quan cho tàu biển tại Việt Nam, mà sau đây được gọi chung là hoạt động đăng kiểm tàu biển.

Điều 2.
...
Điều 3. Cục trưởng Cục Đăng kiểm Việt Nam chịu trách nhiệm tổ chức bộ máy, quản lý và chỉ đạo hoạt động đăng kiểm tàu biển tại Việt Nam trên cơ sở Quy định của Bộ Luật Hàng hải Việt Nam và Quy chế này.

Điều 4.
...
Điều 5
...
Chương 2: NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CUẢ CƠ QUAN ĐĂNG KIỂM TÀU BIỂN VIỆT NAM NHIỆM

Điều 6. Cơ quan đăng kiểm tàu biển Việt Nam có những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
...
Điều 7. Cơ quan đăng kiểm tàu biển Việt Nam có những quyền hạn sau đây:
...
Chương 3: HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐĂNG KIỂM TÀU BIỂN VIỆT NAM

Điều 8. Hệ thống đăng kiểm tàu biển Việt Nam được tổ chức như sau:
...
Điều 9. Cục trưởng Cục Đăng kiểm Việt Nam là người đứng đầu hệ thống đăng kiểm tàu biển tại Việt Nam, trực tiếp chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải về việc tổ chức và điều hành các hoạt động đăng kiểm tàu biển tại Việt Nam.

Điều 10.
...
Điều 11. 1- Cơ quan Đăng kiểm tàu biển Việt Nam có quyền sử dụng con dấu nghiệp vụ, trang phục và các ấn chỉ riêng.
...
Chương 4: ĐĂNG KIỂM VIÊN TAÙ BIỂN VIỆT NAM

Điều 12. Đăng kiểm viên tàu biển Việt Nam phải là công dân Việt Nam có phẩm chất tốt; có uy tín chuyên môn; đã tốt nghiệp đại học tại các chuyên ngành kỹ thuật liên quan đến hoạt động đăng kiểm tàu biển; đã được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ đăng kiểm và có trình độ ngoại ngữ phù hợp với nhiệm vụ được giao; đã có ít nhất là 5 năm làm nhiệm vụ Giám sát kỹ thuật tàu biển.

Điều 13.
...
Điều 14.
...
Điều 15.
...
Chương 5: XỬ LÝ KHIẾU NẠI

Điều 16 .
...
Điều 17.
...
Điều 18. Trong thời gian chờ giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có trách nhiệm tạm thời thực hiện mọi yêu cầu hoặc khuyến nghị của các đăng kiểm viên tàu biển nhằm bảo đảm an toàn cho các đối tượng đăng kiểm và những người có liên quan.

Điều 19. Các khiếu nại, tố cáo khác được giải quyết theo Pháp lệnh về khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 2 tháng 5 năm 1991.

Xem nội dung VB
- Tổ chức và hoạt động của Thanh tra an toàn hàng hải được hướng dẫn bởi Quyết định 204-TTg năm 1992 (VB hết hiệu lực: 12/07/2004)

Căn cứ Bộ Luật Hàng hải Việt Nam ngày 12 tháng 7 năm 1990
...
Điều 1. Nay ban hành "Quy chế tổ chức và hoạt động thanh tra an toàn hàng hải Việt Nam" kèm theo Quyết định này.

Điều 2. Bản Quy định này có hiệu lực từ ngày ban hành.

Các quy định trước đây trái với quy định của bản Quy chế này bị bãi bỏ.

Điều 3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan khác thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
...
QUY CHẾ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CUẢ THANH TRA AN TOÀN HÀNG HẢI VIỆT NAM

Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Bản Quy chế này quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy và hoạt động của Thanh tra an toàn hàng hải Việt Nam.

Điều 2. Thanh tra an toàn hàng hải Việt Nam là tổ chức thanh tra chuyên trách trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam, thực hiện chức năng Thanh tra an toàn hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường do tàu biển gây ra tại các vùng nước của Việt Nam mà tàu biển được phép hoạt động.

