• Lưu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Bộ luật Hình sự 2015


Văn bản pháp luật về Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

Văn bản pháp luật về Hướng dẫn Bộ luật Hình sự

 

Bộ luật Hình sự 1985

Tải về Bộ luật Hình sự 1985
Bản Tiếng Việt

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 17-LCT/HĐNN7

Hà Nội, ngày 27 tháng 6 năm 1985

 

BỘ LUẬT HÌNH SỰ

CỦA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM SỐ  17-LCT/HĐNN7

LỜI NÓI ĐẦU

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới của cách mạng, đã quy định "Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa".

Trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật hình sự có vị trí rất quan trọng. Nó là một công cụ sắc bén của Nhà nước chuyên chính vô sản để bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh chống và phòng ngừa mọi hành vi phạm tội, góp phần hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bộ luật hình sự này kế thừa và phát triển Luật hình sự của Nhà nước ta từ Cách mạng tháng Tám đến nay, tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm ở nước ta trong mấy chục năm qua và có dự kiến tình hình diễn biễn của tội phạm trong thời gian tới.

Bộ luật hình sự thấu suốt quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta do giai cấp công nhân lãnh đạo, thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiến quyết đấu tranh chống tội phạm; thể hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta là xử phạt người phạm tội không chỉ nhằm trừng trị mà còn giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội; thể hiện tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa và lòng tin vào khả năng cải tạo con người dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thi hành nghiêm chỉnh Bộ luật hình sự là nhiệm vụ chung của tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và của toàn thể nhân dân.

PHẦN CHUNG

Chương 1:

ĐIỀU KHOẢN CƠ BẢN

Điều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự.

Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.

Để thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ luật quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội.

Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự.

Chỉ người nào phạm một tội đã được Luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Hình phạt phải do Toà án quyết định.

Điều 3. Nguyên tắc xử lý.

1- Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật.

2- Nghiêm trị kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, kẻ ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm, kẻ biến chất, sa đoạ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, kẻ phạm tội có tổ chức, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng. Khoan hồng đối với người tự thú, thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại đã gây ra.

3- Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng và đã hối cải thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc gia đình giám sát, giáo dục.

4- Đối với người phạt tù thì buộc họ phải chấp nhận hình phạt trong trại giam, phải lao động, cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội. Nếu họ có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt.

5- Đối với người đã chấp hành xong hình phạt thì tạo điều kiện cho họ làm ăn, sinh sống lương thiện; khi họ có đủ điều kiện do luật định thì xoá án.

Điều 4. Trách nhiệm đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.

1- Các cơ quan Công an, Kiểm sát, Toà án, Tư pháp và Thanh tra có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội.

2- Các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác cách mạng, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức mình.

3- Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.

Chương 2:

PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Điều 5. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

1- Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2- Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các hiệp định quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hay công nhận hoặc theo tục lệ quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Điều 6. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

1- Công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này.

Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2- Người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam trong những trường hợp được quy định trong các hiệp định quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hay công nhận.

Điều 7. Hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian.

1- Điều luật áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành khi hành vi ấy được thực hiện.

2- Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành, trừ trường hợp luật quy định khác.

3- Điều luật xoá bỏ một tội phạm hoặc quy định một hình phạt nhẹ hơn được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã được thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành.

Chương 3:

TỘI PHẠM

Điều 8. Khái niệm tội phạm.

1- Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chế độ kinh tế và sở hữu xã hội chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

2- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Những tội phạm khác là tội phạm ít nghiêm trọng.

3- Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Điều 9. Cố ý phạm tội.

Cố ý phạm tội là phạm tội trong trường hợp nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Điều 10. Vô ý phạm tội.

Vô ý phạm tội là phạm tôi trong những trường hợp sau đây:

a) Người phạm tôi do cẩu thả mà không thấy trước khả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước.

b) Người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

Điều 11. Sự kiện bất ngờ.

Người thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 12. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự.

1- Người thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối với người này sẽ áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

2- Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng nói ở khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

3- Người phạm tội do say rượu hoặc do dùng chất kích thích mạnh khác thì không được miễn trách nhiệm hình sự.

Điều 13. Phòng vệ chính đáng.

1- Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của chính mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách tương xứng người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2- Nếu hành vi chống trả rõ ràng là quá đáng, tức là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì người có hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 14. Tình thế cấp thiết.

1- Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là phạm tội.

2- Nếu gây thiệt hại rõ ràng là quá đáng, tức là vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người có hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 15. Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt.

1- Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm.

Người chuẩn bị phạm một tội nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm hình sự.

2- Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

3- Đối với những hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các Điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng, tuỳ theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

Tự ý nửa chứng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố của một tội khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Điều 17. Đồng phạm.

1- Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm.

2- Người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3- Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

4- Khi quyết định hình phạt, phải xét đến tính chất đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự riêng cho người đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với người đó.

Điều 18. Che giấu tội phạm.

Người nào tuy không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

Điều 19. Không tố giác tội phạm.

Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

Chương 4:

HÌNH PHẠT

Điều 20. Mục đích của hình phạt.

Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.

Điều 21. Các hình phạt.

1- Đối với người phạm tội, chỉ áp dụng một trong các hình phạt chính sau đây:

- Cảnh cáo;

- Phạt tiền;

- Cải tạo không giam giữ; cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân

đội;

- Tù có thời hạn;

- Tù chung thân;

- Tử hình;

2- Kèm theo hình phạt chính, có thể áp dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ sung sau đây:

- Cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc

nhất định;

- Cấm cư trú;

- Quản chế;

- Tước một số quyền công đân;

- Tước danh hiệu quân nhân;

- Tịch thu tài sản;

- Phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính;

Điều 22. Cảnh cáo.

Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt.

Điều 23. Phạt tiền.

Phạt tiền được áp dụng đối với người phạm các tội có tính chất vụ lợi, các tội có dùng tiền làm phương tiện hoạt động trong những trường hợp khác do luật này quy định.

Chỉ trong trường hợp có Điều luật quy định thì phạt tiền mới được áp dụng là hình phạt chính.

Mức phạt tiền được quyết định theo mức độ nghiêm trọng của tội đã phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội.

Điều 24. Cải tạo không giam giữ.

1- Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến hai năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng.

Nếu người bị kết án đã bị tạm giam thì thời gian tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ mọt ngày tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ.

2- Toà án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để giám sát, giáo dục.

3- Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và có thể bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để xung quỹ Nhà nước.

4- Đối với người phạm tội là quân nhân tại ngũ, trong trường hợp Điều luật quy định hình phạt cải tạo không giam giữ thì áp dụng hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội quy định ở Điều 70.

Điều 25. Tù có thời hạn.

Tù có thời hạn là hình phạt buộc người bị kết án phải bị giam trong thời gian từ ba tháng đến hai mươi năm.

Thời gian tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Điều 26. Hình phạt chung thân.

Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng chưa đến mức bị xử phạt tử hình.

Không áp dụng tù chung thân đối với người chưa thành niên phạm tội.

Điều 27. Tử hình.

Tử hình là hình phạt đặc biệt được áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

Không áp dụng tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Tử hình được hoãn thi hành đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới mười hai tháng.

Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm thì tử hình chuyển thành tù chung thân.

Chỉ trong trường hợp đặc biệt có luật quy định riêng thì tử hình mới được thi hành ngay sau khi xét xử.

Điều 28. Cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định.

Cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để người bị kết án đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc đó thì có thể gây nguy hại cho xã hội.

Thời hạn cấm là từ hai năm đến năm năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu là hình phạt chính khác.

Điều 29. Cấm cư trú.

Cấm cư trú là buộc người bị kết án không được tạm trú và thường trú ở một số địa phương nhất định.

Thời hạn cấm cư trú là từ một năm đến năm năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Điều 30. Quản chế.

Quản chế là buộc người bị kết án phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định, dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương. Trong thời gian quản chế, người bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân theo Điều 31 và bị cấm một số nghề hoặc công việc nhất định.

Quản chế được áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, người tái phạm nguy hiểm hoặc trong những trường hợp khác do luật quy định.

Thời hạn quản chế là từ một năm đến năm năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Điều 31. Tước một số quyền công dân

Công dân Việt Nam phạm các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc phạm các tội khác trong những trường hợp Bộ luật này quy định, thì bị tước hoặc có thể bị tước một số quyền công dân dưới đây:

- Quyền bầu cử đại biểu các cơ quan quyền lực nhà nước;

- Quyền làm việc trong các cơ quan Nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân;

- Quyền đảm nhiệm cương vị phụ trách trong các tổ chức xã hội.

Thời hạn tước một số quyền công dân là từ một năm đến năm năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Điều 32. Tịch thu tài sản.

Tịch thu tài sản là tước tài sản của người bị kết án sung quy Nhà nước. Tịch thu tài sản chỉ áp dụng đối với người bị kết án về tội nghiêm trọng trong những trường hợp Bộ luật này quy định.

Có thể tịch thu toàn bộ hoặc một phần tài sản. Khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống.

Chương 5:

CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP

Điều 33. Tịch thu vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm.

1- Toà án có thể quyết định tịch thu, sung quỹ Nhà nước:

a) Những vật, tiền bạc của người phạm tội đã được dùng vào việc thực hiện tội phạm;

b) Những vật, tiền bạc thuộc tài sản của người khác nếu người này có lỗi để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm;

c) Những vật, tiền bạc mà người phạm tội do thực hiện tội phạm hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;

d) Những vật, tiền bạc thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành.

2- Đối với những vật, tiền bạc, thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa hoặc thuộc tài sản của người khác bị người phạm tội chiếm hoặc sử dụng trái phép thì không tịch thu mà trả lại cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

Điều 34. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.

1- Người phạm tội phải trả lại những vật, tiền bạc đã chiếm đoạt cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường các thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.

2- Trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, gây thiệt hại về tinh thần, Toà án có thể buộc người phạm tội công khai xin lỗi người bị hại.

Điều 35. Bắt buộc chữa bệnh.

1- Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh như đã quy định ở khoản 1 Điều 12, thì tuỳ theo giai đoan tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Toà án căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.

Nếu thấy không cần thiết phải đưa vào một cơ sở điều trị chuyên khoa thì có thể giao cho gia đình hoặc người bảo lĩnh trông nom dưới sự giám sát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

2- Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhứng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Toà án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

3- Đối với người đang chấp hành hình phạt mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Toà án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt, nếu không có những lý do khác để được miễn chấp hành hình phạt.

Điều 36. Thời gian bắt buộc chữa bệnh.

Căn cứ vào kết luận của cơ quan điều trị, nếu người bị bắt buộc chữa bệnh nói ở điều 35 đã khỏi hoặc bệnh trạng đã giảm, thì Viện kiểm sát hoặc Toà án xét và quyết định đình chỉ việc thi hành biện pháp này.

Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Chương 6:

VIỆC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT, MIỄN VÀ GIẢM HÌNH PHẠT

Điều 37. Nguyên tắc quyết định hình phạt.

Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào các quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Điều 38. Những tình tiết giảm nhẹ.

1- Những tình tiết sau đây được coi là tình tiết giảm nhẹ:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm hoặc tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại;

b) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, vượt quá yêu cầu của tình thế cần thiết hoặc bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra;

c) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình tự gây ra;

d) Phạm tội mà chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

đ) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức hoặc chi phối về mặt vật chất, công tác hay các mặt khác;

e) Người phạm tội là phụ nữ có thai, là người già hoặc là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

g) Phạm tội do trình độ lạc hậu hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém;

h) Người phạm tội tự thú, thật thà khai báo, ăn năn hối cải hoặc tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện và điều tra tội phạm.

2- Khi quyết định hình phạt, Toà án có thể coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi trong bản án.

3- Khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà Điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ này phải được ghi trong bản án.

Điều 39. Những tình tiết tăng nặng.

1- Những tình tiết sau đây mới được coi là tình tiết tăng nặng:

a) Phạm tội có tổ chức; xúi giục người chưa thành niên phạm tội;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

c) Phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác trong khi phạm tội hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

đ) Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về vật chất, công tác hay các mặt khác;

e) Phạm tội vì động cơ đê hèn; cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng;

h) Phạm tội nhiều lần; tái phạm; tái phạm nguy hiểm;

i) Sau khi phạm tội, đã có những hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.

2- Những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

Điều 40. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

1. Những trường hợp sau đây thì coi là tái phạm:

a) Đã bị phạt tù vì tội do cố ý, chưa được xoá án mà lại phạm tội nghiêm trọng do vô ý hoặc tội ít nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã bị phạt tù về tội nghiêm trọng do vô ý, chưa được xoá án mà lại phạm tội nghiêm trọng do vô ý hoặc tội do cố ý.

2- Những trường hợp sau đây thì coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị phạt tù về tội nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án mà lại phạm tội nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xoá án mà lại phạm tội ít nghiêm trọng do cố ý hoặc tội nghiêm trọng.

Điều 41. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.

Khi xét xử cùng một lần người phạm nhiều tội, Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó quyết định hình phạt chung cho các tội. Hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của khung hình phạt mà luật quy định đối với tội nặng nhất đã phạm và trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên.

Điều 42. Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

1- Trong trường hợp một người đang chải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này thì Toà án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung. Hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của khung hình phạt đã tuyên.

Thời gian chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.

2- Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới. Toà án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó cộng với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung. Hình phạt chung không được vượt mức cao nhất mà Luật quy định cho loại hình phạt đã tuyên.

Điều 43. Tổng hợp hình phạt khác loại.

Việc tổng hợp hình phạt nói ở Điều 41 và Điều 42 nếu là hình phạt khác loại thì theo những quy định sau đây:

1- Đối với hình phạt chính, nếu hình phạt cao nhất đã tuyên là tử hình, tù chung thân hoặc tù hai mươi năm thì lấy hình phạt đó làm hình phạt chung.

Nếu các hình phạt đã tuyên gồm cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội và tù có thời hạn, thì chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội thành hình phạt tù để quyết định hình phạt chung. Cứ một ngày cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội thành một ngày tù.

2- Đối với hình phạt bổ sung, Toà án quyết định một hình phạt chung trong giới hạn luật quy định về mỗi loại hình phạt ấy.

3- Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác. Các khoản phạt tiền được cộng lại thành hình phạt phải chấp hành.

Điều 44. án treo.

1- Khi xử phạt tù không quá năm năm, căn cứ vào thân nhân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.

2- Toà án giao người bị án treo cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để theo dõi, giáo dục.

3- Người bị án treo có thể phải chịu thêm một số hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định quy định ở Điều 23 và Điều 28.

4- Nếu người bị án treo đã chấp hành được một nửa thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm theo dõi, giáo dục, Toà án có thể rút ngắn thời gian thử thách.

5- Nếu trong thời gian thử thách, người bị án treo phạm tội mới và bị xử phạt tù thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định ở khoản 2 Điều 42.

Điều 45. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

1- Không truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu tính từ ngày tội phạm được thực hiện đã qua những thời hạn sau đây:

a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật quy định hình phạt từ hai năm tù trở xuống hoặc hình phạt khác nhẹ hơn;

b) Mười năm tù đối với các loại tội pham ít nghiêm trọng mà Bộ luật quy định hình phạt tù trên hai năm;

c) Mười lăm năm đối với các loại tội phạm nghiêm trọng.

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định thì hình phạt từ một năm tù trở lên thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính; thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ.

2- Đối với những trường hợp nói ở điểm c khoản 1 Điều này nếu có lý do đặc biệt thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao vẫn có thể truy cứu trách nhiệm hình sự và Toà án nhân dân tối cao có thể quyết định không áp dụng thời hiệu.

Điều 46. Thời hiệu thi hành bản án.

1- Không buộc người bị kết án phải chấp hành bản án, nếu tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đã qua những thời hạn sau đây:

a) Năm năm đối với các trường hợp xử phạt từ năm năm tù trở xuống;

b) Mười năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên năm năm đến mười lăm năm;

c) Mười lăm năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên mười lăm năm đến hai mươi năm.

Nếu trong trường hợp nói trên người bị kết án lại phạm tội mới và bị xử phạt tù thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn nói trên người bị kết án cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính; thời hiệu tính lại kể từ ngày người đó ra trình diện hoặc bị bắt giữ.

2- Đối với những trường hợp nói ở các điểm a và b khoản 1 Điều này, nếu bị kết án về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia và đối với những trường hợp nói ở điểm c khoản 1 Điều này không kể về tội gì, nếu có lý do đặc biệt, thì Toà án nhân dân tối cao, theo kết luận của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, có thể quyết định không áp dụng thời hiệu.

3- Việc áp dụng thời hiệu đối với các trường xử phạt tù trung thân hoặc tử hình, sau khi qua thời hạn mười lăm năm, sẽ do Toà nhân dân tối cao quyết định theo kết luận của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong trường hợp không cho áp dụng thời hiệu thì tử hình sẽ đổi thành tù chung thân, tù chung thân sẽ đổi thành tù hai mươi năm.

Điều 47. Không áp dụng thời hiệu.

Không áp dụng thời hiệu quy định ở Điều 45 và Điều 46 đối với các tội phạm quy định ở Chương XII Phần các tội phạm Bộ luật này.

Điều 48. Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

1- Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra hoặc xét xử, do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

Nếu trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

2- Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ nói ở Điều 38, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.

Điều 49. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt chính.

1- Người bị kết án cải tạo không giam giữ, cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội hoặc tù nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định và đã chứng tỏ quyết tâm cải tạo, thì theo đề nghị của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội có trách nhiêm trực tiếp giám sát việc chấp hành hình phạt, Toà án có thể quyết định giảm bớt thời hạn chấp hành hình phạt.

Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đấu là một phần ba thời hạn đối với các hình phạt từ hai mươi năm tù trở xuống, mười năm đối với tù chung thân.

2- Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thời hạn thực sự chấp hành hình phạt là một nửa thời hạn hình phạt đã tuyên. Người bị xử phạt chung thân, lần đầu được giảm xuống hai mươi năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời gian thực sự chấp hành hình phạt là mười lăm năm.

Điều 50. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt bổ sung.

