• Lữu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12
Thành viên
Đăng nhập bằng Google

Thông tư 62/2015/TT-BGTVT Quy định về đường ngang do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành

Bản Tiếng Việt
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 62/2015/TT-BGTVT   Loại văn bản: Thông tư
Nơi ban hành: Bộ Giao thông vận tải   Người ký: Đinh La Thăng
Ngày ban hành: 04/11/2015   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 23/11/2015   Số công báo: Từ số 1141 đến số 1142
Lĩnh vực: Giao thông, vận tải   Tình trạng: Đã biết

Ngày 04/11/2015, Bộ GTVT đã ban hành Thông tư 62/2015/TT-BGTVT quy định về đường ngang. Thông tư này bao gồm 07 Chương, 56 Điều, 14 Phụ lục, quy định về công trình đường ngang; hệ thống báo hiệu, quy tắc giao thông trong khu vực đường ngang; công tác tổ chức quản lý, bảo trì, phòng vệ và việc cấp giấy phép xây dựng, cải tạo, nâng cấp, dỡ bỏ đường ngang.

Phạm vi đường ngang

Chương I của Thông tư 62 đã quy định về phạm vi đường ngang như sau:

- Đoạn đường bộ, phạm vi đất dành cho đường bộ nằm trong đất hành lang an toàn giao thông đường sắt;

- Đoạn đường sắt, phạm vi đất dành cho đường sắt nằm trong đất hành lang an toàn đường bộ;

- Trường hợp đường bộ chạy gần đường sắt có hành lang an toàn chồng lấn với hành lang an toàn giao thông đường sắt (được xác định theo Nghị định 11/2010/NĐ-CP và Nghị định 100/2013/NĐ-CP) 

Khu vực đường ngang bao gồm 2 phần: (1) Phạm vi đường ngang; (2) Giới hạn hành lang an toàn giao thông tại khu vực đường ngang quy định tại Điều 12 của Thông tư 62 này.

Các thiết bị và báo hiệu bố trí tại đường ngang

Đường ngang có người gác sẽ bao gồm giàn chắn hoặc cần chắn, đèn tín hiệu, chuông điện, biển báo hiệu, cọc tiêu, hàng rào, vạch kẻ đường trên đường bộ, tín hiệu ngăn đường phía đường sắt (nếu có) và các thiết bị báo hiệu khác khi được cấp có thẩm quyền cho phép;

Đường ngang cảnh báo tự động bao gồm đèn tín hiệu, chuông điện, biển báo hiệu, cọc tiêu hoặc hàng rào, có hoặc không có cần chắn tự động, vạch kẻ đường trên đường bộ và các thiết bị báo hiệu khác khi được cấp có thẩm quyền cho phép;

Đường ngang biển báo bao gồm biển báo hiệu, cọc tiêu hoặc hàng rào, vạch kẻ đường và các thiết bị báo hiệu khác khi được cấp có thẩm quyền cho phép.

Hệ thống báo hiệu, thiết bị bố trí tại đường ngang để bảo đảm an toàn giao thông, phòng ngừa tai nạn. Mọi tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ, không được tự ý di chuyển, chiếm đoạt, làm hư hỏng hoặc làm giảm hiệu lực và tác dụng của các hệ thống quy định tại Điều này.

Trách nhiệm của cơ quan nhà nước nơi có đường ngang

Thông tư 62 còn quy định về trách nhiệm của chính quyền các cấp nơi có đường ngang. Theo đó:

- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục nhân dân; tổ chức phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi tự ý mở đường ngang, vi phạm hành lang an toàn giao thông tại khu vực đường ngang;

- Chủ trì, phối hợp với doanh nghiệp quản lý, kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt hoặc chủ quản lý, sử dụng đường sắt chuyên dùng, cơ quan quản lý đường bộ dỡ bỏ đường ngang không có giấy phép xây dựng, giải tỏa hành lang an toàn giao thông tại khu vực đường ngang;

- Phối hợp với doanh nghiệp quản lý, kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt hoặc chủ quản lý, sử dụng đường sắt chuyên dùng, cơ quan quản lý đường bộ trong việc đề xuất hình thức tổ chức phòng vệ đường ngang công cộng phù hợp quy định tại Thông tư này.

