• Lưu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12
 

Pháp lệnh Đê điều năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành

Tải về Pháp lệnh Đê điều năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành
Bản Tiếng Việt

HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 26-LCT/HĐNN8

Hà Nội, ngày 09 tháng 11 năm 1989

 

PHÁP LỆNH

VỀ ĐÊ ĐIỀU CỦA HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC SỐ 26-LCT/HĐNN8 NGÀY 09/11/1989

Đê điều là công trình quan trọng được nhân dân ta xây dựng, giữ gìn, tu bổ qua nhiều thế hệ nhằm ngăn nước lũ, nước biển, bảo vệ tính mạng của nhân dân, bảo vệ sản xuất, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể và của cá nhân.
Để nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân trong việc xây dựng, tu bổ, bảo vệ, sử dụng và hộ đê;
Căn cứ vào Điều 19 và Điều 100 của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Pháp lệnh này quy định chế độ quản lý và sử dụng đê điều.

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

"Đê điều" nói trong Pháp lệnh này bao gồm:

1- Các loại đê ngăn nước lũ, nước biển hiện có hoặc xây dựng mới được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch;

2- Cống và các công trình xây dựng trong phạm vi bảo vệ đê có liên quan đến an toàn của đê;

3- Các loại kè được xây dựng nhằm mục đích bảo vệ đê.

Điều 2

Nhà nước thống nhất quản lý các loại đề điều được xây dựng bằng bất cứ nguồn vốn nào.

Điều 3

Đê được phân thành các cấp khác nhau tuỳ theo tính chất và tầm quan trọng của từng tuyến đê.

Hội đồng bộ trưởng quy định tiêu chuẩn cấp đê; phạm vi bảo vệ đê điều.

Điều 4

Chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân (gọi chung là tổ chức) và cá nhân có nghĩa vụ xây dựng, tu bổ, bảo vệ và hộ đê.

Nghiêm cấm mọi hành vi phá hoại, gây tổn hại cho đê điều.

Chương 2:

XÂY DỰNG VÀ TU BỔ ĐÊ ĐIỀU

Điều 5

Việc xây dựng mới hoặc tu bổ đê, kè, cống phải theo quy hoạch chung về ngăn nước lũ, nước biển được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và phải theo đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật và bảo vệ đê điều.

Điều 6

Việc xây dựng, tu bổ đê điều trước mùa lũ, bão được ưu tiên sử dụng lao động công ích theo quy định của Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích.

Uỷ ban nhân dân tỉnh và đơn vị hành chính tương đương cân đối, điều hoà quỹ ngày công lao động công ích hằng năm cho việc xây dựng, tu bổ đê điều trong địa phương mình.

Hội đồng bộ trưởng điều hoà quỹ ngày công lao động công ích hằng năm cho việc xây dựng, tu bổ đê điều trong cả nước.

Điều 7

Kinh phí xây dựng, tu bổ đê điều được Nhà nước ưu tiên đầu tư.

Hội đồng bộ trưởng quy định mức đầu tư xây dựng, tu bổ đê điều cho các cấp đê khác nhau.

Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp lao động, tiền của, tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào việc xây dựng, tu bổ đê điều.

Chương 3:

BẢO VỆ VÀ SỬ DỤNG ĐÊ ĐIỀU

Điều 8

Các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ bảo vệ đê điều.

Người nào phát hiện hành vi gây tổn hại hoặc đe doạ đến an toàn của đê điều, những hư hại đê điều do thiên tai gây ra phải kịp thời ngăn chặn và báo ngay cho chính quyền địa phương hoặc nhân viên quản lý đê.

Điều 9

Cấm kích, chèn, đóng, mở cửa cống trái phép; cuốc, rãy cỏ; chất đống rơm rạ, củi rác ở đê và mọi hành vi khác làm tổn hại đến an toàn của đê điều hoặc gây trở ngại cho việc kiểm tra đê điều và hộ đê.

Điều 10

Cấm khoan, đào, bới, lấy đất, đá, khai thác tài nguyên khoáng sản, vật liệu xây dựng và nạo vét luồng lạch trong phạm vi bảo vệ đê điều.

Điều 11

Cấm xây dựng mới, mở rộng các loại công trình trong phạm vi bảo vệ đê điều và các công trình khác ở lòng sông gây mất an toàn cho đê điều hoặc ảnh hưởng đến việc thoát lũ nhanh.