Điều 3.
...
Điều 4. Hệ thống tổ chức của Thanh tra an toàn hàng hải Việt Nam bao gồm:
...
Điều 5. Trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, tất cả các thanh tra viên an toàn hàng hải Việt Nam đều có nghĩa vụ thực hiện công vụ một cách khách quan, mẫn cán và đúng pháp luật.
...
Điều 6.
...
Chương 2: NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA THANH TRA AN TOÀN HÀNG HẢI VIỆT NAM

Điều 7. Thanh tra an toàn hàng hải Việt Nam có những nhiệm vụ sau:
...
Điều 8. Thanh tra an toàn hàng hải có những quyền hạn sau đây:
...
Điều 9.
...
Chương 3: THANH TRA VIÊN AN TOÀN HÀNG HẢI VIỆT NAM

Điều 10. Thanh tra viên an toàn hàng hải Việt Nam có những chức danh sau đây:
...
Điều 11.
...
Điều 12.
...
Điều 13.
...
Điều 14. Thanh tra viên an toàn hàng hải Việt Nam được trang cấp phù hiệu, cấp hiệu, quần áo đồng phục, áo mưa, mũ kêpi, Cờravát, dây lưng, giây, bít tất, cặp đựng tài liệu, thẻ thanh tra viên và các phương tiện làm việc khác.
...
Điều 15. Thanh tra viên an toàn hàng hải Việt Nam khi độc lập tiến hành các hoạt động thanh tra an toàn hàng hải chỉ được phép thanh tra các việc thuộc thẩm quyền chuyên môn đã được chỉ rõ trong thẻ thanh tra viên. Nếu xét thấy có vấn đề nghi vấn thuộc thẩm quyền chuyên môn khác, thì phải báo cáo ngay cho người đứng đầu cơ quan thanh tra an toàn hàng hải ở khu vực gần nhất để xử lý. Đồng thời, có quyền khuyến nghị các biện pháp tạm thời để phòng ngừa tai nạn xảy ra.

Điều 16. Trong khi thi hành công vụ, Thanh tra viên an toàn hàng hải Việt Nam được quyền áp dụng các biện pháp xử lý hành chính quy định tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày 7 tháng 12 năm 1989 và Nghị định số 141-HĐBT ngày 25-1-1991 của Hội đồng Bộ trưởng về xử phát vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự.
...
Chương 4: THỦ TỤC KHIẾU NAỊ VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NAỊ

Điều 17.
...
Điều 18. Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với các ý kiến giải quyết khiếu nại thuộc phạm vi thẩm quyền của Chánh thanh tra an toàn hàng hải Trung ương hoặc khi khiếu nại liên quan trực tiếp đến Chánh thanh tra an toàn hàng hải Trung ương thì người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại là Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam.
...
Điều 19.
...
Điều 20. Các khiếu nại, tố cáo khác của công dân liên quan đến an toàn hàng hải và ô nhiễm môi trường do tàu biển gây ra được giải quyết theo Pháp lệnh về Khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 2 tháng 5 năm 1991.

Xem nội dung VB
Tổ chức và hoạt động đăng kiểm tầu biển được hướng dẫn bởi Quyết định 203-TTg năm 1992 (VB hết hiệu lực: 24/06/2006)
Tổ chức và hoạt động của Thanh tra an toàn hàng hải được hướng dẫn bởi Quyết định 204-TTg năm 1992 (VB hết hiệu lực: 12/07/2004)
- Huấn luyện, bồi dưỡng, thi và cấp chứng chỉ Hoa tiêu hàng hải được hướng dẫn bởi Quyết định 750/2000/QĐ-BGTVT (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)

Căn cứ Điều 158 Bộ Luật Hàng Hải Việt Nam ban hành ngày 30-6-1990 và Nghị quyết A.485(XII) của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO);
...
Điều 1- Ban hành kèm theo Quyết định này "Quy chế Huấn luyện, Bồi dưỡng cập nhật, Thi và cấp Chứng chỉ chuyên môn Hoa tiêu Hàng hải".

Điều 2- Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký; các quy định trước đây liên quan đến tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng cập nhật, thi và cấp chứng chỉ chuyên môn hoa tiêu hàng hải trái với những quy định ban hành kèm theo Quyết định này đều bị bãi bỏ.

