• Lữu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Luật thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu


Văn bản pháp luật về Quá cảnh hàng hóa

Văn bản pháp luật về Nhập khẩu phế liệu

Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi 1998

Tải về Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi 1998
Bản Tiếng Việt

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 04/1998/QH10

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 1998

 

LUẬT

SỐ 04/1998/QH10 NGÀY 20 THÁNG 05 NĂM 1998 CỦA QUỐC HỘI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã được Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 26 tháng 12 năm 1991 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 5 tháng 7 năm 1993.

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu :

1. Điều 9 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 9

1. Thuế suất đối với hàng nhập khẩu gồm thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt :

a) Thuế suất thông thường áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước không có thỏa thuận đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Thuế suất thông thường được quy định cao hơn không quá 70% so với thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng do Chính phủ quy định;

b) Thuế suất ưu đãi áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước có thỏa thuận đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định Biểu thuế theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất đối với từng nhóm hàng. Căn cứ vào Biểu thuế do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành, Chính phủ quy định Biểu thuế theo danh mục mặt hàng và thuế suất cụ thể đối với từng mặt hàng;

c) Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước mà Việt Nam và nước đó đã có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu. Chính phủ quy định thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với từng mặt hàng theo thỏa thuận đã được ký kết với các nước.

2. Hàng hóa nhập khẩu trong các trường hợp sau, ngoài việc chịu thuế theo khoản 1 của Điều này còn phải chịu thuế bổ sung :

a) Hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam với giá bán của hàng đó quá thấp so với giá thông thường do được bán phá giá, gây khó khăn cho sự phát triển ngành sản xuất hàng hóa tương tự của Việt Nam;

b) Hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam với giá bán của hàng đó quá thấp so với giá thông thường do có sự trợ cấp của nước xuất khẩu, gây khó khăn cho sự phát triển ngành sản xuất hàng hóa tương tự của Việt Nam;

c) Hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ từ nước mà nước đó có sự phân biệt đối xử về thuế nhập khẩu hoặc có những biện pháp phân biệt đối xử khác đối với hàng hóa của Việt Nam.

Chính phủ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định việc áp dụng mức thuế bổ sung trong từng trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này."

2. Điều 11 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 11

Được xét miễn thuế trong các trường hợp :

1. Hàng nhập khẩu chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho an ninh, quốc phòng, nghiên cứu khoa học và giáo dục, đào tạo;

2. Thiết bị, máy móc, phương tiện vận chuyển chuyên dùng nhập khẩu theo quy định tại Điều 47 của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Điều 25 của Luật khuyến khích đầu tư trong nước;

3. Hàng là quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân nước ngoài cho tổ chức, cá nhân Việt Nam và ngược lại trong mức quy định của Chính phủ."

3. Điều 16 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 16

1. Tổ chức, cá nhân mỗi lần có hàng hóa được phép xuất khẩu phải kê khai, nộp tờ khai hàng hóa xuất khẩu và nộp thuế cho cơ quan thu thuế.

2. Tổ chức, cá nhân mỗi lần có hàng hóa được phép nhập khẩu phải kê khai, nộp tờ khai hàng hóa nhập khẩu và nộp thuế cho cơ quan thu thuế nơi có cửa khẩu nhập hàng hóa. Trong trường hợp cần thiết để tránh ách tắc hàng hóa tại cửa khẩu, Chính phủ quy định thêm một số địa điểm làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa.

Cơ quan thu thuế có trách nhiệm kiểm tra, làm thủ tục và thu thuế."

4. Điều 17 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 17

1. Thời điểm tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là ngày đăng ký tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

2. Trong thời hạn tám giờ làm việc, kể từ khi đăng ký tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, cơ quan thu thuế thông báo chính thức cho đối tượng nộp thuế số thuế phải nộp. Đối với một số mặt hàng có số lượng nhập khẩu lớn hoặc phải có giám định phức tạp thì thời hạn thông báo thuế có thể được kéo dài nhưng không quá ba ngày làm việc. Chính phủ quy định từng mặt hàng cụ thể trong trường hợp việc giám định phải kéo dài quá ba ngày.