Người bị kết án cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một nửa thời hạn hình phạt và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của chính quyền địa phương, Toà án có thể quyết định miễn việc chấp hành phần hình phạt còn lại.

Điều 51. Giảm thời hạn và miễn việc chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt.

1- Đối với người bị kết án mà có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Toà án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định ở Điều 49 và Điều 50.

2- Đối với người bị kết án chưa chấp hành hình phạt mà lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và nếu người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện kiểm sát, Toà án có thể miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

3. Đối với người đã được giảm một phần thời hạn chấp hành hình phạt mà lại phạm tội mới nghiêm trọng thì Toà án chỉ xét giảm lần sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba thời hạn hình phạt tổng hợp đã tuyên hoặc mười lăm năm nếu là tù chung thân.

Điều 52. Xoá án.

Người bị kết án được xoá án theo quy định ở các Điều từ 53 đến 56. Người được xoá án coi như chưa can án và được cấp giấy chứng nhận.

Điều 53. Đương nhiên được xoá án.

Những người sau đây đương nhiên được xoá án:

1- Người được miễn hình phạt;

2- Người được hưởng án treo mà không phạm tội mới trong thời gian thử thách.

3- Người bị kết án không phải về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc về tội phạm quy định ở Chương XII Phần các tội phạm Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi việc thi hành bản án đã quá thời hiệu, người ấy không phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) Ba năm trong trường hợp hình phạt là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội;

b) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù đến năm năm.

Điều 54. Xoá án do Toà án quyết định.

1. Việc xoá án do Toà án quyết, căn cứ vào tính chất của tội đã phạm, vào nhân thân, vào thái độ chấp hành chính sách, pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án, trong các trường hợp sau đây:

a) Đã bị phạt tù đến năm năm về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia mà không phạm tội mới trong thời hạn năm năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi việc thi hành bản án đã quá thời hiệu;

b) Đã bị phạt tù trên năm năm không kể về tội gì mà không phạm tội mới trong thời hạn mười năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi việc thi hành bản án đã quá thời hiệu.

2- Người bị Toà án bác đơn xin xoá lần đầu phải chờ một năm sau mới được xin xoá án. Nếu bị bác dơn lần thứ hai trở đi thì phải hai năm mới lại được xin xoá án.

Điều 55. Xoá án trong trường hợp đặc biệt.

Trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt, đã lập công và được cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội đề nghị, thì Toà án có thể xoá án nếu người đó đã bảo đảm được từ một phần ba đến một nửa thời hạn quy định.

Điều 56. Cách tính thời hạn để xoá án.

1- Thời hạn để xoá án quy định ở Điều 53 và Điều 54 căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

2- Việc chấp hành xong bản án bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án.

3- Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.

4- Nếu chưa xoá án mà phạm tội mới thì thời hạn để xoá án cũ tính từ ngày chấp hành xong bản án mới.

Chương 7:

NHỮNG QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

Điều 57. áp dụng Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.

Người chưa thành niên phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của phần chung Bộ luật không trái với những quy định của chương này.

Điều 58. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

1- Người từ 14 tuổi trở lên những chưa đủ 16 tuổi phải trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý.

2- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

Điều 59. Những nguyên tắc cơ bản về xử lý những hành vi phạm tội của người chưa thành niên.

1- Việc xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.

2- Đối với người chưa thành niên phạm tội, Viện kiểm sát và Toà án áp dụng chủ yếu những biện pháp giáo dục, phòng ngừa; gia đình, nhà trường và xã hội có trách nhiệm tham gia tích cực vào việc thực hiện những biện pháp ấy.

3- Viện kiểm sát có thể quyết định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và nếu được gia đình và tổ chức xã hội nhận trách nhiệm giám sát, giáo dục.

Chỉ đưa người chưa thành niên phạm tội ra xét xử và áp dụng hình phạt đối với họ trong những trường hợp cần thiết, căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa.

4- Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình người chưa thành niên phạm tội. Khi phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên.

Người chưa thành niên phạm tội phải được giam riêng.

Không xử phạt tiền và không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.

5- án đã tuyên đối với người phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

Điều 60. Các biện pháp tư pháp và hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.

1- Các biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa do Toà án quyết định gồm có:

- Buộc phải chịu thử thách;

- Đưa vào trường giáo dưỡng.

2- Các hình phạt gồm có:

- Cảnh cáo;

- Cải tạo không giam giữ;

- Tù có thời hạn.

Điều 61. Buộc phải chịu thử thách.

1- Đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, Toà án có thể quyết định buộc phải chịu thử thách từ một năm đến hai năm.