Điều 3- Các ông (bà): Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ - lao động, Cục trưởng Cục Hàng Hải Việt Nam và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
...
QUY CHẾ HUẤN LUYỆN, BỒI DƯỠNG CẬP NHẬT, THI VÀ CẤP CHỨNG CHỈ CHUYÊN MÔN HOA TIÊU HÀNG HẢI

Chương 1 NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1: Quy chế này quy định về huấn luyện, bồi dưỡng cập nhật, tổ chức thi và cấp chứng chỉ chuyên môn hoa tiêu hàng hải cho hoa tiêu hàng hải Việt Nam.
...
Điều 2: Nguyên tắc chung
...
Chương 2 HỆ THỐNG CHỨNG CHỈ CHUYÊN MÔN VÀ CHỨC DANH HOA TIÊU HÀNG HẢI

Điều 3:1. Hệ thống chứng chỉ chuyên môn hoa tiêu hàng hải bao gồm:
...
Điều 4: Quy định về chức danh hoa tiêu hàng hải
...
Chương 3 ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN KHẢ NĂNG CHUYÊN MÔN HOA TIÊU HÀNG HẢI

Điều 5: Quy định về các điều kiện chung
...
Điều 6: Các tiêu chuẩn cụ thể
...
Chương 4 CHƯƠNG TRÌNH VÀ CƠ SỞ HUẤN LUYỆN, BỒI DƯỠNG CẬP NHẬT KIẾN THỨC CHUYÊN MÔN CHO HOA TIÊU HÀNG HẢI

Điều 7:Chương trình huấn luyện, bồi dưỡng cập nhật
...
Điều 8: Cơ sở huấn luyện bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới cho hoa tiêu hàng hải (gọi tắt là cơ sở huấn luyện)
...
Chương 5 QUY ĐỊNH VỀ THI VÀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN KHẢ NĂNG CHUYÊN MÔN HOA TIÊU HÀNG HẢI

Điều 9: Căn cứ vào nhu cầu thực tế, Cục Hàng hải Việt Nam chỉ đạo việc mở khoá huấn luyện, bồi dưỡng cập nhật và tổ chức các kỳ thi để cấp GCNKNCM HTHH cho Hoa tiêu Hàng hải Việt Nam.
...
Điều 10: 1. Cục trưởng Cục Hàng hải Việt nam ra quyết định thành lập Hội đồng thi Hoa tiêu Hàng hải cho mỗi kì thi tuỳ thuộc vào nội dung và quy mô của từng khoá bồi dưỡng.
...
Điều 11: Hội đồng thi để cấp GCNKNCM HTHH có nhiệm vụ làm tư vấn cho Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam về tổ chức chỉ đạo, giám sát các kỳ thi Hoa tiêu hàng hải, cụ thể là:
...
Điều 12: 1. Căn cứ biên bản của Hội đồng thi, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam ra quyết định công nhận trúng tuyển để cấp, đổi GCNKNCM HTHH cho Hoa tiêu Hàng hải.
...
Điều 13 1. GCNKNCM HTHH cấp cho hoa tiêu tất cả các hạng chỉ có giá trị sử dụng trong 5 năm kể từ ngày cấp.
...
Điều 14: Trong trường hợp Hoa tiêu Hàng hải có hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả thì tuỳ theo mức độ vi phạm, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam có quyền tạm đình chỉ hành nghề Hoa tiêu hoặc thu hồi chứng chỉ chuyên môn của Hoa tiêu Hàng hải. Việc thu hồi chứng chỉ chuyên môn Hoa tiêu Hàng hải do Hội đồng thi Hoa tiêu Hàng hải đề nghị Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam xem xét, quyết định.
...
Chương 6 QUY ĐỊNH VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN VÙNG HOẠT ĐỘNG HOA TIÊU HÀNG HẢI