Điều 12

Cấm nổ phá gây nguy hại đến an toàn của đê điều.

Điều 13

Cấm sử dụng đê, kè, cống làm nơi neo đậu tàu thuyền, bè mảng; bốc dỡ, chất tải hàng hoá, vật liệu; các hoạt động giao thông gây mất an toàn cho đê điều.

Điều 14

Cấm xe cơ giới đi trên những đoạn đê không kết hợp làm đường giao thông, trừ xe hộ đê, xe cứu thương, xe cứu hoả làm nhiệm vụ và xe quân sự, xe công an có lệnh khẩn cấp; những xe này không được vượt quá tải trọng cho phép của đê và cống dưới đê.

Điều 15

Trong trường hợp cần tiến hành một hoặc những công việc quy định tại các Điều 10, 11, 12, 13, 14 của Pháp lệnh này thì phải được phép của Bộ thuỷ lợi hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Điều 16

Các hoạt động giao thông, khai thác rừng đầu nguồn có liên quan đến an toàn của đê diều và thoát lũ của lòng sông do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Trách nhiệm bảo dưỡng, sửa chữa mặt đê kết hợp làm đường giao thông do cơ quan quản lý đoạn đường đó đảm nhiệm và phải theo tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ đê điều.

Điều 17

Mặt đê, mái đê và cơ đê chỉ được trồng cỏ chống xói mòn.

Đất trong phạm vi bảo vệ đê chỉ được sử dụng trồng cây chống sóng, lúa và cây ngắn ngày.

Việc khai thác cây chống sóng phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép.

Điều 18

Việc xây dựng, sử dụng các công trình không thuộc phạm vi bảo vệ đê điều, nhưng có liên quan tới an toàn của đê điều, phải được sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi; trong trường hợp không có sự đồng ý thì chủ công trình xây dựng có quyền kiến nghị lên Hội đồng bộ trưởng.

Điều 19

Việc bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh trong phạm vi bảo vệ đê điều thực hiện theo quy định của Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh, đồng thời phải phù hợp với những quy định của Pháp lệnh này trong việc bảo đảm an toàn cho đê điều.

Hội đồng bộ trưởng quy định việc xử lý đối với nhà cửa và các công trình khác đã xây dựng trước ngày ban hành Pháp lệnh này trong phạm vi bảo vệ đê điều và thoát lũ của lòng sông.

Điều 20

Bộ Thuỷ lợi quy định thống nhất mẫu các loại biển báo về đê điều; quản lý và phát hành giấy phép sử dụng đê điều trong phạm vi cả nước.

Chương 4:

HỘ ĐÊ

Điều 21

Hộ đê phải được tiến hành thường xuyên trong mùa lũ, bão và phải cứu hộ kịp thời khi đê điều bị lũ, bão uy hiếp hoặc có nguy cơ bị uy hiếp.

Việc cứu hộ các công trình bảo vệ đê điều, công trình liên quan đến an toàn của đê, cống, đập của các hồ chứa nước lớn có nguy cơ gây lũ, lụt đều được coi như cứu hộ đê.

Điều 22

Uỷ ban nhân dân các cấp có nhiệm vụ tổ chức, thực hiện việc hộ đê thuộc địa phương mình và chịu trách nhiệm về việc bảo đảm an toàn của đê theo tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ đê điều; tổ chức thực hiện lệnh cứu hộ đê cho địa phương khác.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh và đơn vị hành chính tương đương có trách nhiệm chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các phương án hộ đê trong địa phương mình.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện và đơn vị hành chính tương đương có trách nhiệm lập và thực hiện các phương án hộ đê phù hợp với nhiệm vụ và hiện trạng đê điều trong địa phương mình.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã và đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ tổ chức thực hiện phương án hộ đê trong địa phương mình.

Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có công trình chuyên dùng nói tại khoản 2, Điều 21 của Pháp lệnh này có trách nhiệm lập và thực hiện phương án cứu hộ công trình do mình quản lý.

Điều 23

Phân lũ là biện pháp đặc biệt để hộ đê. Hội đồng bộ trưởng quy định chính sách đối vùng bị ngập lụt do phân lũ gây ra.

Việc phân lũ có ảnh hưởng tới 2 tỉnh trở lên do Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng quyết định.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh và đơn vị hành chính tương đương quyết định việc phân lũ trong phạm vi địa phương mình.

