• Lữu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Luật Hải quan


Công văn 1158/TCHQ-TXNK năm 2018 vướng mắc về trị giá hải quan do Tổng cục Hải quan ban hành

Bản Tiếng Việt

B TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC HẢI QUAN
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1158/TCHQ-TXNK
V/v vướng mắc về trị giá hải quan

Hà Nội, ngày 05 tháng 03 năm 2018

 

Kính gửi: Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh.

Tổng cục Hải quan nhận được văn bản số 309/HQHCM-TXNK ngày 30/1/2018 của Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh về việc Hiệp hội doanh nghiệp Châu Âu (Eurocham) ban hành “Sách trắng” về trị giá tính thuế (vào trung tuần tháng 3/2018). Theo đó, Cục Hải quan tp Hồ Chí Minh đã có buổi làm việc với Hiệp hội doanh nghiệp Châu Âu (Eurocham) thảo luận các vấn đề mà Hiệp hội dự kiến ban hành. Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:

I. Về một số nội dung phản ánh của Hiệp hội

1. Về thông báo nghi vn:

1.1. Ý kiến của Hiệp hội: “... Các trường hợp trị giá khai báo bị hải quan nghi vấn không được thông báo cho các doanh nghiệp, các doanh nghiệp thường lúng túng về thủ tục khai báo...”.

1.2. Ý kiến của Tổng cục Hải quan:

Căn cứ quy định Điều 3 Thông tư 39/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính thì: Người khai hải quan tự kê khai, tự xác định trị giá hải quan theo các nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan quy định tại Luật Hải quan s 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014, Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 của Chính phủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, tính trung thực về việc khai báo nêu trên.

Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 25 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính thì: Trường hợp cơ quan Hải quan có nghi vấn về trị giá khai báo, cơ quan hải quan thông báo nghi vấn thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu của cơ quan hải quan (Vnaccs) hoặc thông báo theo mẫu số 02A/TBNVTG/TXNK phụ lục VI ban hành kèm thông tư này đối với trường hợp khai hải quan trên tờ khai hải quan giấy.

Như vậy, quy định hiện nay tại văn bản pháp luật đã quy định đầy đủ, rõ ràng về trách nhiệm của người khai hải quan trong việc khai báo trị giá và trách nhiệm của cơ quan hải quan thông báo nghi vấn trong trường hợp có nghi vấn về trị giá khai báo.

2. Về việc xác định trị giá hải quan:

2.1. Ý kiến của Hiệp hội:

- Việc xác định trị giá thường dựa trên cơ sở dữ liệu của cơ quan hải quan hoặc bằng 80% mức giá xác định trực tuyến. Tuy nhiên, Điều 22.2 Nghị định 08/2015/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 21/5/2015 nêu rõ “ Cơ sở dữ liệu giá là căn cứ để đánh giá rủi ro của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ...Thông tin này chỉ được cung cấp cho cán bộ hải quan và không được chia sẻ với các doanh nghiệp có thể xác thực thông tin đó”;

- Theo nội dung quy định tại Điều 17.5 Thông tư số 39/2015/TT-BTC thì định nghĩa của thuật ngữ “Không phù hợp” cần được làm rõ vì trên thực tế Điều này thường được hiểu lầm dẫn đến tình trạng xác định giá tràn lan.

2.2. Ý kiến của cơ quan hải quan:

- Về việc xác định trị giá hải quan: Trong quá trình thực hiện tham vấn hoặc kiểm tra sau thông quan, trường hợp cơ quan hải quan có đủ cơ sở bác bỏ trị giá khai báo thì thực hiện xác định trị giá hải quan theo đúng trình tự, nguyên tắc, phương pháp xác định trị giá quy định tại Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 và phải thông báo cho người khai hải quan biết mức giá, phương pháp xác định. Các thông tin được sử dụng để xác định trị giá là thông tin tương ứng với phương pháp xác định trị giá được cơ quan hải quan áp dụng (ví dụ: trị giá hải quan của hàng hóa giống hệt tại Tờ khai hàng hóa nhập khẩu có trong cơ sở dữ liệu giá của cơ quan hải quan nếu áp dụng phương pháp Trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt). Khi thu thập thông tin phải thực hiện kiểm chứng thông tin và quy đổi về cùng Điều kiều kiện mua bán hàng hóa.

