• Lưu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Bộ luật Hình sự 2015


Văn bản pháp luật về Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

 

Luật Hình sự sửa đổi 1992

Tải về Luật Hình sự sửa đổi 1992
Bản Tiếng Việt

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 4-L/CTN

Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 1992

 

LUẬT

SỐ 4-L/CTN CỦA QUỐC HỘI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1985 và sửa đổi, bổ sung ngày 28 tháng 12 năm 1989 và ngày 12 tháng 8 năm 1991.

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần chung Bộ luật hình sự như sau:

1- Đoạn 1 Điều 23 về phạt tiền được bổ sung như sau:

"Phạt tiền được áp dụng đối với người phạm các tội có tính chất vụ lợi, tham nhũng, các tội có dùng tiền làm phương tiện hoạt động hoặc những trường hợp khác do luật quy định."

2- Điều 33 về tịch thu vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm được sửa đổi như sau:

"Điều 33- Tịch thu vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm

1. Toà án quyết định tịch thu, sung quỹ Nhà nước:

a) Những vật, tiền bạc của người phạm tội đã dùng vào việc thực hiện tội phạm;

b) Những vật, tiền bạc mà người phạm tội do thực hiện tội phạm hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;

c) Những vật, tiền bạc thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành.

2. Đối với những vật, tiền bạc thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa hoặc thuộc tài sản của người khác bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép thì không tịch thu mà trả lại cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

3. Toà án có thể quyết định tịch thu, sung quỹ Nhà nước những vật, tiền bạc thuộc tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm."

3- Khoản 1 Điều 44 về án treo được sửa đổi như sau:

"1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm."

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:

1- Điều 97 về tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 97. Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới

1. Người nào buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc giá trị lớn; thu lợi bất chính lớn;

c) Lợi dụng chiến tranh;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội;

đ) Phạm tội nhiều lần hoặc tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình."

2- Khoản 3 Điều 100 về hình phạt bổ sung được sửa đổi như sau:

"3. Người nào phạm một trong các tội quy định ở Điều 90 và Điều 91 trong trường hợp hình phạt chính không phải là phạt tiền, thì có thể bị phạt tiền theo mức đã quy định đối với mỗi tội.

Người nào phạm một trong các tội quy định ở các điều 88, 95, 96, 98 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng (300.000 đồng) đến ba triệu đồng (3.000.000 đồng); ở Điều 96a và ở Điều 97 thì bị phạt tiền đến mười lần trị giá hàng phạm pháp."

3- Khoản 2 Điều 134 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa được bổ sung như sau:

"2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội."

4- Khoản 2 Điều 135 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa được bổ sung như sau:

"2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội."

5- Điều 139 về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa được sửa đổi như sau:

"Điều 139. Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa

1. Người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm."

6- Khoản 1 Điều 142 về hình phạt bổ sung được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Người nào phạm một trong các tội quy định ở Điều 133, điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm d khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 137 và Điều 139 thì bị cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa từ hai năm đến năm năm."

7- Khoản 1 Điều 163 về hình phạt bổ sung được sửa đổi như sau:

"1. Người nào phạm tội quy định ở Điều 156 thì bị cấm đảm nhiệm những chức vụ nhất định từ hai năm đến năm năm."

8- Điều 167 về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 167. Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả

1. Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh, vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu;

b) Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội;

d) Hàng giả có số lượng lớn; thu lợi bất chính lớn;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình."

9- Điều 169 về tội trốn thuế được sửa đổi như sau:

"Điều 169. Tội trốn thuế

1. Người nào trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội trốn thuế với số lượng rất lớn hoặc đã bị kết án nhưng chưa được xoá án về tội trốn thuế hoặc về một trong các tội quy định ở các điều 96a, 97, 165, 166, 167, 168, 173 và 183 hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm."

10- Điều 174 về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 174. Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Phạm tội vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác;

b) Phạm tội có tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm."

11- Khoản 3 Điều 185 về hình phạt bổ sung được sửa đổi, bổ sung như sau:

"3. Người nào phạm một trong các tội quy định ở các điều từ 164 đến 169, từ 172 đến 174, thì có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

12- Điều 220 về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng được sửa đổi như sau:

"Điều 220. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

"1. Người nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định ở các điều 139, 193 và 237, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm."

13- Điều 221 về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 221. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ

1. Người nào vì tư lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vượt quá quyền hạn làm trái với công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, nếu không thuộc trường hợp quy định ở các điều 156, 238 và 239, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm."

14- Điều 224 về tội giả mạo trong công tác được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 224. Tội giả mạo trong công tác

1. Người nào trong khi thực hiện nhiệm vụ vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu, làm và cấp giấy tờ giả hoặc giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Người phạm tội là người có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy tờ, tài liệu;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng;

c) Phạm tội nhiều lần hoặc có tổ chức.

3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm."