Điều 15: Căn cứ vào GCNKNCM HTHH đã cấp, thời gian thực tập, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam ra quyết định cấp "Giấy Chứng nhận Vùng hoạt động hoa tiêu hàng hải "theo những nguyên tắc sau:
...
Điều 16: "Giấy Chứng nhận Vùng hoạt động hoa tiêu hàng hải" có thời gian sử dụng bằng thời hạn sử dụng của GCNKNCM HTHH được cấp và trong khoản thời gian GCNKNCM HTHH còn giá trị sử dụng thì:
...
Chương 7 ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 17: 1. Những quy định về tiêu chuẩn thi và cấp chứng chỉ chuyên môn hoa tiêu hàng hải ban hành kèm theo Quyết định số 2384/QĐ-PC ngày 17/11/1994 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải vẫn tiếp tục có hiệu lực cho tới khi Cục Hàng hải Việt Nam tổ chức được khoá thứ nhất huấn luyện, bồi dưỡng cập nhật và tổ chức thi, cấp các loại chứng chỉ chuyên môn hoa tiêu hàng hải theo những quy định của Quy chế này.
...
Điều 18: 1. Cục Hàng hải Việt Nam hướng dẫn cách thức, thủ tục và thực hiện chuyển đổi các loại chứng chỉ chuyên môn Hoa tiêu Hàng hải cũ sang chứng chỉ chuyên môn Hoa tiêu Hàng hải mới tương ứng.
...
Điều 19: Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam phối hợp với Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ và lao động tổ chức hướng dẫn, kiểm tra thực hiện Quy chế này.

Xem nội dung VB
- Tổ chức Hoa tiêu Hàng hải, tiêu chuẩn thi và cấp các chứng chỉ chuyên môn Hoa tiêu được hướng dẫn bởi Quyết định 252/PCVT năm 1994

Căn cứ Điều 158 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 1990
...
Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1: Bản quy định này, quy định các nguyên tắc về tổ chức hoa tiêu hàng hải, tiêu chuẩn được thi và cấp các chứng chỉ chuyên môn hoa tiêu hàng hải tại Việt Nam;

Điều 2: Chứng chỉ chuyên môn hoa tiêu hàng hải Việt Nam bao gồm:
...
Điều 3: Chỉ những công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có chứng chỉ chuyên môn hoa tiêu hàng hải mới được phép làm hoa tiêu hàng hải tại Việt Nam.
...
Điều 4: Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam có trách nhiệm thẩm duyệt các dự án thành lập tổ chức hoa tiêu hàng hải trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển tổ chức hoa tiêu hàng hải đã được Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải phê duyệt.
...
Điều 5: Mọi hoạt động về hoa tiêu hàng hải tại Việt Nam phải được tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam và chịu sự quản lý Nhà nước về chuyên ngành hàng hải của Cục hàng hải Việt Nam.

Chương 2: TỔ CHỨC HOA TIÊU HÀNG HẢI

Điều 6: Tổ chức hoa tiêu hàng hải là tổ chức hoa tiêu hàng hải quốc gia được thành lập tại cảng biển hoặc khu vực hàng hải khác để dẫn dắt tàu biển hoạt động an toàn trong vùng nước của cảng hoặc khu vực hàng hải.

Điều 7: Các điều kiện thành lập tổ chức hoa tiêu hàng hải tại Việt Nam :
...
Điều 8: Tại Việt Nam, hoa tiêu hàng hải có các hạng sau:
...
Điều 9: Hoa tiêu hàng hải được cấp bằng hạng nào thì được phép hành nghề hoa tiêu trên các tàu biển trong giới hạn tối đa của hạng đó.

Điều 10: Hoa tiêu hàng hải được cấp "Giấy phép hành nghề hoa tiêu hàng hải" ở khu vực hoa tiêu nào thì chỉ được hành nghề ở khu vực hoa tiêu đó. Khi chuyển đến khu vực hoa tiêu khác phải trải qua một thời gian thực tập ít nhất 3 tháng và có xác nhận của tổ chức hoa tiêu khu vực mới trên cơ sở nhận xét kết quả thực tập của hoa tiêu trưởng thì mới được tiếp tục hành nghề hoa tiêu.
...
Điều 11: Hoa tiêu hàng hải quá 60 tuổi không được hành nghề hoa tiêu.
...
Chương 3: TIÊU CHUẨN DỰ THI HOA TIÊU HÀNG HẢI