3. Thời hạn nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được quy định như sau :

a) Đối với hàng xuất khẩu là mười lăm ngày, kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo chính thức của cơ quan thu thuế về số thuế phải nộp;

b) Đối với hàng là vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu được nộp thuế trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo chính thức của cơ quan thu thuế về số thuế phải nộp. Trong trường hợp đặc biệt, thời hạn nộp thuế có thể được gia hạn phù hợp với chu kỳ sản xuất, dự trữ vật tư, nguyên liệu của doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ;

c) Đối với hàng tạm xuất, tái nhập hoặc tạm nhập, tái xuất là mười lăm ngày, kể từ ngày hết thời hạn tạm xuất, tái nhập hoặc tạm nhập, tái xuất theo quy định của cơ quan có thẩm quyền;

d) Đối với hàng là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phương tiện vận tải nhập khẩu để phục vụ cho sản xuất là ba mươi ngày, kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo chính thức của cơ quan thu thuế về số thuế phải nộp;

đ) Đối với hàng tiêu dùng nhập khẩu thì phải nộp xong thuế trước khi nhận hàng. Trong trường hợp có bảo lãnh về số tiền nộp thuế của các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, thì thời hạn nộp thuế là ba mươi ngày, kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo chính thức của cơ quan thu thuế về số thuế phải nộp. Quá thời hạn nộp thuế nói trên mà đối tượng nộp thuế chưa nộp thuế thì tổ chức bảo lãnh phải có trách nhiệm nộp số tiền thuế đó thay cho đối tượng nộp thuế."

5. Điều 20 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 20

Đối tượng nộp thuế vi phạm Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì bị xử lý như sau:

1. Nộp chậm tiền thuế, tiền phạt so với ngày quy định phải nộp hoặc quyết định xử lý về thuế thì ngoài việc nộp đủ số thuế, số tiền phạt, mỗi ngày nộp chậm còn phải nộp phạt bằng 0,1% (một phần nghìn) số tiền chậm nộp;

2. Không thực hiện đúng những quy định về đăng ký, kê khai nộp thuế theo quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính về thuế;

3. Khai man thuế, trốn thuế thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế theo quy định của Luật này, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm còn bị phạt tiền từ một đến năm lần số tiền thuế gian lận;

4. Không nộp thuế, nộp phạt theo quyết định xử lý về thuế thì bị cưỡng chế thi hành bằng các biện pháp sau đây :

a) Trích tiền gửi của đối tượng nộp thuế tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc để nộp thuế, nộp phạt.

Ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc có trách nhiệm trích tiền từ tài khoản tiền gửi của đối tượng nộp thuế để nộp thuế, nộp phạt vào ngân sách nhà nước theo quyết định xử lý về thuế của cơ quan thuế hoặc cơ quan có thẩm quyền trước khi thu nợ;

b) Giữ hàng hóa, tang vật để bảo đảm thu đủ số thuế, số tiền phạt;

c) Kê biên tài sản theo quy định của pháp luật để bảo đảm thu đủ số thuế, số tiền phạt còn thiếu;

d) Cơ quan hải quan không được làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu cho chuyến hàng tiếp theo của đối tượng nộp thuế cho đến khi đối tượng đó nộp đủ số tiền thuế, tiền phạt;

5. Nếu phát hiện và kết luận có sự gian lận, trốn thuế, cơ quan thuế có trách nhiệm truy thu tiền thuế, tiền phạt trong thời hạn năm năm trở về trước, kể từ ngày kiểm tra phát hiện có sự gian lận, trốn thuế; trường hợp đối tượng nộp thuế nhầm lẫn trong kê khai, cơ quan thuế có trách nhiệm truy thu hoặc hoàn trả tiền thuế đó trong thời hạn một năm trở về trước, kể từ ngày kiểm tra phát hiện có sự nhầm lẫn đó;

6. Trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế mà còn vi phạm hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Thẩm quyền, thủ tục, trình tự xử lý vi phạm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 2

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1999.

Điều 3

Chính phủ sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã ban hành cho phù hợp với Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ ba thông qua ngày 20 tháng 5 năm 1998.

 

 

Nông Đức Mạnh

(Đã ký)

 

- Luật này được hướng dẫn thi hành bởi Công văn 0427/TM-XNK năm 1999

Trong những ngày đầu thi hành Luật thuế sửa đổi, bổ sung Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã xuất hiện một số vướng mắc có liên quan đến giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) hàng hoá nhập khẩu. Do có sự theo dõi chỉ đạo sát sao của Tổng cục Hải quan và Bộ Thương mại, phần lớn những vướng mắc này đã được tháo gỡ kịp thời. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề (được nêu tại cuộc họp ngày 27-01-1999 của Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan) đòi hỏi hai ngành phải có sự phối hợp giải quyết triệt để nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu. Cụ thể là:

1. Vấn đề cung cấp danh sách các tổ chức có thẩm quyền cấp CD và đăng ký mẫu C/O, mẫu dấu và mẫu chữ ký của các tổ chức này:

Hiện tại có 65 nước và vùng lãnh thổ được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi của Việt Nam. Qua những thông tin sơ bộ do tham tán thương mại tại các nước gửi về, số lượng các tổ chức có thẩm quyền cấp C/O tại 65 nước và vùng lãnh thổ này có thể lên tới trên 1000 (Riêng tại Malaixia là 60, Hàn Quốc là 44, Đài Loan thậm chí có tới 92 tổ chức). Nếu ta ký được Hiệp định thì Mỹ và Nhật, đồng thời gia nhập được WTO thì số lượng các nước và vùng lãnh thổ được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi của Việt Nam có thể lên tới gần 150, đồng nghĩa với việc sẽ có hàng nghìn tổ chức có thẩm quyền cấp C/O và cả chục nghìn mẫu C/O, mẫu dấu và mẫu chữ ký. Việc đăng ký, phát hành và cập nhật danh sách các tổ chức có thẩm quyền cấp C/O, trong điều kiện đó, là hoàn toàn không khả thi.

