Những đề xuất mới ảnh hưởng trực tiếp đến mọi cán bộ, công chức, viên chức từ năm 2020 (Phần 1)

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức dự kiến có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2020. Theo đó, có nhiều đề xuất mới tác động trực tiếp đến mọi cán bộ, công chức, viên chức dự kiến cũng sẽ được áp dụng từ năm 2020.

1. Từ ngày 01/01/2020, sẽ không còn khống chế ngạch đối với công chức

Cụ thể, theo quy định tại Khoản 1 Điều 34 Luật cán bộ, công chức 2008, hiện nay, công chức được phân loại thành 04 loại theo các ngạch tương ứng như sau: Ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; ngạch chuyên viên hoặc tương đương; ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên.

Tuy nhiên, theo Khoản 4 Điều 1 Dự thảo đã sửa đổi, bổ sung nội dung này tại Luật cán bộ, công chức 2008. Theo đó, kể từ ngày 01/01/2020 sẽ không còn quy định khống chế ngạch công chức như hiện hành mà căn cứ vào lĩnh vực ngành nghề, chuyên môn nghiệp vụ, công chức được phân loại theo ngạch công chức tương ứng, các ngạch công chức, thứ bậc của từng ngạch công chức gắn với vị trí việc làm và tiền lương sẽ do Chính phủ quy định chi tiết.

2. Bỏ chế độ công chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập

Cụ thể, theo quy định tại Khoản 1 Điều 1 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức 2008 về định nghĩa công chức thì công chức không bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội như quy định hiện hành tại Luật cán bộ, công chức 2008.

Như vậy, nếu quy định này tại Dự thảo được thông qua thì từ ngày 01/01/2020 sẽ không còn chế độ công chức trong đơn vị sự nghiệp công lập như hiện nay nữa. 

3. Bổ sung thêm hình thức thực hiện nâng ngạch đối với công chức

Cụ thể, theo quy định tại Khoản 8 Điều 44 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Điều 44 Luật cán bộ, công chức 2008, việc nâng ngạch phải căn cứ vào vị trí việc làm, phù hợp với cơ cấu ngạch công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị và được thực hiện thông qua thi nâng ngạch hoặc xét nâng ngạch.

Như vậy, Dự thảo đã bổ sung thêm hình thức xét nâng ngạch bên cạnh hình thức thi nâng ngạch so với quy định hiện hành tại Luật cán bộ, công chức 2008.

4. Công chức nâng ngạch được bố trí vào vị trí việc làm tương ứng với ngạch công chức cao hơn

Cụ thể, theo Dự thảo này, từ ngày 01/01/2020, công chức có đủ tiêu chuẩn, điều kiện để đảm nhận vị trí việc làm tương ứng với ngạch cao hơn thì được đăng ký dự thi hoặc xét nâng ngạch.

Theo đó, những công chức trúng tuyển kỳ thi hoặc xét nâng ngạch công chức sẽ được bổ nhiệm vào ngạch công chức cao hơn và bố trí vào vị trí việc làm tương ứng.

5. Viên chức được tiếp nhận vào làm công chức phải đáp ứng các điều kiện nhất định

Cụ thể, theo Khoản 5 Điều 1 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Điều 37 Luật cán bộ, công chức 2008, viên chức đang công tác tại các đơn vị sự nghiệp công lập có thể được người đứng đầu cơ quan quản lý công chức quyết định tiếp nhận vào làm công chức mà không cần thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển.

Tuy nhiên, cũng theo Dự thảo này, người được tiếp nhận vào làm công chức phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của vị trí việc làm. Cụ thể, viên chức khi được tiếp nhận phải bảo đảm có ít nhất 05 năm công tác, không kể thời gian tập sự, ở vị trí việc làm yêu cầu trình độ đào tạo đại học trở lên phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng và có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Trường hợp thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không liên tục mà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần thì được cộng dồn.

6. Thay đổi quy định về chế độ thôi việc đối với viên chức

Cụ thể, theo Khoản 5 Điều 2 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 45 Luật Viên chức 2010viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm xã hội khi đơn vị sự nghiệp công lập đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức, trừ các trường hợp sau đây:

- Bị buộc thôi việc;

- Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc mà vi phạm quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 29 của Luật Viên chức 2010;

- Chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định tại khoản 5 Điều 28 của Luật Viên chức 2010.

Như vậy, Dự thảo đã quy định rõ chế độ thôi việc đối với viên chức khi bị đơn vị sự nghiệp công lập đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc chứ không quy định chung chung là chế độ đối với viên chức khi chấm dứt hợp đồng làm việc như hiện nay.

7. Viên chức đang trong thời hạn xử lý kỷ luật vẫn được giải quyết nghỉ hưu

Cụ thể, theo quy định tại Khoản 7 Điều 2 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Khoản 2, Khoản 3 Đều 56 Luật Viên chức 2010, viên chức bị kỷ luật từ khiển trách đến cách chức thì không thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực, tức vẫn có thể xem xét bổ nhiệm lại hoặc bố trí chức vụ thấp hơn. (hiện hành không để cập tới không bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn).

Đồng thời, cũng theo Dự thảo này, viên chức đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì không được bổ nhiệm, biệt phái, đào tạo, bồi dưỡng hoặc thôi việc. Điều này đồng nghĩa với việc, vẫn sẽ giải quyết chế độ nghỉ hưu cho viên chức đang trong thời hạn xử lý kỷ luật. (theo quy định hiện hành thì sẽ không giải quyết nghỉ hưu cho những đối tượng này).

8. Cán bộ, công chức sau khi nghỉ việc, nghỉ hưu vẫn có thể bị xử lý kỷ luật

Cụ thể, theo theo Khoản 16 Điều 1 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Điều 84 Luật cán bộ, công chức 2008, cán bộ, công chức, viên chức sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật sau đây:

1. Khiển trách.

2. Cảnh cáo.

3. Xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm tại thời điểm có hành vi vi phạm.

Như vậy, nếu nội dung này tai Dự thảo được thông qua thì từ ngày 01/01/2020, cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm trước đó vẫn sẽ bị xử lý kỷ luật theo một trong 03 hình thức nêu trên dù đã nghỉ hưu hoặc nghỉ việc.

9. Không tính thời hiệu kỷ luật với cán bộ, công chức trong một số trường hợp

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 80 Luật Cán bộ, công chức 2008 thì thời hiệu xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức được xác định là 24 tháng, kể từ thời điểm có hành vi vi phạm, nhưng Dự thảo đã tăng thời hiệu này lên mức là 60 tháng, kể từ thời điểm có hành vi phạm.

Dự thảo cũng đưa ra quy định là không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật đối với một số hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng như sau:

- Cán bộ, công chức là đảng viên có hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ;

- Có hành vi vi phạm về công tác bảo vệ chính trị nội bộ;

- Có hành vi xâm hại đến lợi ích quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại;

- Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận, xác nhận giả, không hợp pháp.

Như vậy, cán bộ, công chức sẽ không được áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật và bị xem xét xử lý kỷ luật vào bất cứ thời điểm nào nếu bị phát hiện là có một trong các hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng nêu trên.

Nguyễn Trinh 

2,360

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan