• Lưu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12
 

Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 do Hội đồng Nhà nước ban hành

Tải về Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 do Hội đồng Nhà nước ban hành
Bản Tiếng Việt

HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 2A-LCT/HĐNN8

Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 1987

 

PHÁP LỆNH

TỔ CHỨC LUẬT SƯ

Để tăng cường hoạt động giúp đỡ pháp lý cho công dân và các tổ chức;
Căn cứ vào Điều 100 và Điều 133 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Pháp lệnh này quy định về tổ chức luật sư.

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Tổ chức luật sư ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là các Đoàn luật sư được thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương để giúp công dân và các tổ chức về mặt pháp lý.

Điều 2

Bằng hoạt động của mình, tổ chức luật sư góp phần tích cực bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cường quản lý kinh tế và quản lý xã hội theo pháp luật; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức; góp phần vào việc giải quyết các vụ án được khách quan, đúng pháp luật; góp phần thực hiện quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; giáo dục công dân tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa.

Điều 3

Tổ chức luật sư và các luật sư hoạt động theo pháp luật, tôn trọng sự thật khách quan.

Điều 4

Tổ chức luật sư và các luật sư được Nhà nước và xã hội khuyến khích, giúp đỡ trong hoạt động nghề nghiệp.

Điều 5

Bộ Tư pháp hướng dẫn, kiểm tra về tổ chức và hoạt động của các Đoàn luật sư theo Quy chế Đoàn luật sư do Hội đồng bộ trưởng ban hành.

Điều 6

Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp giám sát hoạt động của Đoàn luật sư tại địa phương; tạo điều kiện và giúp đỡ Đoàn luật sư và các luật sư thực hiện tốt nhiệm vụ.

Chương 2:

ĐOÀN LUẬT SƯ

Điều 7

Đoàn luật sư là tổ chức nghề nghiệp của các luật sư.

Khi có từ hai người trở lên có đủ điều kiện làm luật sư quy định ở Điều 11 của Pháp lệnh này đề nghị và được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương giới thiệu, Uỷ ban nhân dân cùng cấp ra quyết định cho phép thành lập Đoàn luật sư, sau khi đã thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Căn cứ vào quyết định của Uỷ ban nhân dân, những người có đề nghị nói ở đoạn 1 của Điều này tổ chức hội nghị thành lập Đoàn luật sư. Hội nghị thông qua Điều lệ và bầu ra các cơ quan của Đoàn theo Quy chế Đoàn luật sư.

Điều 8

Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư là cơ quan cao nhất của Đoàn luật sư.

Hội nghị toàn thể bầu ra Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra. Nhiệm kỳ của Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra là 3 năm.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội nghị toàn thể, Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra do Quy chế Đoàn luật sư quy định.

Điều 9

Đoàn luật sư thông qua Ban chủ nhiệm tổ chức các hoạt động của luật sư.

Điều 10

Đoàn luật sư có tư cách pháp nhân và tiến hành hoạt động nghề nghiệp kể từ ngày đăng ký tại Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương.

Chương 3:

LUẬT SƯ

Điều 11

Những người có đủ các điều kiện sau đây có thể gia nhập Đoàn luật sư:

1- Là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

2- Có phẩm chất, đạo đức tốt;

3- Tốt nghiệp đại học pháp lý hoặc có trình độ pháp lý tương đương.

Những người đang công tác tại các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp chế không được gia nhập Đoàn luật sư, trừ những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về pháp lý tại các viện nghiên cứu và các trường thuộc các cơ quan đó.

Việc gia nhập Đoàn luật sư phải được Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư thông qua, theo đề nghị của Ban chủ nhiệm.

Điều 12

Người mới được gia nhập Đoàn luật sư phải qua một thời gian tập sự từ 6 tháng đến 2 năm và một kỳ kiểm tra mới được công nhận là luật sư.

Chế độ tập sự, thể thức kiểm tra và những trường hợp được miễn, giảm thời hạn tập sự do Quy chế Đoàn luật sư quy định.