Điều 24

Trong trường hợp khẩn cấp, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có quyền huy động nhân lực, trưng dụng vật tư, phương tiện, dụng cụ và các tài sản khác để cứu hộ đê điều theo quy định của Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích; quyết định việc di chuyển dân để bảo đảm an toàn.

Chương 5:

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÊ ĐIỀU

Điều 25

Hội đồng bộ trưởng thực hiện quyền quản lý Nhà nước đối với hệ thống đê điều trong cả nước; xác định phương hướng quy hoạch phát triển đê diều; quy định tiêu chuẩn cấp đê; quyết định mức đầu tư cho đê điều; ban hành các chế độ chính sách về đê điều; kiểm tra, thanh tra việc quản lý, sử dụng đê điều và hộ đê của các cấp, các ngành.

Điều 26

Bộ Thuỷ lợi có nhiệm vụ quản lý việc lập và thực hiện quy hoạch đê điều; quy hoạch phân lũ; quản lý kỹ thuật đê điều; kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các cấp, các ngành trong việc thực hiện các chế độ chính sách, các quy định kỹ thuật về bảo vệ đê điều.

Điều 27

Ban chỉ đạo phòng, chống lụt, bão trung ương do Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng lập ra, có nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác phòng, chống lụt, bão, chỉ đạo xử lý các tình huống và hậu quả do lũ, bão gây ra trong cả nước.

Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão các cấp ở địa phương do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp lập ra, có nhiệm vụ tổ chức, kiểm tra, thực hiện các phương án phòng chống lụt, bão, chỉ đạo công tác hộ đê và xử lý các hậu quả do lũ, bão gây ra trong địa phương mình.

Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão của ngành do Thủ trưởng ngành lập ra, có nhiệm vụ thực hiện việc phòng chống lụt, bão của ngành.

Điều 28

Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh và đơn vị hành chính tương đương chịu trách nhiệm trong việc bảo đảm an toàn cho đê điều trong địa phương mình theo tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ đê điều; lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch xây dựng và tu bổ đê điều; quản lý đê điều và hộ đê trong địa phương mình.

Điều 29

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện, phường, xã, thị trấn có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc xây dựng, tu bổ, quản lý và hộ đê trong địa phương mình.

Điều 30

Lực lượng chuyên trách quản lý đê thuộc biên chế Nhà nước, do Uỷ ban nhân dân tỉnh, đơn vị hành chính tương đương quản lý sử dụng.

Hội đồng bộ trưởng quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của lực lượng chuyên trách quản lý đê.

Chương 6:

KHEN THƯỞNG, XỬ PHẠT

Điều 31

Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc xây dựng, tu bổ, bảo vệ và hộ đê được khen thưởng về tinh thần và vật chất theo quy định chung.

Điều 32

Người nào phá hoại đê điều, khoan, đào, xẻ, sử dụng đê điều trái phép hoặc vi phạm các quy định khác của Pháp lệnh này thì tuỳ theo mức độ và tính chất của hành vi mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Chương 7:

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 33

Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.

Điều 34

Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.

 

 

Võ Chí Công

(Đã ký)

 

- Điều này được hướng dẫn bởi Quyết định 398-HĐBT năm 1990 (VB hết hiệu lực: 04/07/2005)

Căn cứ Pháp lệnh về đề điều ngày 9 tháng 11 năm 1989;
...
Điều 1. Đội chuyên trách quản lý đê điều có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm như sau:

Chức năng:

Trực tiếp quản lý, bảo vệ các tuyến đê từ cấp III đến cấp đặc biệt.

Nhiệm vụ:

1- Lập và thường xuyên hoàn thiện hồ sơ, lý lịch của đê, kè, cống thuộc phạm vi đội quản lý; tham mưu cho chính quyền và ngành thuỷ lợi về quản lý, sử dụng và phát huy hiệu quả công trình trong việc ngăn lũ, phòng lụt, ngăn mặn...

2- Kiểm tra, giám sát việc thi hành Pháp lệnh về đề điều thuộc phạm vi đội được phân công trực tiếp quản lý.

3- Phát hiện kịp thời các hư hỏng của đê, kè, cống và diễn biến của dòng chảy, bãi bồi, bờ sông, bờ biển; đề xuất biện pháp và kế hoạch sửa chữa các hư hỏng của đê, kè, cống trong mùa mưa lũ, bão; tham mưu cho chính quyền và Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão của huyện, tỉnh trong công tác tổ chức hộ đê thuộc phạm vi trách nhiệm của đơn vị mình.