15- Điều 226 về tội nhận hối lộ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 226. Tội nhận hối lộ

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền của hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Của hối lộ có giá trị lớn;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Phạm tội nhiều lần;

e) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn.

3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình."

16- Khoản 2 Điều 227 về tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ được bổ sung như sau:

"2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Của hối lộ có giá trị lớn;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Phạm tội nhiều lần;

e) Sử dụng công quỹ để đưa hối lộ."

17- Điều 246 về tội che giấu tội phạm được sửa đổi, bổ sung như sau:

1. Đoạn 7 khoản 1 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"- Điều 165, khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 166, khoản 2 và 3 (tội buôn bán hàng cấm); Điều 167, khoản 2 và 3 (tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả); Điều 172, khoản 2 và 3 (tội chiếm đoạt tem, phiếu, tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu, giấy tờ giả dùng vào việc phân phối); Điều 174, khoản 2 và 3 (tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 221, khoản 2 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 226, khoản 2 và 3 (tội nhận hối lộ); Điều 227, khoản 2 và 3 (tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ)."

2. Khoản 2 được sửa đổi như sau:

"2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm."

18- Đoạn 6 khoản 1 Điều 247 về tội không tố giác tội phạm được sửa đổi, bổ sung như sau:

"- Điều 165, khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 172, khoản 2 và 3 (tội chiếm đoạt tem, phiếu, tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu, giấy tờ giả dùng vào việc phân phối); Điều 174 , khoản 2 và 3 (tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 221, khoản 2 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 226, khoản 2 và 3 (tội nhận hối lộ); Điều 227, khoản 2 và 3 (tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ)."

Điều 3: Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng của mình hướng dẫn thi hành Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá IX, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 22 tháng 12 năm 1992.

 

 

Lê Đức Anh

(Đã ký)

 

- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:
...
b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:
- Không áp dụng tình tiết định khung hình phạt mới được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 của các điều 134, 135, 226, 227.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:
...
b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:
- Không áp dụng tình tiết định khung hình phạt mới được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 của các điều 134, 135, 226, 227.

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:
...
b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:
- Không áp dụng tình tiết định khung hình phạt mới được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 của các điều 134, 135, 226, 227.

Xem nội dung VB
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:
...
10. Điều 227 về tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 227. Tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ

1- Người nào đưa hối lộ hoặc làm môi giới hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới ba mươi triệu đồng;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Dùng tài sản xã hội chủ nghĩa để đưa hối lộ;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5- Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ."

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:

b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:

- Không áp dụng hình phạt tử hình mới được bổ dung tại khoản 3 Điều 97; các khung hình phạt mới được bổ sung tại khoản 3 của các điều 174, 221, 224; các mức hình phạt mới được sửa đổi cao hơn mức cũ tại các điều 97, 139, 167, 169, 174, 220, 221, 224, 246.

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:

b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:

- Không áp dụng hình phạt tử hình mới được bổ dung tại khoản 3 Điều 97; các khung hình phạt mới được bổ sung tại khoản 3 của các điều 174, 221, 224; các mức hình phạt mới được sửa đổi cao hơn mức cũ tại các điều 97, 139, 167, 169, 174, 220, 221, 224, 246.

Xem nội dung VB
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b, Khoản d Điều 1, Điều 6 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:

b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:

- Không áp dụng hình phạt tử hình mới được bổ dung tại khoản 3 Điều 97; các khung hình phạt mới được bổ sung tại khoản 3 của các điều 174, 221, 224; các mức hình phạt mới được sửa đổi cao hơn mức cũ tại các điều 97, 139, 167, 169, 174, 220, 221, 224, 246.

d. Tại các điều 97, 139, 169, 174, 220, 221, 224, theo quy định cũ thì có hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền là hình phạt chính, nay theo quy định mới thì không còn các loại hình phạt này. Do đó, đối với các hành vi phạm tội được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm, thì không áp dụng các loại hình phạt này. Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 2-1-1993 và Toà án đã áp dụng các loại hình phạt này, nếu sau ngày 2-1-1993 vụ án được xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm thì toà án không được thay các loại hình phạt này bằng hình phạt tù, nếu không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng hình phạt.
...
6. VỀ ĐIỀU 174:
Điều 174 được sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản theo hướng tăng nặng. Theo quy định cũ thì chỉ có hai khoản và mức hình phạt cao nhất theo điều luật này là mười hai năm tù, nay có ba khoản với mức hình phạt cao nhất là hai mươi năm tù. Theo quy định cũ thì phải có yếu tố "vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác" mới đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nay yếu tố này được chuyển thành tình tiết định khung hình phạt tăng nặng theo khoản 2 của điều luật. Theo quy định cũ thì người phạm tội theo khoản 1 "bị phạt cải tạo không giam giữ từ sáu tháng đến hai năm hoặc phạt tù từ một năm đến bảy năm". Do đó, đối với các hành vi phạm tội được thực hiện trước ngày 2-1-1993 thì khi khởi tố, truy tố, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm vụ án, cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án đều phải áp dụng các quy định cũ mà không được áp dụng các quy định mới.