Điều 12: Điều kiện chung để được dự thi hoa tiêu hàng hải:
...
Điều 13: Ngoài điều kiện chung quy định tại Điều 12 trên, người dự thi hoa tiêu hàng hải phải có các điều kiện cụ thể sau:
...
Điều 14: Những người có đủ các điều kiện quy định tại Điều 12 và Điều 13 trên, sau khi đã dự thi và đạt các điểm thi từ điểm 5 trở lên sẽ được công nhận trúng tuyển thì được cấp bằng hoa tiêu hàng hải và giấy phép hành nghề hoa tiêu hàng hải.
...
Chương 4: TỔ CHỨC THI VÀ CẤP CÁC CHỨNG CHỈ CHUYÊN MÔN HOA TIÊU HÀNG HẢI

Điều 15: Hội đồng thi hoa tiêu hàng hải Việt Nam là Hội đồng thi quốc gia do Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải quyết định thành lập theo đề nghị của Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam và Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam làm chủ tịch.
...
Điều 16: Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam xây dựng quy chế tổ chức hoạt động của Hội đồng thi, Hội đồng giám khảo và nội dung chương trình kỳ thi hoa tiêu hàng hải Việt Nam để trình Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải phê duyệt.

Điều 17: Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam có trách nhiệm cấp bằng hoa tiêu hàng hải và giấy phép hành nghề hoa tiêu hàng hải theo đúng các quy định của quyết định này. Trường hợp xét thấy cần thiết Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam có quyền tạm đình chỉ hoặc thu hồi vĩnh viễn bằng và giấy phép hành nghề hoa tiêu hàng hải của hoa tiêu do có hành vi vi phạm pháp luật.

Điều 18: Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1994. Các quy định trước đây có liên quan đến tổ chức hoa tiêu hàng hải, tiêu chuẩn và chứng chỉ chuyên môn của hoa tiêu hàng hải đều bãi bỏ.

Điều 19: Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam chịu trách nhiệm tổ chức hướng dẫn thi hành quyết định này và hướng dẫn cách thức chuyển đổi các bằng hoa tiêu hàng hải cũ sang bằng hoa tiêu hàng hải mới.

Điều 20: Các ông thủ trưởng các đơn vị: Văn phòng Bộ, Vụ Pháp chế và vận tải, Cục Hàng hải Việt Nam và các đơn vị có lên quan đến tổ chức và hoạt động của hoa tiêu hàng hải tại Việt Nam chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

Xem nội dung VB
Huấn luyện, bồi dưỡng, thi và cấp chứng chỉ Hoa tiêu hàng hải được hướng dẫn bởi Quyết định 750/2000/QĐ-BGTVT (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)
Tổ chức Hoa tiêu Hàng hải, tiêu chuẩn thi và cấp các chứng chỉ chuyên môn Hoa tiêu được hướng dẫn bởi Quyết định 252/PCVT năm 1994
- Việc huấn luyện - cấp chứng chỉ chuyên môn được hướng dẫn từ Chương 1 đến Chương 5 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1387/1998/QĐ-BGTVT (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)

Căn cứ Điều 40 Bộ luật Hàng hải Việt Nam ban hành ngày 30/6/1990 và Công ước về Huấn luyện - cấp Chứng chỉ và Trực ca (STCW 78/95) của Tổ chức Hàng hải quốc tế.
...
QUY CHẾ HUẤN LUYỆN - CẤP CHỨNG CHỈ CHUYÊN MÔN VÀ ĐẢM NHIỆM CHỨC DANH THUYỀN VIÊN TRÊN TẦU BIỂN VIỆT NAM

Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Quy chế này quy định về huấn luyện, tổ chức thi - cấp chứng chỉ chuyên môn và đảm nhiệm chức danh của thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam.
...
Điều 2. Các thuật ngữ dùng trong Quy chế này có ý nghĩa như sau:
...
Chương 3: HỆ THỐNG CHỨNG CHỈ CHUYÊN MÔN VÀ CHỨC DANH THUYỀN VIÊN

Điều 3.
...
Điều 4. Quy định về hệ thống chức danh thuyền viên.
...
Điều 5. Phân hạng chức danh.
...
Chương 3: ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC CẤP CHỨNG CHỈ CHUYÊN MÔN