Như vậy, cơ quan hải quan không xác định trị giá hải quan dựa vào 80% mức giá được xác định trực tuyến như phản ánh.

- Về thuật ngữ “không phù hợp”: Đối với trường hợp nêu tại Khoản 5 Điều 17 Thông tư số 39/2015/TT-BTC thì trường hợp cơ quan hải quan có căn cứ xác định trị giá khai báo không phù hợp là các trường hợp cơ quan hải quan có đủ căn cứ bác bỏ trị giá khai báo theo quy định tại Điều 33 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ thì cơ quan hải quan thực hiện xác định trị giá hải quan theo trình tự nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan quy định từ Điều 8 đến Điều 12 Thông tư này.

Như vậy, nội dung nêu trên đã được quy định đầy đủ tại văn bản pháp luật hiện hành.

3. Về cơ sở dữ liệu trị giá:

3.1. Ý kiến của Hiệp hội: “ Cơ sở dữ liệu giá là căn cứ để đánh giá rủi ro của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ...Thông tin này chỉ được cung cấp cho cán bộ hải quan và không được chia sẻ với các doanh nghiệp có thể xác thực thông tin đó”.

3.2. Ý kiến ca cơ quan hải quan:

Căn cứ quy định Điều 3 Thông tư 39/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính thì: Người khai hải quan tự kê khai, tự xác định trị giá hải quan theo các nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan quy định tại Luật Hải quan s54/2014/QH13 ngày 23/6/2014, Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 của Chính phủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, tính trung thực về việc khai báo nêu trên.

Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 22 Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính thì Danh Mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu rủi ro về trị giá và mức giá tham chiếu là cơ sở để cơ quan hải quan so sánh, đối chiếu, kiểm tra trị giá khai báo của người khai hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan hoặc sau khi hàng hóa đã thông quan theo quy định, không sử dụng để áp đặt trị giá hải quan, được lưu hành nội bộ và sử dụng thống nhất trong ngành Hải quan.

Như vậy, trách nhiệm của doanh nghiệp là tự kê khai trị giá thanh toán hay sẽ phải thanh toán và chịu trách nhiệm về tính chính xác của trị giá khai báo. Cơ sở dữ liệu trị giá chỉ được dùng để xác định dấu hiệu nghi vấn, không được sử dụng để áp đặt trị giá hải quan và chỉ được lưu hành nội bộ trong ngành hải quan.

4. Về tổ chức thực hiện:

4.1. Ý kiến của Hiệp hội: Trong một số trường hợp trị giá khai báo bị cơ quan hải quan nghi vấn nhưng cán bộ hải quan không thông báo nghi vấn cho doanh nghiệp; Một số trường hợp doanh nghiệp không nhận được thông báo chính thức từ cán bộ hải quan về rõ lý do, phương thức xác định trị giá hải quan, cơ sở xác định trị giá hải quan; Xác định trị giá hải quan áp dụng giữa các cơ quan hải quan khác nhau; Lạm dụng chức vụ dẫn đến nguy cơ vòi vĩnh, tiếp nhận các Khoản tiền phi pháp...

4.2. Ý kiến của cơ quan hải quan: Hiệp định trị giá hải quan của WTO đã được nội luật hóa đầy đủ tại các văn bản pháp quy: Luật Hải quan số 54, Khoản 1 Điều 39 Luật Quản lý thuế, Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính Phủ, Điều 33 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ, Thông tư 39/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của B Tài chính.

Văn bản quy phạm pháp luật đã quy định đầy đủ, rõ ràng và minh bạch trong việc thực hiện kiểm tra, xác định dấu hiệu nghi vấn, cơ sở bác bỏ trị giá khai báo, xác định trị giá hải quan. Tuy nhiên, một số công chức tại một số Cục Hải quan tỉnh, thành phố thực hiện chưa đúng quy định nêu trên. Để chấm dứt tình trạng này, Tổng cục Hải quan đã ban hành một số văn bản chấn chỉnh việc thực hiện không đúng quy định của tại số Cục Hải quan tỉnh, thành phố.