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Nội dung này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b, Khoản d Điều 1, Điều 6 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:

b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:

- Không áp dụng hình phạt tử hình mới được bổ dung tại khoản 3 Điều 97; các khung hình phạt mới được bổ sung tại khoản 3 của các điều 174, 221, 224; các mức hình phạt mới được sửa đổi cao hơn mức cũ tại các điều 97, 139, 167, 169, 174, 220, 221, 224, 246.

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:

b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:

- Không áp dụng hình phạt tử hình mới được bổ dung tại khoản 3 Điều 97; các khung hình phạt mới được bổ sung tại khoản 3 của các điều 174, 221, 224; các mức hình phạt mới được sửa đổi cao hơn mức cũ tại các điều 97, 139, 167, 169, 174, 220, 221, 224, 246.

Xem nội dung VB
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b, Khoản d Điều 1; Khoản a, Đoạn 9 Khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:

b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:

- Không áp dụng hình phạt tử hình mới được bổ dung tại khoản 3 Điều 97; các khung hình phạt mới được bổ sung tại khoản 3 của các điều 174, 221, 224; các mức hình phạt mới được sửa đổi cao hơn mức cũ tại các điều 97, 139, 167, 169, 174, 220, 221, 224, 246.

d. Tại các điều 97, 139, 169, 174, 220, 221, 224, theo quy định cũ thì có hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền là hình phạt chính, nay theo quy định mới thì không còn các loại hình phạt này. Do đó, đối với các hành vi phạm tội được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm, thì không áp dụng các loại hình phạt này. Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 2-1-1993 và Toà án đã áp dụng các loại hình phạt này, nếu sau ngày 2-1-1993 vụ án được xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm thì toà án không được thay các loại hình phạt này bằng hình phạt tù, nếu không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng hình phạt.
...
2. VỀ ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ:
a. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được thông qua ngày 22-12-1992 phục vụ cuộc đấu tranh chống tội phạm đang diễn biến phức tạp hiện nay, đặc biệt là phục vụ cuộc đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, làm hàng giả... các điều khoản của Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung lần này đều theo hướng tăng nặng, nghiêm khắc hơn so với quy định cũ, cho nên, đối với những người mà từ ngày 2-1-1993 trở đi phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì phải xử phạt nghiêm khắc theo đúng quy định của Luật này, còn đối với những người mà trước ngày 2-1-1993 phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì về nguyên tắc là phải áp dụng các quy định cũ nhưng có tham khảo các quy định mới để quyết định hình phạt cho thoả đáng.
b. Các tội có tính chất tham nhũng cần phải bị xử lý nghiêm khắc là các tội được liệt kê dưới đây:

- Tội giả mạo trong công tác (Điều 224);

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Nội dung này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b, Khoản d Điều 1; Khoản a, Đoạn 9 Khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b, Khoản d Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:

b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:

- Không áp dụng hình phạt tử hình mới được bổ dung tại khoản 3 Điều 97; các khung hình phạt mới được bổ sung tại khoản 3 của các điều 174, 221, 224; các mức hình phạt mới được sửa đổi cao hơn mức cũ tại các điều 97, 139, 167, 169, 174, 220, 221, 224, 246.

d. Tại các điều 97, 139, 169, 174, 220, 221, 224, theo quy định cũ thì có hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền là hình phạt chính, nay theo quy định mới thì không còn các loại hình phạt này. Do đó, đối với các hành vi phạm tội được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm, thì không áp dụng các loại hình phạt này. Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 2-1-1993 và Toà án đã áp dụng các loại hình phạt này, nếu sau ngày 2-1-1993 vụ án được xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm thì toà án không được thay các loại hình phạt này bằng hình phạt tù, nếu không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng hình phạt.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b, Khoản d Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:

b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:

- Không áp dụng hình phạt tử hình mới được bổ dung tại khoản 3 Điều 97; các khung hình phạt mới được bổ sung tại khoản 3 của các điều 174, 221, 224; các mức hình phạt mới được sửa đổi cao hơn mức cũ tại các điều 97, 139, 167, 169, 174, 220, 221, 224, 246.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b, Khoản d Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:

b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:

- Không áp dụng hình phạt tử hình mới được bổ dung tại khoản 3 Điều 97; các khung hình phạt mới được bổ sung tại khoản 3 của các điều 174, 221, 224; các mức hình phạt mới được sửa đổi cao hơn mức cũ tại các điều 97, 139, 167, 169, 174, 220, 221, 224, 246.