Điều 6. Quy định về các điều kiện chung.
...
Điều 7. Điều kiện chuyên môn để xét cấp "Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn" đối với các hạng Thuyền trưởng và Đại phó.
...
Điều 8. Điều kiện chuyên môn để xét cấp "Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn" đối với các hạng sĩ quan boong:
...
Điều 9. Điều kiện chuyên môn để xét cấp "Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn" đối với Máy trưởng và Máy hai.
...
Điều 10. Điều kiện chuyên môn để xét cấp "Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn" đối với sĩ quan máy;
...
Điều 11. Điều kiện chuyên môn để xét cấp "Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn" đối với Sĩ quan vô tuyến điện:
...
Điều 12. Điều kiện chuyên môn để xét cấp "Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn" đối với các chức danh thuyền viên khác:
...
Chương 4: QUY ĐỊNH VỀ HUẤN LUYỆN, CƠ SỞ HUẤN LUYỆN VÀ CẤP CHỨNG CHỈ HUẤN LUYỆN

Điều 13. Để đáp ứng hệ thống chứng chỉ Huấn luyện được quy định tại Điều 3 của Quy chế này và Bộ luật STCW 95, các khoá huấn luyện chuyên môn bao gồm:
...
Điều 14. Các cơ sở huấn luyện phải đảm bảo tổ chức huấn luyện theo chương trình, nội dung huấn luyện thống nhất theo các chương trình mẫu hiện hành của IMO, được Bộ Giao thông vận tải phê duyệt.

Điều 15. Các cơ sở huấn luyện nêu trong quy định này là các trường chuyên ngành hàng hải, các trung tâm huấn luyện hàng hải có đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu theo quy định của quy chế này (Phụ lục 2) và được Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải cấp giấy phép.

Điều 16. Huấn luyện viên chính.
...
Điều 17. Định kỳ hàng năm Bộ Giao thông vận tải sẽ kiểm tra các cơ sở huấn luyện đã được Bộ cấp Giấy phép. Bộ Giao thông vận tải sẽ rút Giấy phép huấn luyện đối với những cơ sở không duy trì được các điều kiện, tiêu chuẩn quy định.

Điều 18. Các cơ sở được cấp Giấy phép huấn luyện có nghĩa vụ:
...
Chương 5: QUY ĐỊNH VỀ THI VÀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN KHẢ NĂNG CHUYÊN MÔN CHO THUYỀN VIÊN

Điều 19. Cục Hàng hải Việt Nam là cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành về hàng hải, được Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải giao trách nhiệm chỉ đạo và hướng dẫn việc bồi dưỡng, thi và cấp, đổi giấy chứng nhận khả năng chuyên môn cho thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam.

Điều 20.-
...
Điều 21. Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam ra quyết định thành lập Hội đồng thi cho mỗi kỳ thi tuỳ thuộc vào nội dung và quy mô của từng khoá huấn luyện.
...
Điều 22. Hội đồng thi để cấp giấy chứng nhận khả năng chuyên môn cho thuyền viên có nhiệm vụ làm tư vấn cho Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam về tổ chức chỉ đạo, giám sát các kỳ thi chức danh hàng hải, cụ thể là:
...
Điều 23.
...
Điều 24.

Xem nội dung VB
Việc huấn luyện - cấp chứng chỉ chuyên môn được hướng dẫn từ Chương 1 đến Chương 5 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1387/1998/QĐ-BGTVT (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)
- Hệ thống, phân hạng, bố trí chức danh thuyền viên được hướng dẫn bởi Điều 4, Điều 5 và Chương 6 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1387/1998/QĐ-BGTVT (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)

Căn cứ Điều 40 Bộ luật Hàng hải Việt Nam ban hành ngày 30/6/1990 và Công ước về Huấn luyện - cấp Chứng chỉ và Trực ca (STCW 78/95) của Tổ chức Hàng hải quốc tế.
...
QUY CHẾ HUẤN LUYỆN - CẤP CHỨNG CHỈ CHUYÊN MÔN VÀ ĐẢM NHIỆM CHỨC DANH THUYỀN VIÊN TRÊN TẦU BIỂN VIỆT NAM

Điều 4. Quy định về hệ thống chức danh thuyền viên.
...
Điều 5. Phân hạng chức danh.
...
Chương 6: BỐ TRÍ CHỨC DANH TRÊN TÀU BIỂN VIỆT NAM

Điều 25.