2- Người phải chịu thử thách phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân theo kỷ luật xã hội và pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền cơ sở và tổ chức xã hội được Toà án giao trách nhiệm.

3- Nếu người phải chịu thử thách đã chấp hành được một nửa thời hạn do Toà quyết định và tỏ ra có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của tổ chức được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục, Toà án quyết định chấm dứt thời hạn thử thách.

Điều 62. Đưa vào trường giáo dưỡng.

1- Toà án có thể quyết định đưa người chưa thành niên phạm tội vào trường giáo dưỡng nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của họ cần đưa họ vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ.

2- Thời hạn ở trường giáo dưỡng là từ một năm đến ba năm.

Nếu người chưa thành niên phạm tội đã chấp hành được một nửa thời hạn do Toà án quyết định và tỏ ra có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của người phụ trách trường, Toà án có thể quyết định chấm dứt thời hạn ở trường giáo dưỡng.

Điều 63. Cải tạo không giam giữ.

Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội thì không khấu trừ thu nhập của người đó.

Điều 64. Tù có thời hạn.

Người chưa thành niên phạm tội có thể bị phạt tù có thời hạn như sau:

1- Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên khi phạm tội là hai mươi năm tù và đối với người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi khi phạm tội là mười lăm năm tù.

2- Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là hai mươi năm tù thì mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là không quá mười hai năm tù.

Điều 65. Tổng hợp hình phạt.

Đối với người phạm nhiều tội, có tội phạm trước khi đủ 18 tuổi, có tội phạm sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:

1- Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung không được vượt mức hình phạt cao nhất quy định ở Điều 64.

2- Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội.

Điều 66. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

Người chưa thành niên bị kết án nếu cải tạo tốt thì được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định ở Điều 49.

Điều 67. Xoá án.

1- Người chưa thành niên phạm tội được áp dụng những biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa quy định ở khoản 1 Điều 60 thì không bị coi là có án.

2- Thời hạn để xoá án đối với người chưa thành niên là một nửa thời hạn quy định ở các Điều từ 53 đến 55.

Chương 8:

NHỮNG QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI QUÂN NHÂN PHẠM TỘI

Điều 68. áp dụng Bộ luật hình sự đối với quân nhân phạm tội.

Đối với quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập chung huấn luyện, nếu phạm tội thì áp dụng những quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của phần chung Bộ luật không trái với những quy định của chương này.

Điều 69. Tạm hoãn, miễn hoặc giảm việc chấp hành hình phạt.

Quân nhân phạm tội ít nghiêm trọng, nếu do nhu cầu chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu mà được người chỉ huy từ cấp trung đoàn trở lên đề nghị cho ở lại đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ, thì có thể được Toà án cho tạm hoãn việc chấp hành hình phạt từ sáu tháng đến một năm. Hết thời hạn đó, Toà án sẽ căn cứ vào thái độ sửa chữa hoặc kết quả lập công của người phạm tội mà miễn hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt hoặc buộc phải chấp hành toàn bộ hình phạt đã tuyên.

Điều 70. Cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội.

1- Cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội là hình phạt chính được áp dụng từ sáu tháng đến hai năm đối với quân nhân tại ngũ phạm tội ít nghiêm trọng.

Nếu người bị kết án đã bị tạm giam thì thời gian tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội, cứ một ngày tạm giam bằng ba ngày cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội.

2- Đối với người phạm tội không phải là quân nhân tại ngũ, trong trường hợp điều luật quy định hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội, thì áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định ở Điều 24.

Điều 71. Tước danh hiệu quân nhân.

Tước danh hiệu quân nhân là hình phạt bổ sung có thể được áp dụng với quân nhân phạm tội nghiêm trọng do cố ý.

Người bị tước danh hiệu quân nhân đương nhiên bị xoá tuổi quân và bị tước quyền lợi mà bản thân quân nhân và gia đình được hưởng về quân nhân đó.

PHẦN CÁC TỘI PHẠM

Chương 1:

CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA

Mục A: CÁC TỘI ĐẶC BIỆT NGUY HIỂM XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA

Điều 72. Tội phản bội Tổ quốc.

1- Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhăm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2- Phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

Điều 73. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Người hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì bị phạt như sau:

1- Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2- Người đồng phạm khác thì bị phạt từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 74. Tội gián điệp.

1- Người nào có một trong những hành vi sau đây thì bị phạt tù mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại;

c) Cung cấp hoặc thu nhập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; cung cấp tin tức, tài liệu, không thuộc bí mật Nhà nước để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2- Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

3- Người nào đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành thật khai báo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì được miễn trách nhiệm hình sự.

Điều 75. Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ.

