Kiểm toán Nhà nước được trích 5% trên số tiền do KTNN phát hiện và kiến nghị

Đây là nội dung được quy định cụ thể tại Thông tư 165/2015/TT-BTC quy định về trích lập và sử dụng nguồn kinh phí được trích 5% trên số tiền đã nộp vào Ngân sách nhà nước do Kiểm toán nhà nước phát hiện và kiến nghị.

Theo đó, Kiểm toán Nhà nước được trích 5% trên số tiền do Kiểm toán nhà nước phát hiện và kiến nghị đã được thực hiện, gồm:

1. Các khoản tăng thu ngân sách nhà nước về thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác đã thực nộp vào ngân sách nhà nước, gồm:

  • Các khoản tăng thu do đơn vị được kiểm toán có nghĩa vụ kê khai, nộp ngân sách nhà nước nhưng không kê khai, kê khai sai, trốn thuế, gian lận thuế, hoặc do vi phạm các quy định khác về thu nộp ngân sách dẫn đến thiếu số thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác phải nộp ngân sách nhà nước hoặc tăng số thuế được hoàn theo quy định của pháp luật được Kiểm toán nhà nước phát hiện và kiến nghị, đơn vị được kiểm toán đã thực nộp vào ngân sách nhà nước;
  • Các khoản xử phạt vi phạm hành chính về thuế, truy thu thuế do Kiểm toán nhà nước phát hiện và kiến nghị cơ quan quản lý thuế xử phạt, truy thu đơn vị được kiểm toán đã thực nộp vào ngân sách nhà nước;
  • Các khoản kiến nghị tăng thu đơn vị được kiểm toán thực hiện nhưng thông qua phương thức bù trừ như: Điều chỉnh giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ thông qua việc điều chỉnh tờ khai thuế GTGT; thực hiện giảm lỗ thông qua việc điều chỉnh tờ khai quyết toán thuế TNDN; thực hiện kiến nghị tăng thu thông qua việc bù trừ với số thuế nộp thừa của sắc thuế tương ứng và các khoản bù trừ khác theo quy định của pháp luật.
  • Các khoản thu do các cơ quan, đơn vị đã thu của các đối tượng liên quan nhưng theo quy định của pháp luật thì không được phép thu hoặc thu vượt mức theo quy định của pháp luật được Kiểm toán nhà nước phát hiện và kiến nghị, đơn vị thực hiện thu đã thực nộp vào ngân sách nhà nước. Các khoản lãi phát sinh, tiền phạt chậm nộp ngân sách nhà nước do chiếm dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước đã được thu hồi và đã thực nộp vào ngân sách nhà nước.

2. Các khoản đã thực chi ngân sách sai chế độ đã nộp lại ngân sách nhà nước (đối với các khoản chi đã quyết toán), bao gồm:

  • Sai đơn giá, khối lượng, định mức và sai khác đối với các công trình đầu tư xây dựng cơ bản;
  • Sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước để chi cho những nội dung không thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước, không đúng nhiệm vụ được giao, sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu;
  •  Sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước giao không thực hiện tự chủ (đối với cơ quan hành chính) hoặc giao chi không thường xuyên (đối với đơn vị sự nghiệp) để chi cho nội dung theo quy định phải sử dụng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước giao tự chủ hoặc giao chi thường xuyên;
  •  Đơn vị báo cáo số liệu sai dẫn đến ngân sách nhà nước đã bố trí dự toán và cấp phát cho đơn vị số tiền cao hơn số tiền đơn vị được hưởng theo quy định;
  • Sử dụng phần kinh phí ngân sách theo quy định phải nộp trả ngân sách nhà nước nhưng đơn vị giữ lại để sử dụng.

3. Các khoản đã thực chi ngân sách sai chế độ đã được cơ quan có thẩm quyền xử lý giảm chi, giảm thanh toán, gồm:

  • Các khoản chi ngân sách sai chế độ (tại khoản 2 nêu trên) đang trong quá trình lập báo cáo quyết toán với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Kiểm toán nhà nước phát hiện và kiến nghị, được cơ quan có thẩm quyền xử lý giảm quyết toán chi ngân sách nhà nước;
  • Các khoản chi ngân sách sai chế độ (tại khoản 2 nêu trên) đang được tiếp tục thanh toán với ngân sách; Kiểm toán nhà nước phát hiện và kiến nghị, được cơ quan có thẩm quyền xử lý giảm thanh toán, giảm trừ dự toán với ngân sách nhà nước kỳ sau, năm sau.

4. Các khoản kinh phí bố trí dự toán vượt định mức phân bổ, sai nguồn do Kiểm toán nhà nước phát hiện và kiến nghị đã được cơ quan có thẩm quyền xử lý thu hồi nộp ngân sách nhà nước.

Chi tiết tại Thông tư 165/2015/TT-BTC từ ngày 01/01/2016.

Gởi câu hỏi

96

Văn bản liên quan