II. Một số kiến nghị:

1. Ý kiến của Hiệp hội: Đề nghị Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan cần xem xét các thủ tục và thông tin rõ ràng tại dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 08/2015/NĐ-CP và Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 38/2015/TT-BTC ; bổ sung quyền xác định trị giá trong một số trường hợp; Phổ biến các quy định về trị giá hải quan cho cán bộ hải quan.

2. Ý kiến của Tổng cục Hải quan:

- Các nội dung này, Tổng cục Hải quan đã tiếp thu và đưa vào dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 08/2015/NĐ-CP và Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 38/2015/TT-BTC theo hướng minh bạch, rõ ràng, tạo Điều kiện cho doanh nghiệp.

- Về việc phổ biến các quy định về trị giá hải quan: Tổng cục Hải quan tiếp thu đề nghị của Hiệp hội doanh nghiệp Châu Âu và sẽ triển khai trong thời gian sớm nhất sau khi Nghị định sửa đổi Nghị định số 08/2015/NĐ-CP và Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 38/2015/TT-BTC ban hành.

- Tổng cục Hải quan sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp nâng cao trình độ tác nghiệp, chấn chỉnh các biểu hiện tùy tiện, thực hiện không đúng quy định, lạm dụng chức vụ, vòi vĩnh, tiêu cực... của công chức hải quan.

- Đề nghị Hiệp hội, các doanh nghiệp phối hợp, kịp thời phản ánh về trường hợp công chức hải quan thực hiện không đúng, nhũng nhiễu, tiêu cực,... để Tổng cục Hải quan và các đơn vị kịp thời xử lý, chấn chỉnh.

Tổng cục Hải quan thông báo để Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh trao đi với Hiệp hội doanh nghiệp Châu Âu./.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Lãnh đạo Tổng cục Hải quan (để b/c);
- Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu (để biết); (Đ/c: Tầng 3B, Horison Tower, 40 Cát Linh, HN)
- Vụ Hợp tác Quốc tế - Tổng cục Hải quan (để biết);
- Các Cục Hải quan tỉnh, thành phố (để phối hợp);
- Lưu: VT, TXNK-TGHQ (Hằng A-5b).

KT.TNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ T
ỔNG CỤC TRƯỞNG




N
guyễn Dương Thái

 

Điều 3. Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan; trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan hải quan

1. Người khai hải quan tự kê khai, tự xác định trị giá hải quan theo các nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan quy định tại Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014, Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan và Thông tư này; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, tính trung thực của các nội dung kê khai và kết quả tự xác định trị giá hải quan; nộp, xuất trình các chứng từ, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan hải quan, việc nộp các chứng từ, tài liệu thực hiện theo quy định tại Điều 3 Thông tư quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; tham vấn để trao đổi, làm rõ nghi vấn của cơ quan hải quan liên quan đến trị giá khai báo; yêu cầu cơ quan hải quan thông báo bằng văn bản về trị giá tính thuế, cơ sở, phương pháp được sử dụng để xác định trị giá hải quan trong trường hợp trị giá hải quan do cơ quan hải quan xác định.

2. Khi kiểm tra việc khai báo và xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của người khai hải quan, cơ quan hải quan có quyền yêu cầu người khai hải quan nộp, xuất trình các chứng từ, tài liệu có liên quan đến phương pháp xác định trị giá khai báo theo quy định tại Thông tư này để chứng minh tính chính xác, tính trung thực của trị giá khai báo;

3. Cơ quan hải quan xác định trị giá hải quan căn cứ nguyên tắc, các phương pháp xác định trị giá hải quan, cơ sở dữ liệu trị giá, các tài liệu, chứng từ có liên quan quy định tại Thông tư này trong các trường hợp sau:

a) Người khai hải quan không xác định được trị giá hải quan theo các phương pháp quy định tại Thông tư này;

b) Trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 5 Điều 17 Thông tư này.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 25. Kiểm tra trị giá hải quan
...
2. Xử lý kết quả kiểm tra:

a) Trường hợp có đủ cơ sở bác bỏ trị giá khai báo: Cơ quan hải quan thông báo cơ sở bác bỏ trị giá khai báo và xử lý như sau:

a.1) Nếu người khai hải quan đồng ý với cơ sở bác bỏ trị giá khai báo của cơ quan hải quan thì thực hiện khai bổ sung trong thời hạn tối đa 05 ngày kể từ ngày cơ quan hải quan thông báo, cơ quan hải quan thực hiện xử phạt vi phạm hành chính và thông quan hàng hóa theo quy định.

