03 điểm mới về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ 2021

Bộ Luật lao động 2019 sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 đã có nhiều thay đổi so với Bộ Luật lao động 2012. Vậy, từ năm 2021, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có gì mới so với quy định hiện tại?

đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

03 điểm mới về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ năm 2021 (Ảnh minh họa)

Người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Theo đó, Bộ Luật lao động 2019 đã quy định 03 điểm mới về  quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động so với quy định hiện hành như sau:

Thứ nhất: NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do

Theo quy định tại Điều 35 Bộ Luật lao động 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử đụng lao động biết trước:

  • Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

  • Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

  • Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

Lưu ý: Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Theo quy định tại Bộ Luật lao động 2012 (sẽ hết hiệu lực ngày 01/01/2021), người lao động nếu muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải có lý do và phải báo trước với NSDLĐ đối với HĐLĐ với xác định thời hạn (12-36 tháng) và HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định (dưới 12 tháng). Đồng thời, đối với HĐLĐ không xác định thời hạn, NLĐ nếu muốn đơn phương chấm dứt đơn phương chấm dứt HĐLĐ thì không cần lý do và phải thông báo trước 45 ngày.

Như vậy, có thể thấy, từ ngày 01/01/2021, trong mọi trường hợp NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà chỉ cần tuân thủ yêu cầu về thời gian thông báo trước với NSDLĐ (thời gian báo trước tùy thuộc vào HĐLĐ đã ký kết) mà không cần lý do như BLLĐ hiện hành. Bên cạnh đó, NLĐ cũng cần lưu ý từ ngày 01/01/2021 sẽ không còn Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định khi giao kết HĐLĐ.

Thứ hai: NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước

Căn cứ theo khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động 2019, NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ không cần báo trước trong các trường hợp đặc biệt sau đây:

- Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận;

- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn;

- Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

- Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi;

- Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực khi giao kết HĐLĐ làm ảnh hưởng đến việc thực hiện HĐLĐ.

Đây là quy định mới so với Bộ Luật lao động hiện hành, Bộ Luật lao động 2019 đã quy định chi tiết các trường hợp cho phép người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước. Do đó, NLĐ có thể tự đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần phải báo trước nếu xét thấy NSDLĐ có những hành vi vi phạm những quyền lợi của NLĐ theo quy định trên.

Thứ ba: NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi NLĐ tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày trở lên

Bên cạnh quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NLĐ, Bộ Luật lao động 2019 cũng bổ sung thêm 03 trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Cụ thể, tại điểm đ, e và g khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 quy định người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau:

  • Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

  • Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;

  • Người lao động cung cấp không trung thực thông tin về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

Như vậy, bên cạnh các trường hợp được kế thừa từ quy định cũ, NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi NLĐ tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày trở lên, NLĐ đủ tuổi nghỉ hưu hoặc NLĐ không cung cấp đầy đủ thông tin khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động. Có thể thấy, BLLĐ 2019 bổ sung thêm các trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhằm mục đích cân bằng quyền lợi giữa NLĐ và NSDLĐ và đảm bảo quyền lợi giữa 02 bên.

Ty Na

2,738

Gởi câu hỏi
Văn bản liên quan