Luật sư tập sự được bào chữa và làm các việc giúp đỡ pháp lý khác, có các quyền và nghĩa vụ như luật sư, trừ quyền bầu và được bầu vào Ban chủ nhiệm và ban kiểm tra của Đoàn.

Điều 13

Các hình thức giúp đỡ pháp lý của luật sư bao gồm:

1- Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc đại diện cho người bị hại và các đương sự khác trong các vụ án hình sự, kể cả các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự; đại diện cho các bên đương sự trong các vụ án dân sự, hôn nhân, gia đình và lao động.

2- Làm tư vấn pháp luật cho các tổ chức kinh tế Nhà nước, tập thể và tư nhân, kể cả các tổ chức kinh tế nước ngoài.

3- Làm các dịch vụ pháp lý khác cho công dân và tổ chức.

Điều 14

Khi tham gia tố tụng, luật sư có quyền:

1- Bình đẳng với các thành phần khác trước Toà án; không buộc phải làm chứng về những vấn đề biết được khi làm nhiệm vụ bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc đại diện cho các đương sự khác;

2- Nghiên cứu hồ sơ vụ án, đề xuất chứng cứ, gặp riêng bị can, bị cáo, đương sự; đề nghị bổ sung hồ sơ, trưng cầu giám định và đưa ra những đề nghị cần thiết khác;

3- Đề nghị thay đổi người tiến hành, người tham gia tố tụng;

4- Tham gia thẩm vấn và tranh luận tại phiên toà, đề nghị biện pháp xử lý bị cáo, bồi thường thiệt hại và các biện pháp giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân, gia đình và lao động;

5- Đọc, yêu cầu bổ sung, đính chính biên bản phiên toà;

6- Kháng cáo bản án và quyết định của toà án trong trường hợp làm bào chữa hoặc đại diện cho bị cáo, đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.

Khi tham gia tố tụng, luật sư có thể có những quyền khác theo quy định của pháp luật.

Điều 15

Luật sư không được bào chữa hoặc đại diện trong vụ án, nếu:

1- Đã tiến hành hoặc tham gia tố tụng đối với vụ án với tư cách là điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch;

2- Là người thân thích của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân đã hoặc đang tiến hành tố tụng đối với vụ án đó.

Điều 16

Một luật sư có thể bào chữa cho nhiều bị can, bị cáo hoặc đại diện cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền lợi của họ không đối lập nhau.

Nhiều luật sư có thể bào chữa cho một bị can, bị cáo hoặc đại diện cho một đương sự.

Điều 17

Khi làm tư vấn pháp luật cho các tổ chức kinh tế nói ở khoản 2 Điều 13 của Pháp lệnh này, luật sư có quyền đại diện cho các tổ chức đó trong các vụ tranh chấp được đưa ra trước Trọng tài kinh tế hoặc cơ quan xét xử khác.

Điều 18

Luật sư có nghĩa vụ:

1- Sử dụng các biện pháp được pháp luật quy định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác;

2- Không được từ chối bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc đại diện cho đương sự mà mình đã đảm nhận hoặc đã được chỉ định, nếu không có lý do chính đáng;

3- Không được tiết lộ những bí mật mà mình biết được trong khi làm nhiệm vụ giúp đỡ pháp lý.

Điều 19

Luật sư có thể giúp đỡ pháp lý ngoài phạm vi địa phương mình.

Chương 4:

THÙ LAO CỦA LUẬT SƯ, QUỸ ĐOÀN LUẬT SƯ

Điều 20

Công dân và tổ chức nhờ luật sư giúp đỡ pháp lý phải trả tiền thù lao.

Chế độ trả tiền thù lao và những trường hợp được miễn, giảm do Quy chế Đoàn luật sư quy định.

Điều 21

Luật sư nhận tiền thù lao thông qua Đoàn luật sư theo tỷ lệ từ 70% đến 80% tiền thù lao cho mỗi vụ việc. Tỷ lệ cụ thể do Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư quyết định.