d. Tại các điều 97, 139, 169, 174, 220, 221, 224, theo quy định cũ thì có hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền là hình phạt chính, nay theo quy định mới thì không còn các loại hình phạt này. Do đó, đối với các hành vi phạm tội được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm, thì không áp dụng các loại hình phạt này. Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 2-1-1993 và Toà án đã áp dụng các loại hình phạt này, nếu sau ngày 2-1-1993 vụ án được xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm thì toà án không được thay các loại hình phạt này bằng hình phạt tù, nếu không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng hình phạt.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b, Khoản d Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b, Khoản d Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:

b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:

- Không áp dụng hình phạt tử hình mới được bổ dung tại khoản 3 Điều 97; các khung hình phạt mới được bổ sung tại khoản 3 của các điều 174, 221, 224; các mức hình phạt mới được sửa đổi cao hơn mức cũ tại các điều 97, 139, 167, 169, 174, 220, 221, 224, 246.

d. Tại các điều 97, 139, 169, 174, 220, 221, 224, theo quy định cũ thì có hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền là hình phạt chính, nay theo quy định mới thì không còn các loại hình phạt này. Do đó, đối với các hành vi phạm tội được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm, thì không áp dụng các loại hình phạt này. Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 2-1-1993 và Toà án đã áp dụng các loại hình phạt này, nếu sau ngày 2-1-1993 vụ án được xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm thì toà án không được thay các loại hình phạt này bằng hình phạt tù, nếu không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng hình phạt.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b, Khoản d Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b, Khoản d Điều 1; Khoản a, Đoạn 8 Khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:

b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:

- Không áp dụng hình phạt tử hình mới được bổ dung tại khoản 3 Điều 97; các khung hình phạt mới được bổ sung tại khoản 3 của các điều 174, 221, 224; các mức hình phạt mới được sửa đổi cao hơn mức cũ tại các điều 97, 139, 167, 169, 174, 220, 221, 224, 246.

d. Tại các điều 97, 139, 169, 174, 220, 221, 224, theo quy định cũ thì có hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền là hình phạt chính, nay theo quy định mới thì không còn các loại hình phạt này. Do đó, đối với các hành vi phạm tội được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm, thì không áp dụng các loại hình phạt này. Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 2-1-1993 và Toà án đã áp dụng các loại hình phạt này, nếu sau ngày 2-1-1993 vụ án được xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm thì toà án không được thay các loại hình phạt này bằng hình phạt tù, nếu không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng hình phạt.
...
2. VỀ ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ:
a. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được thông qua ngày 22-12-1992 phục vụ cuộc đấu tranh chống tội phạm đang diễn biến phức tạp hiện nay, đặc biệt là phục vụ cuộc đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, làm hàng giả... các điều khoản của Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung lần này đều theo hướng tăng nặng, nghiêm khắc hơn so với quy định cũ, cho nên, đối với những người mà từ ngày 2-1-1993 trở đi phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì phải xử phạt nghiêm khắc theo đúng quy định của Luật này, còn đối với những người mà trước ngày 2-1-1993 phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì về nguyên tắc là phải áp dụng các quy định cũ nhưng có tham khảo các quy định mới để quyết định hình phạt cho thoả đáng.
b. Các tội có tính chất tham nhũng cần phải bị xử lý nghiêm khắc là các tội được liệt kê dưới đây:

- Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 221);

Xem nội dung VB
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:
...
6. Điều 221 về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 221. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

1- Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng ."

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b, Khoản d Điều 1; Khoản a, Đoạn 8 Khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:

b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:

- Không áp dụng hình phạt tử hình mới được bổ dung tại khoản 3 Điều 97; các khung hình phạt mới được bổ sung tại khoản 3 của các điều 174, 221, 224; các mức hình phạt mới được sửa đổi cao hơn mức cũ tại các điều 97, 139, 167, 169, 174, 220, 221, 224, 246.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Đoạn 2 Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Luật này được hướng dẫn bởi Khoản a, c Điều 1; Khoản a, Đoạn 7 Khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:
a. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày 22-12-1992 đã được Chủ tịch nước công bố ngày 2-1-1993, cho nên các quy định của Luật này được áp dụng đối với tất cả các hành vi phạm tội được thực hiện kể từ ngày 2-1-1993 trở đi.

c. Trong trường hợp một người bị khởi tố, truy tố, xét xử về một tội nào đó với nhiều hành vi, trong đó có hành vi thực hiện trước, có hành vi thực hiện sau ngày 2-1-1993, thì áp dụng điều luật đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng nặng để khởi tố, truy tố, xét xử, nhưng khi quyết định hình phạt cần cân nhắc số lượng và tính chất của các hành vi được thực hiện trước cũng như các hành vi được thực hiện sau ngày 2-1-1993 để quyết định một mức hình phạt cho thoả đáng đối với tất cả các hành vi đó.
...
2. VỀ ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ:
a. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được thông qua ngày 22-12-1992 phục vụ cuộc đấu tranh chống tội phạm đang diễn biến phức tạp hiện nay, đặc biệt là phục vụ cuộc đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, làm hàng giả... các điều khoản của Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung lần này đều theo hướng tăng nặng, nghiêm khắc hơn so với quy định cũ, cho nên, đối với những người mà từ ngày 2-1-1993 trở đi phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì phải xử phạt nghiêm khắc theo đúng quy định của Luật này, còn đối với những người mà trước ngày 2-1-1993 phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì về nguyên tắc là phải áp dụng các quy định cũ nhưng có tham khảo các quy định mới để quyết định hình phạt cho thoả đáng.
b. Các tội có tính chất tham nhũng cần phải bị xử lý nghiêm khắc là các tội được liệt kê dưới đây:
...
- Tội lập quỹ trái phép (Điều 175);