4- Chủ động đề xuất kế hoạch tu bổ đê điều hàng năm, cùng Ban quản lý công trình đê điều quản lý việc thực hiện kế hoạch tu bổ đê điều đã được duyệt.

5- Trực tiếp quản lý những cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác quản lý đê điều, phòng, chống lụt, bão do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố giao.

Quyền hạn:

1- Đội là thành viên chính thức trong Hội đồng nghiệm thu các hạng mục xây dựng, tu bổ đê, kè, cống thuộc phạm vi tuyến đê mà đội có trách nhiệm quản lý.

2- Được kiểm tra, ngăn chặn các hoạt động có liên quan đến an toàn của đê điều mà không có giấy phép hoặc làm trái với giấy phép.

3- Đội có quyền lập biên bản, thu giữ tang vật đối với những tổ chức và cá nhân vi phạm Pháp lệnh về đề điều để chuyển giao cho các cơ quan có chức năng xử lý.

Trách nhiệm:

Đội chịu trách nhiệm hoặc liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật trong các trường hợp thiếu kiểm tra, giám sát để làm sai đồ án kỹ thuật tu bổ đê, kè, cống; do không phát hiện kịp thời để đê điều xảy ra hư hỏng nghiêm trọng hoặc báo cáo chậm trễ, báo cáo không trung thực, không đề xuất kịp thời các biện pháp xử lý những hư hỏng của đê điều dẫn đến thiện hại nghiêm trọng cho nhân dân, cho Nhà nước.

Điều 2. Quỹ tiền lương và kinh phí bảo đảm cho các hoạt động của đội chuyên trách quản lý đê thuộc kinh phí sự nghiệp phòng, chống lụt, bão do ngân sách tỉnh, thành phố cấp.

Ban Tổ chức - cán bộ của Chính phủ, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ tài chính lập kế hoạch ngân sách hàng năm cho các tỉnh, thành phố phải tính đủ quỹ lương cho các đội chuyên trách quản lý đề điều đã có.

Điều 3. Bộ Thuỷ lợi có trách nhiệm chuyển giao các đội chuyên trách quản lý đê hiện có cho Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đồng thời chuyển giao toàn bộ các cơ sở vật chất mà các đội đã được trang bị. Việc chuyển giao phải hoàn thành trong năm 1990.

Bộ Thuỷ lợi và Bộ Lao động - Thương binh và xã hội có trách nhiệm nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng này.

Điều 4. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố có đê chịu trách nhiệm tiếp nhận các đội chuyên trách quản lý đê điều, cơ sở vật chất mà Bộ Thuỷ lợi bàn giao, nhanh chóng kiện toàn tổ chức, bố trí biên chế theo đúng định mức, lựa chọn cán bộ có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và có tinh thần trách nhiệm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đội.

Điều 5. Các tuyến đê dưới cấp III, địa phương tổ chức lực lượng quản lý đê nhân dân không thuộc biên chế Nhà nước. Riêng đê chuyên dùng của ngành nào cơ sở nào do ngành đó, cơ sở đó tổ chức bảo vệ.

Điều 6. Bộ Thuỷ lợi có trách nhiệm phối hợp với các Bộ lao động - Thương binh và xã hội, Bộ Tài chính, ban Tổ chức - cán bộ của Chính phủ hướng dẫn thi hành Quyết định này.

Điều 7. Quyết định này thay thế Quyết định số 90-CP ngày 8 tháng 5 năm 1971 về việc tổ chức đội quản lý đê và có hiệu lực từ ngày ký.

Điều 8. Bộ trưởng các Bộ Thuỷ lợi, Lao động - Thương binh và xã hội, Tài chính, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ trưởng - Trưởng ban Ban Tổ chức - cán bộ của Chính phủ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố có đê chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Quyết định 398-HĐBT năm 1990 (VB hết hiệu lực: 04/07/2005)
- Điều này được hướng dẫn bởi Nghị định 168-HĐBT năm 1990 (VB hết hiệu lực: 20/04/2010)

Căn cứ Pháp lệnh về đê điều ban hành kèm theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước số 26-LCT/HĐNN8 ngày 16-11-1989;
...
Điều 1. Nay thành lập:

Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương.