Việc khai bổ sung thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 20 Thông tư này;

a.2) Nếu người khai hải quan không đồng ý với cơ sở bác bỏ trị giá khai báo hoặc quá thời hạn 05 ngày kể từ ngày cơ quan hải quan thông báo mà không khai bổ sung thì cơ quan hải quan thông quan theo trị giá khai báo và chuyển các cơ sở bác bỏ trị giá khai báo để thực hiện kiểm tra sau thông quan.

b) Trường hợp có nghi vấn về trị giá khai báo nhưng chưa đủ cơ sở bác bỏ, cơ quan hải quan thông báo nghi vấn thông qua Hệ thống hoặc theo mẫu số 02A/TBNVTG/TXNK phụ lục VI ban hành kèm theo Thông tư này đối với trường hợp khai hải quan trên tờ khai hải quan giấy, đồng thời yêu cầu người khai hải quan nộp bổ sung các chứng từ, tài liệu có liên quan phù hợp với phương pháp xác định trị giá khai báo theo quy định tại Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (01 bản chụp):

b.1) Trong thời hạn tối đa 05 ngày kể từ ngày cơ quan hải quan thông báo, người khai hải quan nộp bổ sung chứng từ, tài liệu theo yêu cầu và đề nghị tham vấn (nêu rõ thời gian tham vấn), cơ quan hải quan giải phóng hàng hóa theo quy định tại Điều 33 Thông tư này, tổ chức tham vấn theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b.2) Quá thời gian 05 ngày kể từ ngày cơ quan hải quan thông báo, người khai hải quan không nộp bổ sung hồ sơ, chứng từ theo yêu cầu hoặc không đề nghị tham vấn, cơ quan hải quan thông quan theo trị giá khai báo, chuyển các nghi vấn để thực hiện kiểm tra sau thông quan theo quy định.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 22. Cơ sở dữ liệu trị giá hải quan
...
2. Cơ sở dữ liệu trị giá hải quan là căn cứ để đánh giá rủi ro về trị giá của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 17. Trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong một số trường hợp đặc biệt
...
5. Hàng hóa nhập khẩu không có hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc không có hóa đơn thương mại, trị giá hải quan là trị giá khai báo. Trường hợp có căn cứ xác định trị giá khai báo không phù hợp thì cơ quan hải quan xác định trị giá hải quan theo nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan quy định từ Điều 8 đến Điều 12 Thông tư này.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 17. Trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong một số trường hợp đặc biệt
...
5. Hàng hóa nhập khẩu không có hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc không có hóa đơn thương mại, trị giá hải quan là trị giá khai báo. Trường hợp có căn cứ xác định trị giá khai báo không phù hợp thì cơ quan hải quan xác định trị giá hải quan theo nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan quy định từ Điều 8 đến Điều 12 Thông tư này.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 33. Ấn định số tiền thuế

1. Người nộp thuế bị cơ quan thuế ấn định số tiền thuế phải nộp trong các trường hợp sau:

a) Không đăng ký thuế theo quy định tại Điều 22 Luật quản lý thuế;

b) Không nộp hồ sơ khai thuế trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định;

c) Không bổ sung hồ sơ khai thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế hoặc đã bổ sung hồ sơ khai thuế nhưng không đầy đủ, trung thực, chính xác các căn cứ tính thuế để xác định số thuế phải nộp;

d) Không xuất trình tài liệu kế toán, hóa đơn, chứng từ và các tài liệu liên quan đến việc xác định các yếu tố làm căn cứ tính thuế khi đã hết thời hạn kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế;

đ) Trường hợp kiểm tra thuế, thanh tra thuế, có căn cứ chứng minh người nộp thuế hạch toán kế toán không đúng quy định, số liệu trên sổ kế toán không đầy đủ, không chính xác, trung thực dẫn đến không xác định đúng các yếu tố làm căn cứ tính số thuế phải nộp;

e) Có dấu hiệu bỏ trốn hoặc phát tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thuế;

g) Đã nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan quản lý thuế nhưng không tự tính được số thuế phải nộp.

