• Lưu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Luật nghĩa vụ quân sự


Văn bản pháp luật về Miễn gọi nhập ngũ

 

Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962

Tải về Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962
Bản Tiếng Việt

LUẬT

SỬA ĐỔI VÀ BỔ SUNG LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, luật này quy định những điều sửa đổi và bổ sung sau đây về luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960:

Điều 1

Nay sửa đổi những điều 7, 10, 28, 32 của luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 và thay bằng những điều (mới) sau đây:

1. Điều 7 (mới): Lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực trong thời bình là từ mười tám đến hai mươi nhăm tuổi, trong thời chiến là từ mười tám đến bốn nhăm tuổi.

Việc lần lượt gọi các lứa tuổi ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến do Hội đồng quốc phòng định.

2. Điều 10 (mới): Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội lục quân là ba năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội không quân là bốn năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân là bốn năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội hải quân là năm năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật trong Công an nhân dân vũ trang theo như thời hạn phục vụ tại ngũ của các binh chủng, quân chủng trong Quân đội nhân dân.

Trong trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ trưởng Bộ công an có thể kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân thuộc quyền mình nhưng không được quá bốn tháng.

3. Điều 28 (mới): Sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị hàng năm phải tham gia huấn luyện quân sự theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.

Sĩ quan dự bị, hạ sĩ quan kỹ thuật dự bị, binh sĩ kỹ thuật dự bị và những người được chọn để đào tạo thành sĩ quan dự bị mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự hai mươi nhăm ngày.

Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị bộ binh mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự mười lăm ngày.

Trong trường hợp thật cần thiết, Hội đồng Chính phủ quyết định việc tổ chức huấn luyện quân sự tập trung cho quân nhân dự bị trong một thời gian không quá tám tháng.

4. Điều 32 (mới): Sau khi Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra các mệnh lệnh cần thiết để thực hiện.

Uỷ ban hành chính các cấp có nhiệm vụ thi hành mệnh lệnh động viên của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.

Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và các tổ chức khác có nhiệm vụ bảo đảm cho quân nhân dự bị thuộc tổ chức của mình chấp hành lệnh động viên được nhanh chóng.

Điều 2

Nay bổ sung tiếp theo những điều 27, 32, 34 của luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 những điều 27b, 32b, 34b sau đây:

1. Điều 27b: Bộ trưởng Bộ quốc phòng lãnh đạo công tác tuyển binh trong toàn quốc.

Uỷ ban hành chính các cấp lãnh đạo cơ quan quân sự địa phương và các ngành có liên quan ở địa phương tổ chức thực hiện việc tuyển binh trong địa phương mình.

Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và các tổ chức khác có nhiệm vụ bảo đảm cho công tác tuyển binh trong tổ chức của mình tiến hành được tốt.

2. Điều 32b: Việc gọi quân nhân dự bị ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến quy định như sau:

Thủ tướng Chính phủ ra lệnh gọi sĩ quan dự bị cấp tướng;

Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra lệnh gọi quân nhân dự bị từ cấp tá trở xuống;

Theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính khu tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra lệnh gọi quân nhân dự bị từ cấp uý trở xuống;

Theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, khu phố ra lệnh gọi hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị.

3. Điều 34b: Trong thời bình, theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng tổ chức động viên thực tập cho các địa phương, cơ quan, đơn vị sản xuất và các tổ chức khác. Những người có nghĩa vụ quân sự có nhiệm vụ chấp hành nghiêm chỉnh các mệnh lệnh về động viên thực tập của Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Chủ tịch Uỷ ban hành chính địa phương.

Luật này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ II, kỳ họp thứ 5, thông qua ngày 26 tháng 10 năm 1962.

 

 

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

 

- Điều này được bổ sung bởi Điều 2 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)

Điều 2: Nay bổ sung tiếp theo điều 34b của Luật nghĩa vụ quân sự, điều 34c như sau:

Điều 34c - Trong thời bình, khi có tình hình khẩn trương nhưng chưa cần ra lệnh động viên, để kịp thời tăng cường các lực lượng vũ trang và bảo đảm cho các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu, theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng được quyền gọi một số quân nhân đã xuất ngũ, một số cán bộ và nam nữ công nhân, nhân viên kỹ thuật ra phục vụ tại ngũ.

Xem nội dung VB
Điều này được bổ sung bởi Điều 2 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)

Điều 1: Nay sửa đổi những điều 8 và 10 của Luật nghĩa vụ quân sự và thay bằng những điều (mới) sau đây:
...
2. Điều 10 (mới) - Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội lục quân là 4 năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội phòng không - không quân, của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội hải quân, của hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân là 5 năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật trong Công an nhân dân vũ trang theo như thời hạn phục vụ tại ngũ của các binh chủng, quân chủng trong Quân đội nhân dân.

Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ trưởng Bộ công an có thể kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân thuộc quyền mình; mỗi lần kéo dài thời hạn phục vụ không được quá 1 năm.

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 50/LCT   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Hồ Chí Minh
Ngày ban hành: 26/10/1962   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đang cập nhật   Số công báo: Đang cập nhật
Lĩnh vực: Quốc phòng   Tình trạng: Đã biết

Luật sửa đổi và bổ sung Luật Nghĩa vụ quân sự 1962

Nội dung sửa đổi, bổ sung về các vấn đề tuổi tuyển vào quân đội thời bình, thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ.

Tuổi tham gia quân đội thời bình và thời chiến

Lứa tuổi tuyển vào trường quân đội thời bình là từ mười tám đến hai mươi nhăm tuổi, thời chiến là từ muời tám đến bốn mươi nhăm tuổi.

Thời hạn phục vụ tại ngũ sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung Nghĩa vụ quân sự

Hạ sĩ quan, binh sĩ trong bộ đội không quân và hạ sĩ quan, binh sĩ kỹ thuật trong lục quân là 4 năm, hạ sĩ quan, binh sĩ trong bộ đội hải quân là 5 năm.

Thời hạn của các hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc binh chủng kỹ thuật trong Công an nhân dân  vũ trang sẽ theo thời hạn của hạ binh chủng, quân chủng trong quân đội nhân dân.

Tham gia huấn luyện sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị hằng năm

Sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ kỹ thuật dự bị và sĩ quan dự bị hằng năm tham gia huấn luyện 25 ngày. Đối với sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị bộ binh là 15 ngày. Trong trường hợp cần thiết huấn luyện tập trung thời gian có thể dài hơn nhưng không quá 8 tháng.

Thẩm quyền gọi quân nhân dự bị phục vụ tại ngũ theo Luật sửa đổi, bổ sung 1962

Thủ tướng Chính phủ đối với sĩ quan dự bị cấp tướng. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng với sĩ quan từ cấp tá trở xuống và chỉ đạo Chủ tịch Uỷ ban hành chính các khu tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, thị xã…ra lệnh gọi đối với quân nhân từ cấp úy trở xuống và hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị.

Luật sửa đổi và bổ sung Luật Nghĩa vụ quân sự 1962 được thông qua ngày 26/10/1962.

Từ khóa: Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962

688

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
36879