Xem nội dung VB
Hệ thống, phân hạng, bố trí chức danh thuyền viên được hướng dẫn bởi Điều 4, Điều 5 và Chương 6 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1387/1998/QĐ-BGTVT (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)
- Điều này được hướng dẫn bởi Nghị định 39/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/03/2006)

Căn cứ Bộ luật Hàng hải Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 1990
...
Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.
...
Điều 2. Tài sản chìm đắm ở biển nói tại Nghị định này bao gồm các loại tàu biển, hàng hóa hoặc các vật thể khác, không phân biệt nguồn gốc, giá trị, đặc tính, hình thức sở hữu và thời gian bị chìm đắm ở nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, trôi nổi trên biển hoặc dạt vào bờ biển Việt Nam.

Điều 3.
...
Điều 4.
...
Điều 5. Mọi tổ chức, cá nhân có tài sản bị chìm đắm hoặc có liên quan đến việc phát hiện, trục vớt, bảo quản, giải quyết tài sản chìm đắm ở biển phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam. Nếu có thành tích sẽ được khen thưởng, nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Chương 2: XÁC ĐỊNH CHỦ SỞ HỮU TÀI SẢN CHÌM ĐẮM Ở BIỂN

Điều 6.
...
Điều 7.
...
Điều 8. Thông báo tìm chủ sở hữu tài sản chìm đắm phải có các nội dung chủ yếu sau:
...
Điều 9. Chi phí cho việc tìm chủ sở hữu tài sản chìm đắm được tính vào chi phí liên quan đến việc trục vớt tài sản chìm đắm.

Chương 3: TRỤC VỚT TÀI SẢN CHÌM ĐẮM Ở BIỂN

Điều 10. Trách nhiệm của Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam liên quan đến việc trục vớt tài sản chìm đắm ở biển:
...
Điều 11. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ quyết định thời hạn và tổ chức trục vớt tài sản chìm đắm không thuộc các loại tài sản chìm đắm quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.

Điều 12.
...
Điều 13. Trong trường hợp các tổ chức và cá nhân Việt Nam không thể thực hiện việc trục vớt tài sản chìm đắm ở biển thì Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định việc cho phép tổ chức, cá nhân hợp tác với nước ngoài thực hiện theo pháp luật hiện hành.

Chương 4: BẢO QUẢN VÀ GIẢI QUYẾT TÀI SẢN CHÌM ĐẮM Ở BIỂN

Điều 14. Tổ chức, cá nhân ngẫu nhiên trục vớt được tài sản chìm đắm có trách nhiệm bảo quản các tài sản đó cho đến khi giao lại cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 6 Nghị định này. Việc giao nhận tài sản phải được ghi nhận bằng văn bản theo quy định tại Điều 15 Nghị định này.
...
Điều 15.
...
Điều 16. Trong trường hợp tài sản chìm đắm là các trang thiết bị quân sự thì ngay sau khi hoàn tất thủ tục tiếp nhận, Cảng vụ hàng hải hoặc ủy ban nhân dân cấp xã phải chuyển giao tài sản đó cho cơ quan quân sự tại địa phương bảo quản và giải quyết theo quy định của pháp luật.

Điều 17.
...
Điều 18.
...
Điều 19. Trong trường hợp chủ sở hữu tài sản chìm đắm không yêu cầu nhận lại tài sản hoặc không xác định được chủ sở hữu theo quy định tại Điều 7 và Điều 8 Nghị định này, tài sản đó thuộc sở hữu của Nhà nước Việt Nam.

Chương 5: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 20. Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ban hành. Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Điều 21. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Cục trưởng Cục Hàng hải chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Nghị định 39/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/03/2006)
Bản Tiếng Anh (English)
Lược Đồ
Liên quan nội dung
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 42-LCT/HĐNN8   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Võ Chí Công
Ngày ban hành: 30/06/1990   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 31/08/1990   Số công báo: Từ số 15 đến số 16
Lĩnh vực: Giao thông, vận tải   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Luật Hàng hải 1990

1.344

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
37893