Xem nội dung VB
Luật này được hướng dẫn bởi Khoản a, c Điều 1; Khoản a, Đoạn 7 Khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Khoản a, Đoạn 1, 2, 3, 4 Khoản b Điều 2, Điều 4 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

2. VỀ ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ:
a. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được thông qua ngày 22-12-1992 phục vụ cuộc đấu tranh chống tội phạm đang diễn biến phức tạp hiện nay, đặc biệt là phục vụ cuộc đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, làm hàng giả... các điều khoản của Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung lần này đều theo hướng tăng nặng, nghiêm khắc hơn so với quy định cũ, cho nên, đối với những người mà từ ngày 2-1-1993 trở đi phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì phải xử phạt nghiêm khắc theo đúng quy định của Luật này, còn đối với những người mà trước ngày 2-1-1993 phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì về nguyên tắc là phải áp dụng các quy định cũ nhưng có tham khảo các quy định mới để quyết định hình phạt cho thoả đáng.
b. Các tội có tính chất tham nhũng cần phải bị xử lý nghiêm khắc là các tội được liệt kê dưới đây:
- Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 133);
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trong trường hợp người phạm tội có lợi dụng chức vụ, quyền hạn (điểm d khoản 2 Điều 134).
- Tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trong trường hợp người phạm tội có lợi dụng chức vụ, quyền hạn (điểm d khoản 2 Điều 135);
Tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa trong trường hợp người phạm tội có lợi dụng chức vụ quyền hạn (khoản 2 Điều 137).
...
4. VỀ HÌNH PHẠT BỔ SUNG LÀ CẤM ĐẢM NHIỆM CHỨC VỤ:
Đối với những người phạm một trong các tội như tham ô... (Điều 133), sử dụng trái phép... (Điều 137), thiếu trách nhiệm (Điều 139), theo quy định cũ tại khoản 1 của Điều 142, Toà án có thể áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa từ hai năm đến năm năm, nay theo quy định mới thì trong mọi trường hợp, Toà án đều phải áp dụng loại hình phạt bổ sung này. Trong trường hợp vụ án đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 2-1-1993 và Toà án đã không áp dụng loại hình phạt bổ sung này mà sau ngày 2-1-1993 mới xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, thì Toà án chỉ áp dụng loại hình phạt bổ sung này nếu có kháng cáo, kháng nghị theo hướng đó.
Đối với người phạm một trong các tội quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 hoặc điểm d khoản 2 Điều 135, nếu tội phạm được thực hiện trước ngày 2-1-1993 thì Toà án không áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa, nhưng nếu tội phạm được thực hiện kể từ ngày 2-1-1993 trở về sau thì Toà án phải áp dụng loại hình phạt bổ sung này.
...
4. VỀ HÌNH PHẠT BỔ SUNG LÀ CẤM ĐẢM NHIỆM CHỨC VỤ:
Đối với những người phạm một trong các tội như tham ô... (Điều 133), sử dụng trái phép... (Điều 137), thiếu trách nhiệm (Điều 139), theo quy định cũ tại khoản 1 của Điều 142, Toà án có thể áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa từ hai năm đến năm năm, nay theo quy định mới thì trong mọi trường hợp, Toà án đều phải áp dụng loại hình phạt bổ sung này. Trong trường hợp vụ án đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 2-1-1993 và Toà án đã không áp dụng loại hình phạt bổ sung này mà sau ngày 2-1-1993 mới xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, thì Toà án chỉ áp dụng loại hình phạt bổ sung này nếu có kháng cáo, kháng nghị theo hướng đó.
Đối với người phạm một trong các tội quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 hoặc điểm d khoản 2 Điều 135, nếu tội phạm được thực hiện trước ngày 2-1-1993 thì Toà án không áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa, nhưng nếu tội phạm được thực hiện kể từ ngày 2-1-1993 trở về sau thì Toà án phải áp dụng loại hình phạt bổ sung này.