Ban Chỉ huy phòng, chống lụt, bão các cấp ở địa phương.

Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, Tổng cục.

Điều 2. Thành phần của Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương gồm:

Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi làm Trưởng ban.

Một Thứ trưởng Bộ Thuỷ lợi làm Phó trưởng ban thường trực.

Một Phó chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng làm Phó trưởng ban.

Một Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam là Phó trưởng ban.

Các đại diện (cấp phó) của các Bộ: Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Lâm nghiệp, Thuỷ sản, Giao thông vận tải và Bưu điện, Năng lượng, Xây dựng, Thương nghiệp, Nội vụ, Y tế, Tài chính, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Uỷ ban Khoa học Nhà nước và Tổng cục Khí tượng thuỷ văn làm Uỷ viên

Điều 3. Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương có nhiệm vụ giúp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng:

Đôn đốc, kiểm tra các ngành, các địa phương lập và thực hiện các phương án, kế hoạch công tác phòng, chóng lụt, bão hàng năm.

Ra lệnh điều động nhân lực, phương tiện v.v... để ứng cứu kịp thời những tình huống cấp bách vượt quá khả năng xử lý của ngành và địa phương.

Chỉ đạo các địa phương tổ chức khắc phục hậu quả do lũ bão gây ra.

Tổ chức tổng kết công tác phòng, chống lụt, bão, phổ biến các kinh nghiệm và các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công tác phòng chống lụt, bão cho các địa phương, các ngành.

Ban có Văn phòng (sử dụng cán bộ của Bộ Thuỷ lợi kiêm nhiệm), có con dấu, được cấp kinh phí hoạt động tính vào kinh phí cấp cho Bộ Thuỷ lợi theo kế hoạch hàng năm.

Điều 4.

Ban Chỉ huy phòng, chống lụt, bão các cấp tỉnh, huyện, xã và tương đương do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp lập ra. Thành phần của Ban gồm: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân làm Trưởng ban, Trưởng ngành thuỷ lợi làm Phó ban thường trực, các Uỷ viên là Trưởng hoặc Phó các ngành có liên quan đến công tác phòng, chống lụt, bão của địa phương. Trụ sở của Ban đặt tại cơ quan thuỷ lợi. Kinh phí hoạt động của Ban do ngân sách tỉnh cấp, tính trong kinh phí cấp cho ngành thuỷ lợi.

Ban Chỉ huy phòng, chống lụt, bão các cấp có nhiệm vụ giúp Uỷ ban nhân dân cấp mình xây dựng và chi đạo thực hiện các phương án phòng, chống lụt, bão trong phạm vi địa bàn lãnh thổ; tổ chức hộ đê và phòng, chống lụt, bão, bảo vệ các khu vực kinh tế, dân cư trong địa phương; khắc phục hậu quả do lũ, bão gây ra.

Điều 5. Ban Chỉ huy phòng, chống lụt, bão các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, Tổng cục do Thủ trưởng Bộ, Uỷ ban Nhà nước, Tổng cục (sau đây gọi chung là Bộ), thành lập, do một đồng chí lãnh đạo Bộ làm Trưởng ban. Ban có nhiệm vụ giúp Thủ trưởng Bộ:

Xây dựng và thực hiện kế hoạch phòng, chống lụt, bão của ngành, bảo vệ các cơ sở vật chất, kỹ thuật và con người do ngành trực tiếp quản lý.

Quản lý vật tư, phương tiện dự phòng phục vụ công tác phòng, chống và khắc phục hậu quả bão, lụt theo chức năng quản lý của ngành.

Theo lệnh điều động của Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương, cung cấp kịp thời các vật tư, kỹ thuật phương tiện... do ngành quản lý để chi viện, ứng cứu kịp thời cho các tình huống đột xuất và việc khắc phục hậu quả lũ bão.

Đúc kết các kinh nghiệm phòng, tránh bão, lụt để phổ biến cho các địa phương và đơn vị ngành.

Điều 6. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành, các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Điều 7. Trưởng ban chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương, Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Nghị định 168-HĐBT năm 1990 (VB hết hiệu lực: 20/04/2010)
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Điều 2 Nghị định 429-HĐBT năm 1990 (VB hết hiệu lực: 18/01/2004)

Căn cứ Pháp lệnh về đê điều ngày 9 tháng 11 năm 1989;
...
Điều 2.