Cơ quan quản lý đường bộ cũng có trách nhiệm trong việc quản lý đường ngàng, theo đó: 

- Duy trì đầy đủ các báo hiệu, tín hiệu trên đoạn đường bộ vào đường ngang theo quy định của Thông tư này;

- Phối hợp với doanh nghiệp quản lý, kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt hoặc chủ quản lý, sử dụng đường sắt chuyên dùng, chính quyền địa phương dỡ bỏ đường ngang không có giấy phép xây dựng, giải tỏa hành lang an toàn giao thông tại khu vực đường ngang, bổ sung báo hiệu, tín hiệu phù hợp, kịp thời, đảm bảo trật tự an toàn giao thông.

Yêu cầu đối với công trình đường ngang

Chương II của Thông tư 62 đã quy định những yêu cầu đối với công trình đường ngang

Điều kiện xây dựng đường ngang phải đảm bảo hai yếu tố: 

Thứ nhất, đường ngang khi xây dựng phải phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng và quy định của Thông tư này.

Thứ hai, chỉ được tiến hành xây dựng đường ngang sau khi có giấy phép xây dựng.

Về hành lang an toàn giao thông, hành lang an toàn giao thông tại khu vực đường ngang phải bảo đảm tầm nhìn tối thiểu cho người tham gia giao thông theo quy định sau đây:

Đối với đường ngang không có người gác, người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ khi ở cách đường ngang một khoảng cách bằng tầm nhìn hãm xe đối với cấp đường đó có thể nhìn thấy đoàn tàu ở cách đường ngang ít nhất bằng tầm nhìn ngang của ô tô kể từ giữa chỗ giao nhau theo quy định tại Phụ lục 2 của Thông tư 62 này.

Khi tốc độ tàu nhỏ hơn 80 km/h thì lấy tầm nhìn của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo tốc độ tàu 80 km/h

Người điều khiển phương tiện giao thông đường sắt ở vị trí của mình có thể nhìn thấy đường ngang từ 1000 mét (m) trở lên.

Không được xây dựng các công trình kiến trúc, trồng cây che khuất tầm nhìn trong phạm vi hành lang an toàn giao thông tại khu vực đường ngang.

Về vị trí đường ngang, vị trí đặt đường ngang phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:

-    Ở đoạn đường sắt thẳng. Trường hợp đặc biệt khó khăn mà phải đặt trên đoạn đường sắt cong, chỉ được đặt trên đoạn đường sắt cong tròn có bán kính tối thiểu 300 mét và phải có biện pháp đảm bảo an toàn giao thông.

-    Cách cửa hầm, mố cầu đường sắt từ 100 m trở lên.

-    Ngoài cột tín hiệu vào ga.

Về chiếu sáng, đường ngang có người gác ở nơi có nguồn điện lưới quốc gia phải trang bị đèn chiếu sáng về ban đêm và ban ngày khi có sương mù. Ánh sáng đèn đủ để người điều khiển phương tiện giao thông đường sắt và đường bộ nhìn rõ tín hiệu của nhân viên gác chắn. 

Quy tắc chung giao thông trong khu vực đường ngang

Chương IV của Thông tư 62 đã quy định về quy tắc giao thông trong khu vực đường ngang.

Theo đó, người tham gia giao thông đường bộ khi qua đường ngang phải chấp hành quy định của Luật Giao thông đường bộ và thực hiện quy định sau đây:

- Phải ưu tiên cho các phương tiện giao thông hoạt động trên đường sắt.

- Phải chấp hành hiệu lệnh của nhân viên gác đường ngang và chỉ dẫn của các báo hiệu trong phạm vi đường ngang.