Sau khi nghiên cứu thông lệ quốc tế, Bộ Thương mại nhận thấy có thể thay đổi cách tiếp cận trong lĩnh vực này. Cụ thể, thay vì kiểm tra, đối chiếu từng C/O khi làm thủ tục nhập khẩu, cơ quan hải quan sẽ cho phép người nhập khẩu tự chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của C/O và tính thuế nhập khẩu trên cơ sở C/O do người nhập khẩu xuất trình. Nếu sau này phát hiện có sự gian lận thì sẽ xử lý nghiêm minh như xử lý các trường hợp gian lận thuế khác.

Cách tiếp cận này không mâu thuẫn với thực tiễn quản lý hiện hành bởi người nhập khẩu đang phải tự chịu trách nhiệm về nhiều chứng từ xuất trình cho cơ quan hải quan, trong đó có cả những chứng từ quan trọng đối với việc xác định thuế nhập khẩu như hoá đơn thương mại, hợp đồng mua bán....

Xuất phát từ những phân tích trên, trong khi chờ sửa đổi toàn diện Thông tư liên bộ số 280-TCHQ/GSQL cho phù hợp với thông lệ quốc tế, Bộ Thương mại đề nghị Tổng cục Hải quan chỉ đạo hải quan các địa phương như sau:

"Để được hưởng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi, người nhập khẩu chỉ cần xuất trình C/O xác nhận hàng hoá có xuất xứ từ nước hoặc vùng lãnh thổ được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi của Việt Nam. C/O do người nhập khẩu xuất trình sẽ được chấp thuận ngay cả khi tổ chức cấp C/O, Mẫu C/O, mẫu dấu và mẫu chữ ký chưa được đăng ký với cơ quan hải quan với điều kiện người nhập khẩu phải làm cam kết về tính hợp lệ của C/O. Nếu sau này kiểm tra phát hiện có sự gian lận về C/O thì người nhập khẩu phải chịu trách nhiệm truy nộp thuế và chịu xử lý theo quy định hiện hành".

2. Về tiêu chuẩn xuất xứ:

Hiện nay Việt Nam chưa quy định tiêu chuẩn xác định xuất xứ cho hàng hoá của nước ngoài (trừ trường hợp quy định hàm lượng ASEAN trong chương trình CEPT/AFTA). Tuyệt đại đa số C/O xuất trình cho cơ quan hải quan để hưởng thuế ưu đãi (thuế MFN) được cấp theo quy định của nước xuất xứ. Vì lý do đó, Bộ Thương mại đề nghị Tổng cục Hải quan chỉ đạo hải quan các địa phương không đòi hỏi người nhập khẩu phải chứng minh hàm lượng của nước xuất xứ khi kiểm tra C/O. Việc áp dụng thuế nhập khẩu ưu đãi sẽ được thực hiện hoàn toàn trên cơ sở C/O do chủ hàng xuất trình, theo nguyên tắc tự chịu trách nhiệm như trên đã trình bày. Các trường hợp có nghi vấn sẽ được điều tra riêng. Nếu phát hiện có gian lận thì xử lý theo pháp luật hiện hành, kể cả áp dụng biện pháp trừng phạt đối với những đối tác đã cố tình gian lận xuất xứ.

3. Vấn đề C/O của nước này nhưng lại xác nhận hàng hoá có xuất xứ từ nước khác:

Trong thực tiễn thương mại quốc tế có nhiều trường hợp mà nước lại xứ (nơi hàng hoá chỉ đi qua, tập kết, chuyển tải, chia lô hoặc thực hiện một số thao tác giản đơn như tái chế bao bì) cấp C/O xác nhận hàng hoá có xuất xứ từ một nước thứ ba. Bộ Thương mại đề nghị Tổng cục Hải quan chỉ đạo hải quan các địa phương coi C/O loại này là hợp lệ và áp thuế cho hàng hoá theo xuất xứ ghi trên C/O đó, kể cả các trường hợp không kèm theo bản sao C/O của nước xuất xứ.