Điều 22

Chế độ bảo hiểm xã hội đối với luật sư và nhân viên giúp việc của Đoàn luật sư được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 23

Mỗi Đoàn luật sư có quỹ của mình. Quỹ này được lập từ phần trích tiền thù lao và từ các nguồn thu hợp pháp khác.

Việc sử dụng quỹ của Đoàn luật sư do Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư quyết định theo Quy chế Đoàn luật sư.

Chương 5:

KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT

Điều 24

Việc khen thưởng và kỷ luật đối với Đoàn luật sư và luật sư do Quy chế Đoàn luật sư quy định.

Chương 6:

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 25

Hội đồng bộ trưởng ban hành Quy chế Đoàn luật sư sau khi lấy ý kiến của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.

Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 1987

 

Võ Chí Công

(Đã ký)

 

- Chương này được hướng dẫn bởi Công văn 1060/LS-TVPL năm 1996

Từ khi Pháp lệnh tổ chức luật sư ban hành đến nay, 51 Đoàn luật sư đã được thành lập, từng bước kiện toàn, ổn định và phát triển tổ chức. Hoạt động của các Đoàn luật sư đã đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu giúp đỡ pháp lý của công dân, tổ chức, đóng góp đáng kế trong việc bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức góp phần thực hiện nguyên tắc sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân.

Cùng với sự phát triển nhanh chóng về mặt kinh tế, xã hội trong cơ chế thị trường, nhu cầu của xã hội đối với hoạt động luật sư đang ngày càng phát triển với những yêu cầu mới, ngày càng cao hơn. Để kịp thời đáp ứng yêu cầu mới của phát triển xã hội, chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội đã ấn định việc sửa đổi Pháp lệnh tổ chức luật sư 1987. Hiện nay, các thủ tục cần thiết để trình Chính phủ xem xét và trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh mới đang được khẩn trương hoàn tất.

Thời gian qua, cùng với việc tham gia ý kiến xây dựng Pháp lệnh mới, các Đoàn luật sư đang tiếp tục kiện toàn, phát triển tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động tiếp tục phát huy vai trò tích cực của luật sư trong điều kiện mới.

Tuy nhiên, trong tổ chức và hoạt động của các Đoàn luật sư hiện nay, bên cạnh nhưng đóng góp tích cực được dư luận hoan nghêng, nhân dân đồng tình đã bộc lộ những nhược điểm, vướng mắc cần được khắc phục, chấn chỉnh kịp thời.

Thứ nhất, trong công tác phát triển đội ngũ luật sư, ngoài một số Đoàn luật sư làm tốt công tác này, hiện đang còn hai khuynh hướng: ở nhiều Đoàn luật sư các biệt vẫn còn hiện tượng "đóng cửa" hoặc tự đặt thêm điều kiện đối với người xin tham gia nhập đoàn hoặc do tư tưởng chờ đợi Pháp lệnh sửa đổi nên ngừng việc kết nạp thành viên mới gây thắc mắc cho những người có đơn xin tham gia Đoàn luật sư. Ngược lại, ở một số Đoàn luật sư lại có hiện tượng kết nạp ồ ạt thành viên mới, không cân nhắc kỹ về tiêu chuẩn, điều kiện. Đáng chú ý là việc, người thướng trú tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh xin gia nhập Đoàn luật sư của các tỉnh khác ngày càng nhiều, dẫn đến tình trạng Đoàn luật sư không quản lý được hoạt động của các luật sư này, đặc biệt là việc sử dụng Thẻ luật sư.

Thứ hai, về tổ chức, sinh hoạt của Đoàn luật sư, hiện nay ở một số Đoàn, Ban chủ nhiệm, Ban kiểm tra đã hết nhiệm kỳ mà không tiến hành tổ chức Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư để bầu Ban Chủ nhiệm và ban kiểm tra mới. Ban chủ nhiệm của một số Đoàn luật sư chưa phát huy đầy đủ trách nhiệm, không thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình trong việc quản lý, điều hành hoạt động của Đoàn; công tác giáo dục chính trị, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, trau dồi đạo đức nghề nghiệp cho luật sư chưa được quan tâm đúng mức; hiện tượng luật sư vi phạm kỷ luật, đạo đức nghề nghiệp chưa được phát hiện, xử lý kịp thời; tình trạng vi phạm quy định về thù lao, hứa hẹn với khách hàng, thu thù lao không thông qua Đoàn luật sư là vấn đề mà dư luận đang rất quan tâm.