- Khi có báo hiệu dừng (đèn đỏ sáng nháy, cờ đỏ, biển đỏ, còi, chuông kêu, chắn đã đóng, hiệu lệnh của nhân viên gác chắn), người tham gia giao thông đường bộ (kể cả những xe có quyền ưu tiên) đều phải dừng lại về bên phải đường của mình và trước vạch “dừng xe”.

- Nghiêm cấm người không có nhiệm vụ tự ý mở chắn đường ngang khi chắn đã đóng.

- Đối với đường ngang biển báo, người tham gia giao thông đường bộ phải dừng lại trước vạch dừng, lắng nghe còi tàu, chú ý quan sát tàu đến từ xa ở 2 phía, chỉ được đi qua đường ngang khi xét thấy an toàn và hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu để xảy ra tai nạn.

Dừng, đỗ xe trong khu vực đường ngang

- Trong phạm vi đường ngang cấm quay đầu xe.

- Khi phương tiện tham gia giao thông đường bộ bị hư hỏng, bị tai nạn không thể di chuyển ngay khỏi phạm vi đường ngang thì người điều khiển phương tiện phải tìm biện pháp để nhanh chóng đưa phương tiện ra khỏi phạm vi đường ngang.

- Trường hợp điểm gần nhất của xe hoặc của hàng hóa cách mép ray ngoài cùng nhỏ hơn 1,7 m thì người điều khiển phương tiện phải tìm biện pháp để báo hiệu cho tàu dừng trước chướng ngại, đồng thời phải bằng mọi biện pháp nhanh chóng đưa phương tiện, hàng hóa ra cách mép ray ngoài cùng tối thiểu 1,7 m. Chi tiết cụ thể theo quy định tại Phụ lục 7 của Thông tư này.

Các trường hợp đặc biệt khác cần lưu ý khi lưu thông ở khu vực đường ngang

Trường hợp đặc biệt, xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn của đường bộ, xe bánh xích gây hư hại mặt đường có thể được lưu hành qua đường ngang thì người điều khiển phương tiện phải:

- Tuân thủ Luật Giao thông đường bộ.

- Báo trước cho doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt hoặc chủ quản lý, sử dụng đường sắt chuyên dùng nơi có đường ngang mà xe cần đi qua để bố trí người và hướng dẫn đảm bảo an toàn.

Người dẫn dắt súc vật qua đường ngang phải đi sát mép đường bên phải. 

Trước khi qua đường ngang phải quan sát tàu đến từ hai phía đường sắt và chỉ được dẫn dắt súc vật đi qua khi có đủ điều kiện an toàn và hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu để xảy ra tai nạn.

Khi sắp đến đường ngang, người điều khiển tàu phải kéo còi, chú ý tín hiệu ngăn đường, tín hiệu cảnh báo đường ngang, chú ý quan sát đường ngang để nhanh chóng hãm tàu khi thấy có tín hiệu dừng tàu hoặc có trở ngại trên đường ngang.

Trường hợp bắt buộc phải dừng, đỗ tàu trên đường ngang; dồn tàu hoặc giải thể, lập tàu thì người phụ trách phải tìm mọi cách để đường bộ được nhanh chóng giải phóng tắc nghẽn giao thông.

Khi phải đỗ tàu trên đường ngang thì thời gian đỗ không được vượt quá 3 phút trên đường ngang cấp I, cấp II, không được vượt quá 5 phút trên đường ngang cấp III; trừ đường ngang có quy định riêng của Bộ GTVT.

Ngoài ra, thông tư 62 còn nói về việc quản lý, bảo trì, phòng vệ đường ngang (chương V), thủ tục thành lập, cải tạo, nâng cấp đường ngang (chương VI) và quy định chi tiết về các thiết bị báo hiệu đường ngang (chương III)

Thông tư 62/2015/TT-BGTVT Quy định về đường ngang có hiệu lực thi hành kể từ 01/01/2016. 

Từ khóa: Thông tư 62/2015/TT-BGTVT

3.035