1. Tiêu chuẩn phân cấp đê:

(Xem nội dung chi tiết tại văn bản)

2. Phạm vi bảo vệ đê:

Phạm vi bảo vệ đê điều gồm thân đê, kè, cống và vùng phụ cận.

Vùng phụ cận quy định cụ thể như sau:

a/ Đối với đê sông: kể từ chân đê trở ra 20m về phía sông, 25m về phía đồng.

b/ Đối với đê biển: kể từ chân đê trở ra 100m về phía biển, 20m về phía đồng.

c/ Đối với kè: kể từ đầu kè trở ngược, cuối kè trở xuôi dọc theo bờ sông, bờ biển mỗi phía 100m, từ đỉnh kè lát mái, góc kè mỏ hàn trở vào bờ 50m và từ chân kè trở ra 20m.

d/ Đối với cống: kể từ giới hạn phần xây đúc cuối cùng trở ra mỗi phía 50m, riêng đối với cống vùng triều là 80m.

Đối với đê bối và các tuyến đê không thường xuyên trực tiếp chịu tác động của nước sông, nước biển như đê bao thành phố, thị xã, khu công nghiệp, đê biển tuyến trong thì Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương quy định cụ thể nhưng phải được Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi chấp thuận.

Trường hợp đặc biệt cần phải thay đổi phạm vi bảo vệ đê, kè, cống đã quy định tại các mục a,b,c,d của điều 2 này cho phù hợp với tình hình thực tế thì Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương báo cáo Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi xem xét và tiếp trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt, sau đó phải thông báo cho nhân dân địa phương và các cơ quan hữu quan biết.

Xem nội dung VB
Nội dung này được hướng dẫn bởi Điều 2 Nghị định 429-HĐBT năm 1990 (VB hết hiệu lực: 18/01/2004)
- Chương này được hướng dẫn bởi Chương 2 Nghị định 429-HĐBT năm 1990 (VB hết hiệu lực: 18/01/2004)

Căn cứ Pháp lệnh về đê điều ngày 9 tháng 11 năm 1989;
...
Chương 2: XÂY DỰNG VÀ TU BỔ ĐÊ ĐIỀU

Điều 3. Uỷ ban Nhân dân các tỉnh và đơn vị hành chính tương đương chịu trách nhiệm cân đối việc sử dụng hợp lý quỹ ngày công lao động công ích của địa phương mình trong đó phải ưu tiên dành đủ lao động cho các huyện (quận) hoàn thành trước mùa lũ, bão kế hoạch xây dựng, tu bổ đê điều và thực hiện công tác phòng, chống lụt, bão hàng năm.

Hàng năm, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước lập kế hoạch điều hoà quỹ ngày công lao động công ích cho việc xây dựng tu bổ đê điều trong cả nước, trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định.

Phương thức điều hoà công lao động nghĩa vụ bằng lao động trực tiếp hoặc đóng góp bằng tiền thực hiện theo Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích.

Điều 4. Việc đầu tư cho xây dựng, tu bổ đê, kè, cống đối với các cấp đê quy định như sau:

Đê từ cấp III đến cấp đặc biệt do ngân sách trung ương đầu tư. Đê dưới cấp III do ngân sách địa phương đầu tư. Đê chuyên dùng của ngành nào, cơ sở nào do chủ công trình ấy đầu tư.

Hàng năm, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước có trách nhiệm ghi chỉ tiêu khối lượng chủ yếu và kinh phi tương ứng cho việc xây dựng, tu bổ đê điều thuộc ngân sách trung ương đầu tư thành một hạng mục riêng và giao cho Bộ Thuỷ lợi quản lý, phân bổ cho từng tuyến đê của các tỉnh, thành phố có đê.

Mức đầu tư cho các đê dưới cấp III do Hội đồng Nhân dân tỉnh, hoặc đơn vị hành chính tương đương quyết định. Trường hợp đặc biệt đối với địa phương có nhiều khó khăn, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương báo cáo Bộ Thuỷ lợi, Bộ Tài chính và Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước xem xét trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định.

Các ngành Tài chính, Ngân hàng, Thương nghiệp, Xây dựng... có trách nhiệm ưu tiên cấp kinh phí kịp thời và bán đủ vật tư theo kế hoạch hàng năm để bảo đảm hoàn thành cơ bản việc tu bổ đê điều vào 6 tháng đầu năm.