Việc quản lý các Chi nhánh Đoàn luật sư còn lỏng lẻo, chưa đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp của Ban chủ nhiệm đối với Chi nhánh như Quy chế Đoàn luật sư quy định.

Để kịp thời khắc phục những nhược điểm, vướng mắc trong tổ chức và quản lý của các Đoàn luật sư, Bộ Tư pháp đề nghị Ban chủ nhiệm các Đoàn luật sư thực hiện một số điểm sau đây:

1. Trong khi Pháp lệnh mới chưa được ban hành, tổ chức hoạt động của các Đoàn luật sư vẫn tiếp tục tuân theo các quy định của Pháp lệnh tổ chức luật sư ban hành ngày 18-12-1987. Quy chế Đoàn luật sư ban hành kèm theo Nghị định 15/HĐBT ngày 21-2-1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và các văn bản hiện hành có liên quan.

2. Đối với công tác phát triển đội ngũ luật sư, các Đoàn luật sư cần thực hiện đúng các quy định hiện hành về việc kết nạp thành viên mới, ngoài tiêu chuẩn về trình độ pháp lý cần chú trọng và xem xét kỹ tư cách đạo đức của người xin tham gia nhập Đoàn luật sư. Ngay sau khi kết nạp thành viên mới vào Đoàn luật sư, Ban chủ nhiệm phải gửi báo cáo, quyết định kết nạp và lý lịch luật sư (theo mẫu mà Bộ đã gửi các Đoàn luật sư) của người được kết nạp về Bộ Tư pháp. Đối với những người thường trú ngoài địa phương có đơn xin gia nhập Đoàn luật sư, Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư phải báo cáo Bộ Tư pháp kèm theo hồ sơ xin gia nhập Đoàn luật sư của những người đó; sau khi có ý kiến của Bộ, Đoàn luật sư mới tiến hành các thủ tục từ chối hoặc xem xét việc kết nạp.

3. Để đảm bảo duy trì hoạt đồng bình thường, các Đoàn luật sư cần tiến hành Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư đúng thời hạn quy định để kịp thời kiểm điểm, đánh giá công tác của Đoàn và đề ra phương hướng công tác tiếp theo, đồng thời để bầu Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra mới thay thế Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra đã hết nhiệm kỳ. Cầng chú trọng tăng cường vai trò quản lý Đoàn luật sư của Ban chủ nhiệm, đặc biệt là công tác quản lý luật sư trong việc sử dụng Thẻ luật sư để hành nghề. Các Đoàn luật sư có rthành viên thường trú ngoài địa phương mình, phải có quy định riêng về việc quản lý đối với các thành viên này. Tất cả các Đoàn luật sư tiến hành rà soát, đánh giá lại đội ngũ luật sư của Đoàn, xem xét kịp thời và xử lý nghiêm minh nhữngtrường hợp luật sư vi phạm quy chế Đoàn luật sư, Nội quy của Đoàn hoặc vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, đồng thời cần chú trọng tổ chức bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ chuyên môn cho luật sư.

4. Các Đoàn luật sư thực hiện đúng các quy định về thù lao, phải niêm yết biểu mức thù lao, nhận thù lao đúng mức đã được quy định, việc nhận thù lao phải do Đoàn luật sư thực hiện. Nghiêm cấm việc luật sư nhận thù lao trực tiếp từ khách hàng hoặc đòi hỏi những khoản khác ngoài mức thù lao. Các Đoàn luật sư cần chú ý đến việc miễn, giảm thù lao cho các đối tượng chính sách.