4. Vấn đề C/O của khu chế xuất:

Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 264-TTg ngày 24-4-1997 giao Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam uỷ quyền cho các Ban quản lý khu công nghiệp và khu chế xuất cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) cho hàng hoá của khu chế xuất và doanh nghiệp chế xuất. Bộ Thương mại cũng đã uỷ quyền cho các Ban Quản lý khu công nghiệp và khu chế xuất cấp tỉnh cấp C/O mẫu D. Như vậy, về nguyên tắc, có thể áp dụng các quy định về C/O cho hàng hoá của khu chế xuất và doanh nghiệp chế xuất bán trên thị trường nội địa. Tuy nhiên, cần có một số điều chỉnh nhỏ cho phù hợp với thực tiễn quản lý. Về vấn đề này, Bộ Thương mại sẽ có công văn gửi Bộ Tài chính để Bộ Tài chính có hướng dẫn phù hợp.

5. Vấn đề C/O cấp sau ngày vận đơn:

C/O cấp sau ngày vận đơn là một thực tiễn phổ biến trong thương mại quốc tế, là quán lệ thương mại được tất cả các nước chấp nhận. Tại Việt Nam, thực tiễn này có thể thấy rõ qua việc cấp C/O cho cà phê xuất khẩu (tuyệt đại đa số là cấp sau). Có trường hợp C/O loại này được đóng dấu RETROACTIVELY, có trường hợp không, nhưng nhìn chung đều được chấp nhận. Vì lý do đó, Bộ Thương mại đề nghị Tổng cục Hải quan chỉ đạo hải quan các địa phương chấp nhận C/O do người nhập khẩu xuất trình bất kể thời điểm cấp C/O là trước, trong hay sau ngày vận đơn với điều kiện C/O phải được xuất trình trong khoản thời gian đã quy định tại Thông tư liên bộ số 280-TCHQ/GSQL và Thông tư số 01/1999/TT-BTM của Bộ Thương mại.

6. Các trường hợp không có C/O hoặc không thể có C/O:

Hàng nhập khẩu theo đường phi mậu dịch hoặc thương mại biên giới nhiều khi không có được C/O theo quy định của Nhà nước. Để xử lý vấn đề này, Bộ Thương mại đã có Công văn số 356-TM/XNK ngày 21-01-1999 trao đổi ý kiến với Tổng cục Hải quan. Đề nghị Tổng cục Hải quan nghiên cứu và cho phép tạm thời thực hiện theo hướng đã trình bày trong công văn đó.

Hàng đã qua sử dụng cũng là đối tượng khó xin được C/O. Tuy nhiên, vấn đề này đã được quy định trong Thông tư liên bộ số 280-TCHQ/GSQL nên đề nghị Tổng cục Hải quan chỉ đạo hải quan các địa phương trước mắt thực hiện theo quy định của Thông tư số 280-TCHQ/GSQL.

Ngoài hai trường hợp trên còn một số trường hợp không thể lấy được C/O do tính đặc thù của hàng hoá giao dịch hoặc phương thức giao hàng (như phụ tùng máy bay). Do đây chỉ là một số trường hợp đơn lẻ nên đề nghị Tổng cục Hải quan chỉ đạo hải quan các địa phương vận dụng khổ 2 khoản b, mục 2, Phần I Thông tư liên bộ số 280-TCHQ/GSQL để xử lý. Những trường hợp phức tạp thì hải quan cửa khẩu tạm thời thu thuế theo thuế suất ưu đãi và báo cáo Tổng cục trực tiếp xử lý.

7. Vấn đề C/O chỉ xác nhận hàng có xuất xứ từ EU mà không nói rõ nước nào trong EU:

Danh mục các nước đã có thoả thuận về đối xử tối huệ quốc trong hệ thương mại với Việt Nam ban hành kèm theo Công văn 7280/1998/TM-PC ngày 31-12-1998 của Bộ Thương mại, sau mục 41, đã chỉ rõ "EU gồm". Như vậy, Cộng đồng Châu Âu đã có trong danh mục của Bộ Thương mại. Đề nghị Tổng cục Hải quan giải thích điểm này với hải quan các cửa khẩu và yêu cầu tính thuế nhập khẩu ưu đãi cho các chủ hàng xuất trình được C/O xác nhận hàng hoá có xuất xứ EU dù C/O không nêu rõ nước nào trong khối EU.

Trên đây là một số ý kiến của Bộ Thương mại có liên quan đến C/O hàng hoá nhập khẩu, xin gửi Tổng cục Hải quan nghiên cứu và mong nhận được sự phối hợp chỉ đạo của quý Tổng cục.