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Khoản a, Đoạn 1, 2, 3, 4 Khoản b Điều 2, Điều 4 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Khoản a, Đoạn 5 Khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

2. VỀ ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ:
a. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được thông qua ngày 22-12-1992 phục vụ cuộc đấu tranh chống tội phạm đang diễn biến phức tạp hiện nay, đặc biệt là phục vụ cuộc đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, làm hàng giả... các điều khoản của Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung lần này đều theo hướng tăng nặng, nghiêm khắc hơn so với quy định cũ, cho nên, đối với những người mà từ ngày 2-1-1993 trở đi phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì phải xử phạt nghiêm khắc theo đúng quy định của Luật này, còn đối với những người mà trước ngày 2-1-1993 phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì về nguyên tắc là phải áp dụng các quy định cũ nhưng có tham khảo các quy định mới để quyết định hình phạt cho thoả đáng.
b. Các tội có tính chất tham nhũng cần phải bị xử lý nghiêm khắc là các tội được liệt kê dưới đây:
...
- Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 156);

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Khoản a, Đoạn 5 Khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Khoản a, Đoạn 6 Khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

2. VỀ ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ:
a. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được thông qua ngày 22-12-1992 phục vụ cuộc đấu tranh chống tội phạm đang diễn biến phức tạp hiện nay, đặc biệt là phục vụ cuộc đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, làm hàng giả... các điều khoản của Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung lần này đều theo hướng tăng nặng, nghiêm khắc hơn so với quy định cũ, cho nên, đối với những người mà từ ngày 2-1-1993 trở đi phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì phải xử phạt nghiêm khắc theo đúng quy định của Luật này, còn đối với những người mà trước ngày 2-1-1993 phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì về nguyên tắc là phải áp dụng các quy định cũ nhưng có tham khảo các quy định mới để quyết định hình phạt cho thoả đáng.
b. Các tội có tính chất tham nhũng cần phải bị xử lý nghiêm khắc là các tội được liệt kê dưới đây:
...
- Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng trong trường hợp người phạm tội có vụ lợi hoặc động cơ cá nhân (điểm a khoản 2 Điều 174);

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Khoản a, Đoạn 6 Khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản a, Đoạn 10 Khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

2. VỀ ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ:
a. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được thông qua ngày 22-12-1992 phục vụ cuộc đấu tranh chống tội phạm đang diễn biến phức tạp hiện nay, đặc biệt là phục vụ cuộc đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, làm hàng giả... các điều khoản của Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung lần này đều theo hướng tăng nặng, nghiêm khắc hơn so với quy định cũ, cho nên, đối với những người mà từ ngày 2-1-1993 trở đi phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì phải xử phạt nghiêm khắc theo đúng quy định của Luật này, còn đối với những người mà trước ngày 2-1-1993 phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì về nguyên tắc là phải áp dụng các quy định cũ nhưng có tham khảo các quy định mới để quyết định hình phạt cho thoả đáng.
b. Các tội có tính chất tham nhũng cần phải bị xử lý nghiêm khắc là các tội được liệt kê dưới đây:

- Tội nhận hối lộ (Điều 226);

Xem nội dung VB
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:
...
9. Điều 226 về tội nhận hối lộ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 226. Tội nhận hối lộ

1- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm nhiều lần hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới ba mươi triệu đồng;

d) Biết rõ của hối lộ là tài sản xã hội chủ nghĩa;

đ) Phạm tội nhiều lần;

e) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản a, Đoạn 10 Khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Khoản a, Đoạn 11 Khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

2. VỀ ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ:
a. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được thông qua ngày 22-12-1992 phục vụ cuộc đấu tranh chống tội phạm đang diễn biến phức tạp hiện nay, đặc biệt là phục vụ cuộc đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, làm hàng giả... các điều khoản của Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung lần này đều theo hướng tăng nặng, nghiêm khắc hơn so với quy định cũ, cho nên, đối với những người mà từ ngày 2-1-1993 trở đi phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì phải xử phạt nghiêm khắc theo đúng quy định của Luật này, còn đối với những người mà trước ngày 2-1-1993 phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì về nguyên tắc là phải áp dụng các quy định cũ nhưng có tham khảo các quy định mới để quyết định hình phạt cho thoả đáng.
b. Các tội có tính chất tham nhũng cần phải bị xử lý nghiêm khắc là các tội được liệt kê dưới đây:

- Tội đưa hối lộ trong trường hợp người phạm tội sử dụng công quỹ để đưa hối lộ (điểm e khoản 2 Điều 227).

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Khoản a, Đoạn 11 Khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Đoạn 1 Điều 3 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

3. VỀ HÌNH PHẠT BỔ SUNG LÀ PHẠT TIỀN
Theo quy định mới tại đoạn 1 Điều 23 thì việc phạt tiền được áp dụng đối với cả những người phạm một trong các tội có tính chất tham nhũng. Do đó, đối với các tội có tính chất tham nhũng mà ở "Phần các tội phạm" của Bộ luật hình sự có quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền (kể cả trường hợp quy định là "có thể" phạt tiền), thì Viện kiểm sát phải đề nghị áp dụng việc phạt tiền và Toà án phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, đối với các tội khác có tính chất tham nhũng mà ở "Phần các tội phạm" của Bộ luật hình sự không quy định việc phạt tiền là hình phạt bổ sung thì không được áp dụng hình phạt này.
...

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Đoạn 1 Điều 3 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản d Điều 1, Đoạn 2 Điều 3, Điều 7 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:

d. Tại các điều 97, 139, 169, 174, 220, 221, 224, theo quy định cũ thì có hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền là hình phạt chính, nay theo quy định mới thì không còn các loại hình phạt này. Do đó, đối với các hành vi phạm tội được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm, thì không áp dụng các loại hình phạt này. Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 2-1-1993 và Toà án đã áp dụng các loại hình phạt này, nếu sau ngày 2-1-1993 vụ án được xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm thì toà án không được thay các loại hình phạt này bằng hình phạt tù, nếu không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng hình phạt.
...
3. VỀ HÌNH PHẠT BỔ SUNG LÀ PHẠT TIỀN
...
Đối với tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 97), theo quy định cũ thì có thể áp dụng phạt tiền là hình phạt chính, nay theo quy định mới thì không được áp dụng phạt tiền là hình phạt chính nữa. Do đó, đối với các loại hành vi phạm tội này được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà nay mới xét xử sơ thẩm thì Toà án không áp dụng phạt tiền là hình phạt chính. Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 2-1-1993 và toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền mà sau ngày 2-1-1993 mới xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, thì Toà án không được thay hình phạt chính là hình phạt tiền bằng hình phạt tù nếu không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng hình phạt.
...
7. VỀ ĐIỀU 97
Đối với những người buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hoá là vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, các chất ma tuý, văn hoá phẩm đồi trụy, từ nay chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới" theo Điều 97 mà không truy cứu thêm về tội phạm tương ứng theo quy định tại các điều 95, 96, 96a, 99 như đã hướng dẫn trước đây.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản d Điều 1, Đoạn 2 Điều 3, Điều 7 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Điều 5 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

5. VỀ HÌNH PHẠT BỔ SUNG LÀ TỊCH THU TÀI SẢN:
Đối với những người mà trước ngày 2-1-1993 phạm một trong các tội quy định tại các điều 169, 174 thì Toà án không được áp dụng hình phạt bổ sung là tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Điều 5 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 8 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

8. VỀ ÁN TREO
Theo quy định cũ tại khoản 1 Điều 44 thì đối với những người bị xử phạt tù không quá năm năm có thể xem xét để nếu có đủ các điều kiện do Luật định thì cho hưởng án treo, nay theo quy định mới thì chỉ đối với những người bị xử phạt tù không quá ba năm mới có thể xem xét để cho hưởng án treo. Như vậy, khoản 1 Điều 44 được sửa đổi theo hướng hạn chế việc cho hưởng án treo, cho nên từ nay trở đi, việc xem xét để cho hưởng án treo phải được tiến hành chặt chẽ và thận trọng hơn, cụ thể là chỉ đối với những người bị phạt tù không quá ba năm, có nhân thân không xấu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và xét thấy không nhất thiết phải bắt họ chấp hành hình phạt tù mới đạt được tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, thì mới cho hưởng án treo. Các Toà án cần tránh việc cho hưởng án treo không chính xác như: cho người không đủ điều kiện hưởng án treo được hưởng án treo hoặc đáng lẽ phải xử phạt trên ba năm tù thì lại chỉ phạt không quá 3 năm tù để cho hưởng án treo...

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 8 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được bổ sung bởi Khoản 2, 3, 7 và 11 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:
...
2. Bổ sung Điều 134a "Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa'' như sau:

"Điều134a. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa

1- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa có giá trị từ 05 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc dưới 05 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm nhiều lần hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Tài sản có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.''

3. Bổ sung Điều 137a "Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa'' như sau:

"Điều 137a. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa

1- Người nào vì vụ lợi mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."
...
7. Bổ sung Điều 221a "Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ" như sau:

"Điều 221a. Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

1- Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."
...
11. Bổ sung Điều 228a "Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi" như sau:

"Điều 228a. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi

1- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm nhiều lần hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm, để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới ba mươi triệu đồng;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."

Xem nội dung VB
Điều này được bổ sung bởi Khoản 2, 3, 7 và 11 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:
...
8. Điều 142 về hình phạt bổ sung được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 142. Hình phạt bổ sung

1- Người nào phạm một trong các tội quy định tại Điều 133, Điều 134a, điểm d khoản 2 Điều 135, Điều 137a và Điều 139, thì bị cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa từ hai năm đến năm năm.