Bộ Thuỷ lợi chủ trì, phối hợp với các ngành hữu quan nghiên cứu xây dựng chính sách, cơ chế thích hợp trình Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt nhằm khuyến khích tổ chức, cá nhân tự nguyện đóng góp sức lao động, tiền của, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc xây dựng, tu bổ, bảo vệ đê điều.

Xem nội dung VB
Chương này được hướng dẫn bởi Chương 2 Nghị định 429-HĐBT năm 1990 (VB hết hiệu lực: 18/01/2004)
- Chương này được hướng dẫn bởi Chương 3 Nghị định 429-HĐBT năm 1990 (VB hết hiệu lực: 18/01/2004)

Căn cứ Pháp lệnh về đê điều ngày 9 tháng 11 năm 1989;
...
Chương 3: BẢO VỆ VÀ SỬ DỤNG ĐÊ ĐIỀU

Điều 5.

1. Thẩm quyền cấp giấy phép cho các hoạt động có liên quan tới an toàn của đê và khả năng thoát lũ của lòng sông ghi ở điều 15 của Pháp lệnh về đê điều quy định như sau:

a/ Bộ Thuỷ lợi duyệt cấp giấy cho phép các hoạt động và xây dựng có liên quan tới an toàn đối với đê từ cấp III đến cấp đặc biệt và việc thoát lũ của lòng sông có ảnh hưởng từ 2 tỉnh trở lên.

b/ Uỷ ban Nhân dân tỉnh và đơn vị hành chính tương đương duyệt, cấp giấy cho phép các hoạt động và xây dựng có liên quan tới an toàn đối với đê dưới cấp III và việc thoát lũ của lòng sông chỉ ảnh hưởng tới địa phương mình.

2. Ngoài phạm vi bảo vệ đê điều đã ghi ở điều 3 của Nghị định này, muốn tiến hành khoan đào, khai thác tài nguyên khoáng sản, vật liệu xây dựng, khoan đào giếng nước, nạo vét luồng lạch... thì cứ đào sâu xuống 1m phải cách xa phạm vi bảo vệ đê điều thêm 10m. Trường hợp đặc biệt không theo quy định trên phải có biện pháp gia cố bảo đảm an toàn đê được Bộ Thuỷ lợi duyệt.

Điều 6. Các hoạt động giao thông liên quan tới an toàn của đê điều ghi ở điều 16, quy định như sau:

1. Ngành giao thông và chủ các phương tiện giao thông được phép kết hợp sử dụng mặt đê, cơ đê vào mục đích giao thông đường bộ và sử dụng sông ngòi và vùng biển ven đê vào mục đích giao thông thuỷ nhưng không được gây mất an toàn cho đê điều hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thoát lũ của sông.

2. Bảo đảm an toàn cho đê điều phải được ưu tiên hàng đầu trong việc xét giải quyết các mối quan hệ giữa đê điều, thoát lũ với các hoạt động giao thông thuỷ, bộ.

Bộ Thuỷ lợi và Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành.

Điều 7. Việc xây dựng và sử dụng các công trình không thuộc phạm vi bảo vệ đê điều nhưng có liên quan tới an toàn của đê điều như các hồ chứa nước vừa và lớn, các công trình tạo luồng lạch, các cảng sông và cảng biển ở vùng có đê, các loại cầu qua sông phải có sự thỏa thuận của Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi ở giai đoạn duyệt Luận chứng kinh tế-kỹ thuật và duyệt quy trình vận hành công trình.

Điều 8. Bộ Thuỷ lợi phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Tổng cục quản lý ruộng đất có trách nhiệm hướng dẫn việc sử dụng đất trong phạm vi bảo vệ đê điều phù hợp với Luật đất đai và Pháp Lệnh về đê điều.

Điều 9. Uỷ ban Nhân dân các tỉnh và đơn vị hành chính tương đương chịu trách nhiệm xử lý đối với nhà cửa và các công trình khác đã xây dựng có ảnh hưởng đến việc bảo vệ đê điều theo những nguyên tắc sau đây:

1. Toàn bộ nhà cửa và các công trình khác hiện có trong phạm vi bảo vệ đê điều dù xây dựng trước hoặc sau ngày ban hành điều lệ bảo vệ đê điều 21-11-1963 đều phải được xem xét, xử lý.

2. Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng đến an toàn của đê điều để định ra biện pháp xử lý thích hợp. Việc xử lý nhà cửa và các công trình khác chia thành 3 loại:

- Loại gây mất ổn định nghiêm trọng cho đê điều thì nhất thiết phải phá bỏ và phải gia cố, tu bổ lại đê điều.