Xem nội dung VB
Luật này được hướng dẫn thi hành bởi Công văn 0427/TM-XNK năm 1999
- Địa điểm làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa theo quy định tại Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 4908/TCHQ-GSQL năm 1998

Thực hiện khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được Quốc hội thông qua ngày 20-5-1998 và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 1483/CP-KTTH ngày 15-12-1998 về việc thành lập địa điểm làm thủ tục thông qua hàng hoá xuất nhập khẩu bên ngoài cửa khẩu, Tổng cục Hải quan hướng dẫn tổ chức, thực hiện như sau:

1. Địa điểm thông quan bên ngoài cửa khẩu nêu tại Công văn 1483 của Chính phủ được hiểu là địa điểm để làm thủ tục Hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu kinh doanh (có thể xuất nhập khẩu) theo hợp đồng thương mại, được thành lập nhằm tránh ùn tắc tại cửa khẩu. Như vậy, hàng hoá xuất nhập khẩu kinh doanh có thuế theo hợp đồng thương mại chủ yếu làm thủ tục Hải quan ở cửa khẩu xuất cuối cùng và cửa khẩu nhập đầu tiên. Tại địa điểm thông quan bên ngoài cửa khẩu nói tại điểm này, phải có tổ chức Hải quan hoạt động như một đơn vị hải quan cửa khẩu; việc thành lập tổ chức hải quan tại các điểm này, Cục hải quan tỉnh, thành phố phải xem xét thực tế, có đề án về tổ chức, biên chế, chức năng, nhiệm vụ cụ thể, báo cáo Tổng Cục quyết định.

2. Thành lập thí điểm 4 điểm thông quan bên ngoài cửa khẩu (dưới đây gọi là điểm thông quan) theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 1483/CP-KTTH ngày 15-12-1998, Tổng cục Hải quan quyết định các địa điểm sau:

2.1. Tại 55 đường Láng - TP. Hà Nội.

2.2. Tại sân bay Phú Bài, gần quốc lộ 1A, tỉnh Thừa Thiên Huế

2.3. Tại thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

2.4. Tại 46 A quốc lộ 51A tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Cục Hải quan tỉnh, thành phố báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố biết và hướng dẫn doanh nghiệp kinh doanh địa điểm thông quan chuẩn bị kho bãi có đủ điều kiện như quy định về kho bãi ICD tại Quy chế hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khu qua ICD ban hàng kèm theo Quyết định số 27/TCHQ-GSQL ngày 08-4-1996 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.

Trong khi chờ đợi Tổng cục Hải quan ban hành quy chế hoạt động của các địa điểm thông quan, thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu tại địa điểm thông quan thực hiện theo đúng quy trình hiện hành; hàng hoá xuất/nhập khẩu di chuyển giữa địa điểm thông quan với cửa khẩu xuất nhập thực hiện theo quy chế về hàng hóa xuất nhập khẩu được phép chuyển tiếp.

3. Các địa điểm sau đây vẫn hoạt động bình thường theo quyết định cho phép hoạt động của Tổng cục Hải quan:

3.1. Các địa điểm thông quan tại các khu công nghiệp thuộc tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Dương.

3.2. Các điểm thông quan thuộc các nơi thu gom hàng lẻ xuất khẩu (CFS) ở Sóng Thần (Bình Dương), thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hải Phòng.

3.3. Điểm thông quan tại thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

3.4. Điểm thông quan hàng hoá xuất nhập khẩu qua đường hàng không tại 100 Nguyễn Văn Cừ, Gia Lâm - Hà Nội.

3.5. Điểm thông quan hàng hoá PMD và hàng triển lãm, quảng cáo tại Giảng Võ Hà Nội.

3.6. Điểm thông quan hàng hoá PMD tại Vạn Mỹ, Hải phòng

3.7. Các trạm thăm quan của các tỉnh mới chia tách, được Tổng cục Hải quan quyết định thành lập để phục vụ cho các hoạt động xuất nhập khẩu về hàng đầu tư, gia công, nhập nguyên liệu làm hàng xuất khẩu.

Ngoài các địa điểm nêu trên, Cục Hải quan các tỉnh Nghệ An, Đồng Tháp có thể xem xét, trình lãnh đạo Tổng cục quyết định thành lập các địa điểm thông quan cho hàng hoá xuất nhập khẩu không có thuế tại địa bàn do Cục Hải quan tỉnh quản lý.

4. Các ICD Phước Long - Thủ Đức - thành phố Hồ Chí Minh và ICD Gia Thuỵ - Gia Lâm - Hà Nội vẫn được làm thủ tục đối với các loại hàng hoá xuất nhập khẩu theo yêu cầu của chủ hàng như lâu nay đã và đang làm theo quy chế hiện hành của Tổng cục Hải quan.