5. Những Đoàn luật sư đã thành lập Chi nhánh Đoàn luật sư cần xây dựng quy chế hoạt động của Chi nhánh, đặc biệt là vấn đề quản lý Chi nhánh của Đoàn luật sư, Bản chủ nhiệm các Đoàn luật sư phải chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc quản lý hoạt động của các Chi nhánh của Đoàn.

6. Các Đoàn luật sư thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo về tổ chức và hoạt động luật sư định kỳ hàng quý và hàng năm cho Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp.

7. Việc hợp tác của Đoàn luật sư với Chi nhánh tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam, Bộ Tư pháp sẽ có hướng dẫn cụ thể.

Nhận được công văn này, đề nghị Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có hình thức thích hợp tổ chức sinh hoạt nội bộ, đánh giá tình hình thực hiện Quy chế, nêu được mặt mạnh cần phát huy, nếu có những hiện tượng, trường hợp vi phạm cần có sự phê bình, góp ý kịp thời, đúng mức. Sở Tư pháp có nhiệm vụ theo dõi và kiểm tra việc thực hiện Công văn này.

Xem nội dung VB
Chương này được hướng dẫn bởi Công văn 1060/LS-TVPL năm 1996
- Quy chế Đoàn Luật sư được ban hành kèm theo Nghị định 15-HĐBT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/10/2001)

Căn cứ Pháp lệnh Tổ chức Luật sư do Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 18/12/1987;
...
Điều 1.- Ban hành kèm theo Nghị định này bản Quy chế Đoàn Luật sư.

Điều 2. - Bộ Tư pháp có nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy chế này.

Điều 3.- Bộ trưởng Bộ Tư pháp, các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Điều 4.- Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.
...
QUY CHẾ ĐOÀN LUẬT SƯ

Chương 1: ĐOÀN LUẬT SƯ

Điều 1.- Đoàn Luật sư được thành lập để giúp công dân và các tổ chức về mặt pháp lý theo quy định của Hiến pháp, Pháp lệnh Tổ chức Luật sư và các quy định khác của pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đoàn Luật sư có nhiệm vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức, bảo vệ pháp chế và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Điều 2.- Đoàn Luật sư là tổ chức nghề nghiệp của các Luật sư. Kinh phí của Đoàn Luật sư hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu khi Luật sư giúp đỡ pháp lý cho các bị can, bị cáo và các đương sự. Đoàn Luật sư có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng ở Ngân hàng, có con dấu riêng. Công việc nội bộ của Đoàn Luật sư do các cơ quan của Đoàn quyết định.

Điều 3.- Tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương thành lập một Đoàn Luật sư. ở những tỉnh, thành phố địa bàn rộng, số lượng Luật sư đông thì có thể đặt thêm các chi nhánh giao dịch; các chi nhánh chịu sự lãnh đạo thống nhất của Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư.

Điều 4.- Đoàn Luật sư được Nhà nước khuyến khích, giúp đỡ và chịu sự hướng dẫn, kiểm tra và giám sát của Nhà nước theo quy định của Pháp lệnh Tổ chức Luật sư và những quy định chi tiết trong Quy chế này.

Chương 2: THÀNH VIÊN CỦA ĐOÀN LUẬT SƯ

Điều 5.- Thành viên của Đoàn Luật sư là các Luật sư và Luật sư tập sự.

Điều 6.- Người gia nhập Đoàn Luật sư phải có đủ điều kiện sau đây:
...
Điều 7.- Những người đang công tác tại cơ quan Toà án, Kiểm sát, Công an, Tư pháp, Thanh tra Nhà nước, Trọng tài kinh tế, Hải quan và các cơ quan Nội chính của Đảng không được gia nhập Đoàn Luật sư, trừ những người đang làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về pháp lý tại các Viện nghiên cứu và các trường thuộc các cơ quan đó.