Người nào xâm nhập lãnh thổ, có hành động làm sai lệch đường biên giới quốc gia hoặc có hành động khác nhằm phá hoại an ninh lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì bị phạt như sau:

1- Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2- Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 76. Tội bạo loạn.

Người nào hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực có tổ chức nhằm chống chính quyền nhân dân thì bị phạt như sau:

1- Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2- Người đồng phạm khác bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 77. Tội hoạt động phỉ.

Người nào hoạt động vũ trang ở vùng rừng núi, vùng biển, vùng hiểm yếu khác, giết người, cướp phá tài sản nhằm chống lại chính quyền nhân dân và chống nhân dân thì bị phạt như sau:

1- Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2- Người đồng phạm khác bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 78. Tội khủng bố.

1. Người nào xâm phạm tính mạng của nhân viên Nhà nước, nhân viên tổ chức xã hội hoặc công nhân nhằm chống chính quyền nhân dân thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2- Phạm tội trong trường hợp xâm phạm tự do thân thể, sức khoẻ thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

3- Phạm tội trong trường hợp đe doạ xâm phạm tính mạng hoặc có những hành vi khác uy hiếp tinh thần thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

4- Khủng bố người nước ngoài nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cũng bị xử phạt theo Điều này.

Điều 79. Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội thuộc các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hoá và xã hội thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2- Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 80. Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.

1- Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại việc thực hiện các quy định của Nhà nước về cải tạo xã hội chủ nghĩa đối công thương nghiệp tư doanh, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp và nông nghiệp, phá hoại việc thực hiện kế hoạch Nhà nước về kinh tế - xã hội, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

2- Phạt tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.

Điều 81. Tội phá hoại chính sách đoàn kết.

1- Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống chính quyền nhân dân thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với lực lượng vũ trang, chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội;

b) Gây hằn thù, miệt thị, chia rẽ dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;

c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, các tổ chức xã hội;

d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế.

2- Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 82. Tội tuyên truyền chống chế độ xã hội chủ nghĩa.

1- Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống chính quyền nhân dân thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Tuyên truyền xuyên tạc chế độ xã hội chủ nghĩa;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống chế độ xã hội chủ nghĩa.

2- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Điều 83. Tội phá rối an ninh.

1- Người nào nhằm chống lại chính quyền nhân dân mà kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

2- Người đồng phạm khác thì bị phạt từ hai năm đến bảy năm.

Điều 84. Tội chống phá trại giam.

1- Người nào nhằm chống lại chính quyền nhân dân mà phá trại giam, tổ chức vượt trại giam, đánh tháo người bị giam, người bị dẫn giải hoặc trốn trại giam thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2- Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.

Điều 85. Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân.

1- Người nào trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.

2- Người tổ chức, người cưỡng ép, người xúi giục thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 86. Các tội chống Nhà nước xã hội chủ nghĩa anh em.

Người nào có những hành vi quy định ở các Điều từ 72 đến 85, nhằm chống một Nhà nước xã hội chủ nghĩa anh em, thì bị xử phạt theo các điều tương ứng.

Mục B: CÁC TỘI KHÁC XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA

Điều 87. Tội chiếm đoạt máy bay, tàu thuỷ.

Người nào dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm đoạt máy bay, tàu thuỷ thì bị phạt như sau:

1- Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2- Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 88. Tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép.

1- Người nào tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 85, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.

2. Phạm tội nhiều lần hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Điều 89. Tội xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại nước ngoài trái phép.

1- Người nào xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại nước ngoài trái phép thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Điều này không áp dụng đối với người nước ngoài đến nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xin cư trú chính trị.

Điều 90. Tội vi phạm các quy định về hàng không.

1- Người nào điều khiển máy bay hay phương tiện bay khác vào và ra khỏi Việt Nam mà vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nếu không thuộc trường hợp quy định của Điều 74 và Điều 75, thì bị phạt tiền đến năm trăm triệu đồng (500.000.000 đồng) hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tiền đến mười triệu đồng (10.000.000 đồng) hoặc bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

3- Phương tiện bay có thể bị tịch thu.

Điều 91. Tội vi phạm các quy định về hàng hải.

1- Người nào điều khiển tàu, thuyền hay phương tiện hàng hải khác vào hoặc ra khỏi Việt Nam hoặc đi qua lãnh hải Việt Nam mà vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 74 và Điều 75, thì bị phạt tiền đến ba triệu đồng (3.000.000 đồng) hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tiền đến tám triệu đồng (8.000.000 đồng ) hoặc bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

3- Phương tiện hàng hải có thể bị tịch thu.

Điều 92. Tội cố ý làm lộ bí mật Nhà nước, tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật Nhà nước.