2. Đối với một số ngành nghề, hoạt động kinh doanh qua kiểm tra, thanh tra phát hiện có sổ sách kế toán, hóa đơn, chứng từ không đầy đủ hoặc kê khai, tính thuế không đúng với thực tế thì cơ quan thuế ấn định tỷ lệ giá trị gia tăng, tỷ lệ thu nhập tính trên doanh thu theo quy định của pháp luật.

3. Người nộp thuế bị cơ quan hải quan ấn định thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong các trường hợp sau:

a) Khai thuế dựa vào các tài liệu không hợp pháp để khai thuế, tính thuế; không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ, chính xác các nội dung liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế;

b) Từ chối hoặc trì hoãn, kéo dài quá thời hạn quy định về việc cung cấp các tài liệu liên quan theo yêu cầu của cơ quan hải quan để xác định số thuế phải nộp; không chứng minh hoặc quá thời hạn quy định mà không giải trình được các nội dung liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật; không chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra của cơ quan hải quan.

c) Cơ quan hải quan có đủ cơ sở chứng minh việc khai báo trị giá hải quan của người nộp thuế không đúng với trị giá giao dịch thực tế;

d) Người khai thuế không tự tính được số thuế phải nộp;

đ) Các trường hợp khác do cơ quan hải quan hoặc cơ quan khác phát hiện việc kê khai, tính thuế không đúng với quy định của pháp luật;

Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan; Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, thành phố; Chi cục trưởng Chi cục Hải quan có thẩm quyền ấn định thuế quy định tại khoản này.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 3. Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan; trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan hải quan

1. Người khai hải quan tự kê khai, tự xác định trị giá hải quan theo các nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan quy định tại Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014, Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan và Thông tư này; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, tính trung thực của các nội dung kê khai và kết quả tự xác định trị giá hải quan; nộp, xuất trình các chứng từ, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan hải quan, việc nộp các chứng từ, tài liệu thực hiện theo quy định tại Điều 3 Thông tư quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; tham vấn để trao đổi, làm rõ nghi vấn của cơ quan hải quan liên quan đến trị giá khai báo; yêu cầu cơ quan hải quan thông báo bằng văn bản về trị giá tính thuế, cơ sở, phương pháp được sử dụng để xác định trị giá hải quan trong trường hợp trị giá hải quan do cơ quan hải quan xác định.

2. Khi kiểm tra việc khai báo và xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của người khai hải quan, cơ quan hải quan có quyền yêu cầu người khai hải quan nộp, xuất trình các chứng từ, tài liệu có liên quan đến phương pháp xác định trị giá khai báo theo quy định tại Thông tư này để chứng minh tính chính xác, tính trung thực của trị giá khai báo;

3. Cơ quan hải quan xác định trị giá hải quan căn cứ nguyên tắc, các phương pháp xác định trị giá hải quan, cơ sở dữ liệu trị giá, các tài liệu, chứng từ có liên quan quy định tại Thông tư này trong các trường hợp sau:

a) Người khai hải quan không xác định được trị giá hải quan theo các phương pháp quy định tại Thông tư này;

b) Trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 5 Điều 17 Thông tư này.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 22. Thẩm quyền xây dựng, bổ sung, sửa đổi; nguyên tắc sử dụng Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu rủi ro về trị giá và mức giá tham chiếu
...
2. Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu rủi ro về trị giá và mức giá tham chiếu là cơ sở để cơ quan hải quan so sánh, đối chiếu, kiểm tra trị giá khai báo của người khai hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan hoặc sau khi hàng hóa đã thông quan theo quy định, không sử dụng để áp đặt trị giá hải quan, được lưu hành nội bộ và sử dụng thống nhất trong ngành Hải quan.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 39. Ấn định thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