Điều 8.- Người muốn gia nhập Đoàn Luật sư phải tự nguyện làm đơn xin gia nhập Đoàn, kèm theo:
...
Điều 9.- Người có đơn xin gia nhập Đoàn Luật sư mà không được chấp nhận có quyền khiếu nại lên Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương. Trong thời hạn một tháng kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố phải trả lời cho người khiếu nại biết kết quả.
...
Điều 10.
...
Điều 11.- Luật sư tập sự có quyền và nghĩa vụ như Luật sư, trừ quyền bầu và được bầu vào Ban Chủ nhiệm và Ban Kiểm tra của Đoàn.

Điều 12.- Sau khi hết hạn tập sự, Luật sư tập sự phải qua một kỳ kiểm tra về kiến thức pháp lý và nghiệp vụ Luật sư; việc kiểm tra do Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tiến hành theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.
...
Điều 13.- Nếu đạt yêu cầu trong kỳ kiểm tra nói ở điều 12, Luật sư tập sự được công nhận là Luật sư và được Ban Chủ nhiệm cấp thẻ Luật sư.
...
Điều 14.- Quyền hạn của Luật sư:
...
Điều 15.- Nghĩa vụ của Luật sư:
...
Điều 16.- Khi tham gia tố tụng, Luật sư có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan có trách nhiệm bảo đảm cho Luật sư thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó.

Chương 3: CÁC CƠ QUAN CỦA ĐOÀN LUẬT SƯ VÀ VIỆC TỔ CHỨC ĐIỀU HÀNH HOẠT ĐỘNG TRONG ĐOÀN

Điều 17.- Các cơ quan của Đoàn Luật sư gồm có:
...
Điều 18.- Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư là cơ quan cao nhất của Đoàn Luật sư.
...
Điều 19.- Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư có nhiệm vụ và quyền hạn:
...
Điều 20.- Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư là cơ quan chấp hành của Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư do Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư bầu ra, có nhiệm kỳ 3 năm.
...
Điều 21.- Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư có nhiệm vụ và quyền hạn:
...
Điều 22.- Trách nhiệm và quyền hạn của Chủ nhiệm Đoàn Luật sư:
...
Điều 23.- Các Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư giúp Chủ nhiệm phụ trách từng phần công việc theo sự phân công của Ban Chủ nhiệm. Khi Chủ nhiệm vắng mặt, Ban Chủ nhiệm cử một Phó Chủ nhiệm làm quyền Chủ nhiệm.

Điều 24. - Ban Kiểm tra Đoàn Luật sư do Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư bầu ra, có nhiệm kỳ 3 năm. Thành viên của Ban Kiểm tra không được đồng thời là thành viên của Ban Chủ nhiệm.
...
Điều 25.- Ban Kiểm tra Đoàn Luật sư có nhiệm vụ và quyền hạn:
...
Điều 26.- Đoàn Luật sư có bộ máy giúp việc gồm văn thư, kế toán, thủ quỹ và nhân viên giúp việc khác làm việc theo hợp đồng ký kết với Đoàn.

Điều 27.- Nơi giao dịch để tiến hành hoạt động giúp đỡ pháp lý của Đoàn Luật sư, tiếp công dân và đại diện các tổ chức là trụ sở của Đoàn và các chi nhánh của Đoàn.

Điều 28.- Bị can, bị cáo, đương sự hoặc thân nhân của họ có thể nhờ đích danh Luật sư hoặc nhờ Đoàn Luật sư bào chữa hoặc làm đại diện.
...
Điều 29.- Luật sư nhận làm tư vấn pháp luật cho các tổ chức kinh tế bằng hình thức ký kết hợp đồng tư vấn pháp luật với tổ chức kinh tế đó. Hình thức và nội dung hợp đồng tư vấn pháp luật do các bên thoả thuận trong phạm vi pháp luật cho phép.
...
Điều 30.
...
Điều 31.- Trong trường hợp có yêu cầu giúp đỡ pháp lý ngoài phạm vi địa phương thì Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư làm các thủ tục cần thiết giới thiệu Luật sư theo yêu cầu của công dân.

Chương 4: THÙ LAO CỦA LUẬT SƯ, QUỸ CỦA ĐOÀN LUẬT SƯ.