Tổng cục Hải quan sẽ tiến hành kiểm tra lại các địa điểm thông quan nói tại điểm 3, điểm 4 này để báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho ý kiến chỉ đạo trấn chỉnh cho phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

5. Hàng hoá xuất khẩu thuộc loại không có thuế; hàng hoá, thiết bị đồng bộ nhập khẩu để phục vụ các công trình trọng điểm, nguyên phụ liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu và sản xuất hàng tiêu thụ trong nước; hàng gia công; hàng đầu tư liên doanh; hàng thuộc nguồn vốn ODA; hàng có yêu cầu bảo quản đặc biệt (như hàng tươi sống hàng cần bảo vệ ở nhiệt động thích hợp, thuốc chữa bệnh cho người, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, vacxin, huyết thanh) nếu chủ hàng có yêu cầu thì được làm thủ tục hải quan và kiểm hoá tại các nhà máy, xí nghiệp, công trình, kho chuyên dụng theo từng lô/chuyến hàng và sẽ được hoàn thành thủ tục ngay sau khi hàng được chuyền đến, không để gián đoạn thời gian.

Yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh, thành phố có liên quan tổ chức thực hiện. Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh vướng mắc, báo cáo về Tổng cục để có chỉ đạo.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 3 Nghị định 94/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)

Nghị định 94/1998/NĐ-CP Hướng dẫn Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi
...
Điều 3. Kê khai nộp thuế

1. Tổ chức, cá nhân mỗi lần có hàng hoá được phép xuất khẩu phải kê khai, nộp tờ khai hàng xuất khẩu, nộp thuế xuất khẩu cho cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục xuất khẩu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai.

2. Tổ chức, cá nhân mỗi lần có hàng hoá được phép nhập khẩu phải kê khai, nộp tờ khai hàng nhập khẩu, nộp thuế nhập khẩu cho cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai.

Đối với một số cửa khẩu có lượng hàng nhập khẩu lớn; được phép mở thêm một số địa điểm làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá và thu thuế nhập khẩu. Tổng cục Hải quan thống nhất ý kiến với Bộ Tài chính trình Chính phủ quyết định địa điểm làm thủ tục nhập khẩu được phép mở thêm.

Cơ quan Hải quan có trách nhiệm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, làm thủ tục hải quan và thu thuế theo quy định của Nghị định này.

Xem nội dung VB
Địa điểm làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa theo quy định tại Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 4908/TCHQ-GSQL năm 1998
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 3 Nghị định 94/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Điều 1 Nghị định 94/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)

Nghị định 94/1998/NĐ-CP Hướng dẫn Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi
...
Điều 1. Thuế suất thuế nhập khẩu được quy định như sau:

1. Thuế suất đối với hàng nhập khẩu gồm thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt:

a) Thuế suất ưu đãi áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước hoặc khối nước có thoả thuận về đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam.

Thuế suất ưu đãi được quy định trong Biểu thuế nhập khẩu do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành. Bộ Tài chính chủ trì cùng với Bộ Thương mại và các Bộ có liên quan căn cứ vào chính sách xuất, nhập khẩu, sự biến động về giá cả thị trường trong từng thời gian để điều chỉnh các mức thuế suất trong Biểu thuế nhập khẩu phù hợp với khung thuế suất do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định.

b) Thuế suất thông thường áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước không có thoả thuận về đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam.

Thuế suất thông thường được áp dụng thống nhất cao hơn 50% (năm mươi phần trăm) so với thuế suất ưu đãi quy định tại điểm a, mục 1 của Điều này. Đối với những trường hợp đặc biệt cần quy định cao hơn hoặc thấp hơn 50% (nhưng không quá 70% so với thuế suất ưu đãi), sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Thương mại, Bộ Tài chính quy định cho từng trường hợp cụ thể đảm bảo phù hợp với chính sách và quan hệ thương mại trong từng thời kỳ nhất định.

c) Thuế suất ưu đãi đặc biệt được áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước hoặc khối nước mà Việt Nam và nước hoặc khối nước đó đã có thoả thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu theo thể chế khu vực thương mại tự do, liên minh quan thuế hoặc để tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại biên giới.

Thuế suất ưu đãi đặc biệt được áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu có đủ các điều kiện sau đây:

- Phải là những mặt hàng được quy định cụ thể trong thoả thuận và phải đáp ứng đủ các điều kiện đã ghi trong thoả thuận.

- Phải là hàng có xuất xứ tại nước có chung đường biên giới hoặc tại nước thuộc khối nước mà Việt Nam tham gia về thuế theo thoả thuận.

Bộ Thương mại hướng dẫn cụ thể về tiêu chuẩn xuất xứ hàng hoá quy định tại điểm a, b, c mục 1 của Điều này.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Điều 1 Nghị định 94/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 1 và Điều 2 Nghị định 94/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)

Nghị định 94/1998/NĐ-CP Hướng dẫn Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi
...
Điều 1. Thuế suất thuế nhập khẩu được quy định như sau:
...
2. Thuế suất bổ sung quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 9 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Luật số 04/1998/QH10 ngày 20/5/1998 sẽ có quy định riêng.