2- Người nào phạm một trong các tội quy định tại các điều từ Điều 129 đến Điều 132, Điều 134 và Điều 135, nếu là tái phạm nguy hiểm, thì bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

3- Người nào phạm một trong các tội quy định tại Chương này, trừ các điều 136, 139 và 140, thì tuỳ theo tính chất nghiêm trọng của tội phạm mà có thể bị phạt tiền đến ba mươi triệu đồng và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt đó."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:
...
2. Điều 100 về hình phạt bổ sung được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 100. Hình phạt bổ sung

1- Công dân Việt Nam phạm một trong các tội thuộc Mục A, thì bị tước một số quyền công dân từ một năm đến năm năm; phạm một trong các tội thuộc Mục B thì có thể bị tước một số quyền công dân từ một năm đến năm năm.

2- Công dân Việt Nam phạm một trong các tội thuộc Mục A hoặc một trong các tội quy định tại Điều 87, Điều 88, các điều từ Điều 94 đến Điều 99, thì bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

3- Người nào phạm một trong các tội quy định tại Điều 90 và Điều 91 trong trường hợp hình phạt chính không phải là phạt tiền, thì có thể bị phạt tiền theo mức đã quy định đối với mỗi tội.

Người nào phạm một trong các tội quy định tại các điều 88, 95, 96, 98 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng đến ba triệu đồng; phạm tội quy định tại Điều 97, thì bị phạt tiền đến mười lần trị giá hàng phạm pháp.

4- Người nào phạm một trong các tội thuộc Mục A, thì bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; phạm một trong các tội quy định tại Điều 88, các điều từ Điều 94 đến Điều 98, thì có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:
...
12. Điều 247 về tội không tố giác tội phạm được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 247. Tội không tố giác tội phạm

1- Người nào biết rõ một trong những tội phạm quy định tại các điều sau đây đang được chuẩn bị hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

- Các điều từ Điều 72 đến Điều 85 về các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia; Điều 87 (tội chiếm đoạt máy bay, tàu thuỷ); Điều 94, khoản 2 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 95, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 96, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ); Điều 98 (tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá huỷ tiền tệ);

- Điều 101 (tội giết người); Điều 112, khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 112a (tội hiếp dâm trẻ em); Điều 113a (tội cưỡng dâm người chưa thành niên);

- Điều 129 (tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 132, khoản 2 và 3 (tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 133, khoản 2, 3 và 4 (tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 134a, khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 137a, khoản 2 và 3 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 138, khoản 2 và 3 (tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa);

- Điều 151 (tội cướp tài sản của công dân); Điều 152 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân); Điều 156, khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân);

- Điều 165, khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 172, khoản 2 và 3 (tội chiếm đoạt tem, phiếu, tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu, giấy tờ giả dùng vào việc phân phối); Điều 174, khoản 2 và 3 (tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 175, khoản 2, 3 và 4 (tội lập quỹ trái phép);

- Điều 185a, khoản 2 (tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý); Điều 185b (tội sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 185c (tội tàng trữ trái phép chất ma tuý); Điều 185d (tội vận chuyển trái phép chất ma tuý); Điều 185đ (tội mua bán trái phép chất ma tuý); Điều 185e (tội chiếm đoạt chất ma túy); Điều 185g (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 185h, khoản 2 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán, các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 185i (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 185k (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 185m (tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 185n (tội vi phạm quy định về quản lý và sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác);

- Điều 202a, khoản 2, 3 và 4 (tội mua dâm người chưa thành niên); Điều 202b, khoản 2, 3 và 4 (tội dâm ô đối với trẻ em);

- Điều 221, khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ); Điều 221a, khoản 2, 3 và 4 (tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 224, khoản 2, 3 và 4 (tội giả mạo trong công tác); Điều 226, khoản 2, 3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 227, khoản 2, 3 và 4 (tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ); Điều 228a, khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi);

- Điều 245, khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam).

2- Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:
...
8. Điều 224 về tội giả mạo trong công tác được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 224. Tội giả mạo trong công tác

1- Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu;

b) Làm, cấp giấy tờ giả;

c) Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Người phạm tội là người có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy tờ, tài liệu;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12-1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:

1. VỀ THỜI HIỆU:
...
b. Theo Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự thì "Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành...", cho nên, nếu hành vi phạm tội đã được thực hiện trước ngày 2-1-1993 mà sau ngày đó mới xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự chứ không áp dụng các quy định mới được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi... ngày 22-12-1992 có quy định tội phạm mới hoặc hình phạt nặng hơn, cụ thể là:
- Không áp dụng tình tiết định khung hình phạt mới được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 của các điều 134, 135, 226, 227.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản b Điều 1 Thông tư liên tịch 02/TTLN năm 1993 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Văn bản gốc
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 4-L/CTN   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Lê Đức Anh
Ngày ban hành: 22/12/1992   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 31/03/1993   Số công báo: Số 6
Lĩnh vực: Hình sự   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Luật Hình sự sửa đổi 1992

972

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
38461