1. Cơ quan hải quan ấn định thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong các trường hợp sau đây:

a) Người khai thuế dựa vào các tài liệu không hợp pháp để khai báo căn cứ tính thuế, tính và kê khai số thuế phải nộp; không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ, chính xác các căn cứ tính thuế làm cơ sở cho việc tính thuế;

b) Người khai thuế từ chối hoặc trì hoãn, kéo dài quá thời hạn quy định việc cung cấp các tài liệu liên quan cho cơ quan hải quan để xác định chính xác số thuế phải nộp;

c) Cơ quan hải quan có đủ bằng chứng về việc khai báo trị giá không đúng với trị giá giao dịch thực tế;

d) Người khai thuế không tự tính được số thuế phải nộp.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Điều 33. Ấn định số tiền thuế

1. Người nộp thuế bị cơ quan thuế ấn định số tiền thuế phải nộp trong các trường hợp sau:

a) Không đăng ký thuế theo quy định tại Điều 22 Luật quản lý thuế;

b) Không nộp hồ sơ khai thuế trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định;

c) Không bổ sung hồ sơ khai thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế hoặc đã bổ sung hồ sơ khai thuế nhưng không đầy đủ, trung thực, chính xác các căn cứ tính thuế để xác định số thuế phải nộp;

d) Không xuất trình tài liệu kế toán, hóa đơn, chứng từ và các tài liệu liên quan đến việc xác định các yếu tố làm căn cứ tính thuế khi đã hết thời hạn kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế;

đ) Trường hợp kiểm tra thuế, thanh tra thuế, có căn cứ chứng minh người nộp thuế hạch toán kế toán không đúng quy định, số liệu trên sổ kế toán không đầy đủ, không chính xác, trung thực dẫn đến không xác định đúng các yếu tố làm căn cứ tính số thuế phải nộp;

e) Có dấu hiệu bỏ trốn hoặc phát tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thuế;

g) Đã nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan quản lý thuế nhưng không tự tính được số thuế phải nộp.

2. Đối với một số ngành nghề, hoạt động kinh doanh qua kiểm tra, thanh tra phát hiện có sổ sách kế toán, hóa đơn, chứng từ không đầy đủ hoặc kê khai, tính thuế không đúng với thực tế thì cơ quan thuế ấn định tỷ lệ giá trị gia tăng, tỷ lệ thu nhập tính trên doanh thu theo quy định của pháp luật.

3. Người nộp thuế bị cơ quan hải quan ấn định thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong các trường hợp sau:

a) Khai thuế dựa vào các tài liệu không hợp pháp để khai thuế, tính thuế; không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ, chính xác các nội dung liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế;

b) Từ chối hoặc trì hoãn, kéo dài quá thời hạn quy định về việc cung cấp các tài liệu liên quan theo yêu cầu của cơ quan hải quan để xác định số thuế phải nộp; không chứng minh hoặc quá thời hạn quy định mà không giải trình được các nội dung liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật; không chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra của cơ quan hải quan.

c) Cơ quan hải quan có đủ cơ sở chứng minh việc khai báo trị giá hải quan của người nộp thuế không đúng với trị giá giao dịch thực tế;

d) Người khai thuế không tự tính được số thuế phải nộp;

đ) Các trường hợp khác do cơ quan hải quan hoặc cơ quan khác phát hiện việc kê khai, tính thuế không đúng với quy định của pháp luật;

Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan; Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, thành phố; Chi cục trưởng Chi cục Hải quan có thẩm quyền ấn định thuế quy định tại khoản này.

Xem nội dung VB
Click vào để xem nội dung
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 1158/TCHQ-TXNK   Loại văn bản: Công văn
Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan   Người ký: Nguyễn Dương Thái
Ngày ban hành: 05/03/2018   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đang cập nhật   Số công báo: Đang cập nhật
Lĩnh vực: Tài chính   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Công văn 1158/TCHQ-TXNK

97

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
376450