Điều 2. Hàng xuất khẩu, nhập khẩu được xét miễn thuế quy định tại khoản 2, Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 04/1998/QH10 được quy định chi tiết như sau:

1. Hàng nhập khẩu chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho an ninh, quốc phòng, nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo được miễn thuế nhập khẩu theo danh mục hàng hoá nhập khẩu do Bộ Tài chính thống nhất với các Bộ, ngành có liên quan quy định.

2. Hàng nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và của bên nước ngoài hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được miễn thuế nhập khẩu theo các quy định tại Nghị định 12/CP ngày 18 tháng 2 năm 1996 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ về một số biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và Nghị định số 62/1998/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ ban hành quy chế đầu tư theo Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh, Hợp đồng xây dựng - chuyển giao áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

3. Hàng nhập khẩu của các doanh nghiệp đầu tư trong nước theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước được miễn thuế nhập khẩu theo Điều 25 Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) ngày 20 tháng 5 năm 1998.

4. Hàng là quà biếu, quà tặng của các tổ chức, cá nhân nước ngoài cho tổ chức, cá nhân của Việt Nam và ngược lại, hàng mẫu được miễn thuế theo mức quy định của Bộ Tài chính.

Bộ Tài chính quy định thủ tục xét miễn thuế cụ thể đối với từng trường hợp quy định tại Điều này.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 1 và Điều 2 Nghị định 94/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 1 và Điều 2 Nghị định 94/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)

Nghị định 94/1998/NĐ-CP Hướng dẫn Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi
...
Điều 1. Thuế suất thuế nhập khẩu được quy định như sau:
...
2. Thuế suất bổ sung quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 9 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Luật số 04/1998/QH10 ngày 20/5/1998 sẽ có quy định riêng.

Điều 2. Hàng xuất khẩu, nhập khẩu được xét miễn thuế quy định tại khoản 2, Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 04/1998/QH10 được quy định chi tiết như sau:

1. Hàng nhập khẩu chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho an ninh, quốc phòng, nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo được miễn thuế nhập khẩu theo danh mục hàng hoá nhập khẩu do Bộ Tài chính thống nhất với các Bộ, ngành có liên quan quy định.

2. Hàng nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và của bên nước ngoài hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được miễn thuế nhập khẩu theo các quy định tại Nghị định 12/CP ngày 18 tháng 2 năm 1996 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ về một số biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và Nghị định số 62/1998/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ ban hành quy chế đầu tư theo Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh, Hợp đồng xây dựng - chuyển giao áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

3. Hàng nhập khẩu của các doanh nghiệp đầu tư trong nước theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước được miễn thuế nhập khẩu theo Điều 25 Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) ngày 20 tháng 5 năm 1998.

4. Hàng là quà biếu, quà tặng của các tổ chức, cá nhân nước ngoài cho tổ chức, cá nhân của Việt Nam và ngược lại, hàng mẫu được miễn thuế theo mức quy định của Bộ Tài chính.

Bộ Tài chính quy định thủ tục xét miễn thuế cụ thể đối với từng trường hợp quy định tại Điều này.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 1 và Điều 2 Nghị định 94/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 94/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)

Nghị định 94/1998/NĐ-CP Hướng dẫn Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi
...
Điều 4. Kiểm hoá, tính thuế và thời hạn nộp thuế:

1. Thời điểm tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là ngày mà tổ chức, cá nhân đăng ký tờ khai hàng xuất khẩu, nhập khẩu với cơ quan Hải quan. Thuế được tính theo thuế suất và giá tính thuế tại ngày đăng ký tờ khai hàng xuất khẩu, nhập khẩu.

2. Trong thời hạn tám (8) giờ làm việc, kể từ khi tiếp nhận Tờ khai hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu cơ quan Hải quan phải thông báo chính thức cho đối tượng nộp thuế số thuế phải nộp.

Đối với một số mặt hàng có số lượng nhập khẩu mỗi lần lớn (như sắt, thép, phôi thép, xi măng, clinke, xăng dầu, phân bón ) và những mặt hàng bắt buộc phải có giám định tiêu chuẩn chất lượng theo quy định của Chính phủ trước khi được phép lưu thông trên thị trường Việt Nam, thì thời hạn thông báo thuế được kéo dài nhưng không quá 3 ngày làm việc do Tổng cục Hải quan quy định cụ thể.

Đối với những mặt hàng bắt buộc phải có giám định tiêu chuẩn kỹ thuật mới xác định được mã số theo danh mục Biểu thuế, tình trạng cũ, mới của hàng hoá để đảm bảo chính xác cho việc tính thuế, thì thời hạn thông báo thuế được kéo dài quá 3 ngày, nhưng không quá 15 ngày làm việc.

Cơ quan giám định, cơ quan kiểm tra chất lượng Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo hoàn thành thời gian giám định, kiểm tra chất lượng đối với các mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu để cơ quan Hải quan thông báo thuế cho đối tượng nộp thuế.

Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp với Bộ Thương mại, Bộ Tài chính quy định cụ thể các cơ quan có thẩm quyền giám định, kiểm tra chất lượng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và quy định cơ quan quyết định cuối cùng trong trường hợp có khiếu nại.

3. Thời hạn nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được quy định như sau:

a) Đối với hàng xuất khẩu là mười lăm (15) ngày, kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo chính thức của cơ quan Hải quan về số thuế phải nộp.

b) Đối với hàng là vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu là chín (9) tháng kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo chính thức của cơ quan Hải quan về số thuế phải nộp.

Đối với các trường hợp đặc biệt do chu kỳ sản xuất, dự trữ vật tư, nguyên liệu của các doanh nghiệp phải kéo dài hơn như đóng tàu, thuyền, chế tạo máy móc, thiết bị cơ khí thì thời hạn nộp thuế có thể được gia hạn phù hợp với chu kỳ sản xuất, dự trữ vật tư, nguyên liệu do Bộ Tài chính quyết định từng trường hợp cụ thể.

Trường hợp đã thực xuất khẩu hàng hoá được sản xuất bằng vật tư, nguyên liệu nhập khẩu trong thời hạn nộp thuế quy định trên thì không phải nộp thuế nhập khẩu tương ứng với số hàng xuất khẩu. Nếu xuất khẩu hàng hoá ngoài thời hạn nộp thuế quy định thì đối tượng phải nộp thuế theo đúng quy định.

Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu phải đăng ký với cơ quan Hải quan hàng hoá là vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu. Trường hợp các doanh nghiệp đã đăng ký và được áp dụng thời hạn nộp thuế theo quy định của khoản này, nhưng tiêu thụ tại Việt Nam thì bị xử lý vi phạm theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này.

Bộ Tài chính quy định cụ thể điều kiện được áp dụng thời hạn nộp thuế và trường hợp bị xử lý vi phạm quy định tại khoản này.

c) Đối với hàng kinh doanh tạm xuất, tái nhập hoặc tạm nhập, tái xuất là mười lăm (15) ngày kể từ ngày hết thời hạn cho phép tạm xuất, tái nhập hoặc tạm nhập, tái xuất.

Trường hợp thực tái nhập (đối với hàng tạm xuất tái nhập) hoặc thực tái xuất (đối với hàng tạm nhập tái xuất) trong thời hạn nộp thuế quy định thì không phải nộp thuế xuất khẩu hoặc thuế nhập khẩu tương ứng với số hàng tạm nhập hoặc tái xuất.

Bộ Thương mại quy định chung về thời hạn tạm nhập tái xuất và tạm xuất tái nhập.

Đối với các hình thức tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập khác không phải là hình thức kinh doanh theo quy định của Bộ Thương mại thì thời hạn nộp thuế thực hiện theo điểm a, d, đ khoản này.

d) Đối với hàng là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phương tiện vận tải nhập khẩu để phục vụ trực tiếp cho sản xuất của doanh nghiệp là ba mươi (30) ngày, kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo chính thức của cơ quan Hải quan về số thuế phải nộp.

đ) Đối với hàng tiêu dùng nhập khẩu thì phải nộp xong thuế trước khi nhận hàng. Trong trường hợp có sự bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp của các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác được phép thực hiện một số hoạt động Ngân hàngtheo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, thì thời hạn nộp thuế là ba mươi (30) ngày, kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo chính thức của cơ quan thu thuế về số thuế phải nộp. Bộ Thương mại chủ trì cùng với các Bộ có liên quan để quy định danh mục hàng tiêu dùng nhập khẩu quy định tại điểm này.

Quá thời hạn nộp thuế nêu trên mà đối tượng nộp thuế chưa nộp thì tổ chức bảo lãnh phải có trách nhiệm nộp thay cho đối tượng nộp thuế số tiền thuế đó.

Việc bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp cho đối tượng nộp thuế, quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng thực hiện bảo lãnh, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được bảo lãnh thực hiện theo Điều 58, 59, 60 Luật Các tổ chức tín dụng ngày 12 tháng 12 năm 1997.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 94/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị định 94/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)

Nghị định 94/1998/NĐ-CP Hướng dẫn Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi
...
Điều 5. Đối tượng nộp thuế vi phạm Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì tuỳ theo từng hành vi và mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định tại khoản 5, Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 04/1998/QH10 ngày 20 tháng 5 năm 1998 và các văn bản pháp luật khác về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị định 94/1998/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/01/2006)
Bản Tiếng Anh (English)
Văn bản gốc
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 04/1998/QH10   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Nông Đức Mạnh
Ngày ban hành: 20/05/1998   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 31/07/1998   Số công báo: Số 21
Lĩnh vực: Thuế, phí, lệ phí   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi 1998

339

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
41680