- Loại có ảnh hưởng tới an toàn của đê điều nhưng chưa nghiêm trọng thì di chuyển dần hoặc có biện pháp hạn chế sự ảnh hưởng đến an toàn của đê điều.

- Loại ít ảnh hưởng đến an toàn của đê điều có thể tiếp tục cho sử dụng nhưng phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt trong việc bảo vệ đê điều.

3. Về chính sách hỗ trợ:

- Loại nhà cửa và công trình xây dựng từ trước khi ban hành Điều lệ bảo vệ đê điều năm 1963 được Nhà nước xét hỗ trợ một phần kinh phí cho việc di chuyển và được chính quyền địa phương ưu tiên bố trí đất ở hoặc mặt bằng xây dựng ở khu vực ngoài phạm vi bảo vệ đê điều.

- Loại nhà cửa và công trình đã xây dựng từ khi đã có Điều lệ bảo vệ đê điều chỉ được xem xét bố trí mặt bằng nơi sẽ di chuyển đến. Riêng các gia đình thuộc đối tượng chính sách, chính quyền địa phương cần có sự hỗ trợ để các gia đình này có điều kiện di chuyển đi nơi khác.

4. Việc thống kê, phân loại, xử lý đối với nhà cửa và các công trình khác xây dựng trong phạm vi bảo vệ đê điều phải được tiến hành nghiêm túc, chu đáo, từng bước vững chắc. Riêng các trường hợp ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn của đê điều nhất thiết phải xử lý ngay.

Điều 10. Bộ Thuỷ lợi có nhiệm vụ phối hợp với Uỷ ban Nhân dân các tỉnh và đơn vị hành chính tương đương xác định mức độ ảnh hưởng đến an toàn đê điều của nhà cửa và các công trình khác hiện có trong phạm vi bảo vệ đê điều như khoản 2, điều 9 đã quy định; cùng các ngành hữu quan nghiên cứu trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành chế độ, chính sách hỗ trợ theo nguyên tắc nêu ở khoản 3 điều 9.

Xem nội dung VB
Chương này được hướng dẫn bởi Chương 3 Nghị định 429-HĐBT năm 1990 (VB hết hiệu lực: 18/01/2004)
- Chương này được hướng dẫn bởi Chương 4 Nghị định 429-HĐBT năm 1990 (VB hết hiệu lực: 18/01/2004)

Căn cứ Pháp lệnh về đê điều ngày 9 tháng 11 năm 1989;
...
Chương 4: HỘ ĐÊ

Điều 11.

1. Bộ Thuỷ lợi xây dựng phương án sử dụng các công trình phân lũ có ảnh hưởng từ 2 tỉnh trở lên. Ban chỉ đạo phòng chống lụt, bão trung ương có trách nhiệm đề xuất phân lũ khi đê có nguy cơ bị uy hiếp trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt và cùng với các ngành, các địa phương có liên quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện lệnh phân lũ của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

2. Việc giải quyết hậu quả đối với vùng bị ngập lụt do việc phân lũ gây ra theo nguyên tắc sau:

- Phòng tránh và khắc phục hậu quả do việc phân lũ gây ra phải do Nhà nước và nhân dân cùng làm.

- Phải lấy việc phòng tránh là chính. Phòng, tránh rồi mà vẫn bị thiệt hại thì Nhà nước xem xét, hỗ trợ để nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân và phục hồi sản xuất.

- Động viên nhân dân các địa phương khác hỗ trợ thêm cho nhân dân vùng bị ngập lụt do việc phân lũ gây ra.

Bộ Thuỷ lợi phối hợp với các ngành và địa phương liên quan xây dựng, trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định chính sách cụ thể.

Xem nội dung VB
Chương này được hướng dẫn bởi Chương 4 Nghị định 429-HĐBT năm 1990 (VB hết hiệu lực: 18/01/2004)
Văn bản gốc
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 26-LCT/HĐNN8   Loại văn bản: Pháp lệnh
Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước   Người ký: Võ Chí Công
Ngày ban hành: 09/11/1989   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 30/11/1989   Số công báo: Số 22
Lĩnh vực: Nông nghiệp, nông thôn   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Pháp lệnh Đê điều năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành

1.355

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
37698