Điều 32.- Việc giúp đỡ pháp lý của Luật sư được công dân và các tổ chức trả thù lao theo từng vụ việc. Mức thù lao đối với từng loại việc được tính theo những căn cứ sau đây:
...
Điều 33.- Những người sau đây được miễn trả thù lao khi nhờ Luật sư giúp đỡ pháp lý:
...
Điều 34.- Luật sư nhận thù lao thông qua Đoàn Luật sư theo tỷ lệ do Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư quyết định trong phạm vi quy định của Pháp lệnh Tổ chức Luật sư.
...
Điều 37.- Quỹ của Đoàn Luật sư được sử dụng vào các việc sau đây:
...
Điều 38.- Trong những trường hợp miễn giảm thù lao, Luật sư được nhận từ quỹ của Đoàn khoản thù lao như đối với những vụ việc tương đương.

Điều 39.- Luật sư tập sự được bảo đảm mức thu nhập ít nhất phải tương đương mức lương tập sự của những người tốt nghiệp đại học trong biên chế Nhà nước. Trường hợp thu nhập thực tế của Luật sư thấp hơn thu nhập tối thiểu nói trên thì sẽ được bù khoản chênh lệch từ quỹ của Đoàn Luật sư.

Điều 40.- Thành viên của Ban Chủ nhiệm và Ban Kiểm tra Đoàn Luật sư được hưởng phụ cấp trách nhiệm do Đoàn Luật sư trả từ quỹ của Đoàn. Mức phụ cấp của những người này do Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư quyết định căn cứ vào thu nhập của Đoàn.

Điều 41.- Đoàn Luật sư có quỹ bảo hiểm xã hội riêng, có chế độ đóng góp, sử dụng bảo hiểm xã hội riêng do Hội nghị toàn thể của Đoàn quyết định căn cứ vào những quy định chung của Nhà nước về bảo hiểm xã hội. Đoàn Luật sư được miễn các thứ thuế mà hoạt động đó trực tiếp phục vụ cho công tác nghề nghiệp của Đoàn.

Chương 5: KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT

Điều 42.- Luật sư có thành tích xuất sắc trong công tác được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương, Bộ Tư pháp hoặc Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khen thưởng theo đề nghị của Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư; được đề nghị Nhà nước khen thưởng những hình thức cao hơn.

Điều 43.- Các hình thức kỷ luật đối với Luật sư:
...
Điều 44.- Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư có quyền quyết định hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo đối với Luật sư.
...
Chương 6: QUAN HỆ GIỮA ĐOÀN LUẬT SƯ VỚI BỘ TƯ PHÁP VÀ CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, VỚI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI KHÁC

Điều 45.- Bộ Tư pháp hướng dẫn thủ tục thành lập Đoàn Luật sư theo Pháp lệnh Tổ chức Luật sư và Quy chế này; kiểm tra việc thực hiện Quy chế của các Đoàn Luật sư và các Luật sư; hướng dẫn bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ cho các Luật sư; tổng kết phổ biến kinh nghiệm và thực hiện các biện pháp khác nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Luật sư.
...
Điều 46. - Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thường xuyên giám sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động của Đoàn Luật sư ở địa phương mình, có những kiến nghị cần thiết và kịp thời với Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư. Ban Chủ nhiệm có trách nhiệm xem xét và trả lời những kiến nghị đó.
...
Điều 47. - Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ giúp đỡ cơ sở vật chất cho Đoàn Luật sư khi mới thành lập và tạo điều kiện thuận lợi khác cho Đoàn Luật sư và các Luật sư hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Xem nội dung VB
Quy chế Đoàn Luật sư được ban hành kèm theo Nghị định 15-HĐBT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/10/2001)
Văn bản gốc
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 2A-LCT/HĐNN8   Loại văn bản: Pháp lệnh
Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước   Người ký: Võ Chí Công
Ngày ban hành: 18/12/1987   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 31/03/1988   Số công báo: Số 6
Lĩnh vực: Bổ trợ tư pháp   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 do Hội đồng Nhà nước ban hành

855

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
37257