1- Người nào cố ý làm lộ bí mật Nhà nước hoặc chiếm đoạt mua bán, tiêu huỷ tài liệu bí mật Nhà nước, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 74 và Điều 80, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 93. Tội vô ý làm lộ bí mật Nhà nước, tội làm mất tài liệu bí mật Nhà nước.

1- Người nào vô ý làm lộ bí mật Nhà nước hoặc làm lộ bí mật Nhà nước thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị tù từ sáu tháng đến ba năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 94. Tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia.

1- Người nào phá huỷ công trình hoặc phương tiện giao thông vận tải, thông tin - liên lạc, hệ thống tải điện, dẫn chất đốt, công trình thuỷ lợi hoặc công trình quan trọng khác về an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hoá xã hội, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 79, thì bị phạt tù từ ba năn đến mười hai năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

c) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 95. Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

1- Người nào chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì bị phạt tù một năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 96. Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ.

1- Người nào chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 97. Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới.

1- Người nào buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá, thì bị phạt tiền đến năm lần giá trị vật phạm pháp hoặc bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền đến mười lần giá trị vật phạm pháp hoặc bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc giá trị lớn; thu lợi bất chính lớn;

c) Lợi dụng chiến tranh;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội;

đ) Phạm tội nhiều lần hoặc tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 98. Tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá huỷ tiền tệ.

1- Người nào làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả, séc giả, phiếu công trái giả hoặc phá huỷ tiền tệ thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

2- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mười năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 99. Tội truyền bá văn hoá đồi truỵ.

1. Người nào làm ra, sao chép, lưu hành, buôn bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có tính chất đồi truỵ, cũng như có hành vi khác truyền bá văn hoá đồi truỵ thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn; gây hậu quả nghiêm trọng;

c) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 100. Hình phạt bổ sung.

1- Công dân Việt Nam phạm một trong các tội thuộc Mục A thì bị tước một số quyền công dân từ một năm đến năm năm; phạm một trong các tội thuộc mục B thì có thể bị tước một số quyền công dân từ một năm đến năm năm.

2- Công dân Việt Nam phạm một trong các tội thuộc Mục A và một trong các tội quy định ở Điều 87, Điều 88 và ở các Điều từ 94 đến 99, thì bị quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

3- Người nào phạm một trong các tội quy định ở Điều 90 và Điều 91 trong trường hợp bị xử phạt tù, thì có thể bị phạt tiền theo mức đã quy định đối với mỗi tội.

Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều 88, 95, 96, 98 và Điều 99, thì có thể bị phạt tiền từ mười nghìn đồng (10. 000 đồng) đến một trăm nghìn đồng (100.000 đồng); ở Điều 97a, trong trường hợp bị xử phạt tiền thì có thể bị phạt tiền theo mức đã quy định ở điều ấy.

4- Người nào phạm một trong các tội thuộc Mục A thì bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; phạm một trong các tội quy định ở Điều 88 và các Điều từ 94 đến 98, thì có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Chương 2:

CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHOẺ, NHÂN PHẨM, DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI

Điều 101. Tội giết người.

1- Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình;

a) Vì động cơ đê hèn; để thực hiện hoặc để che giấu tội phạm khác;

b) Thực hiện tội phạm một cách man rợ; bằng cách lợi dụng nghề nghiệp hoặc bằng phương pháp có khả năng chết nhiều người;

c) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

d) Giết nhiều người hoặc giết phụ nữ mà biết là có thai;

đ) Có tổ chức;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội nghiêm trọng khác;

g) Có tính chất côn đồ; tái phạm nguy hiểm.

2- Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định ở khoản 1 Điều này hoặc không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

3- Phạm tội trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

4- Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Điều 102. Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 103. Tội xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ.

1- Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do sử dụng vũ khí ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười lăm năm.

2- Phạm tội gây thương tích nặng hoặc tổn hại nặng cho sức khoẻ người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 104. Tội vô ý làm chết người.

1- Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2- Phạm tội do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc vi phạm quy tắc hành chính thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười lăm năm.

Điều 105. Tội bức tử.

Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

Điều 106. Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát.

Người nào xúi giục làm người khác tự sát hoặc giúp người khác tự sát thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Điều 107. Tội cố ý không giúp người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng.

1- Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp, dẫn đến chết người, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm hoặc là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều 108. Tội đe doạ giết người.

Người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe doạ lo sợ rằng việc đe doạ này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Điều 109. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác.

1- Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của người khác;

b) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

c) Có tính chất côn đồn hoặc tái phạm nguy hiểm;

3- Phạm tội gây cố tật nặng dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định ở điểm a khoản 2, ở khoản 3 Điều này mà do bị kích động mạnh vì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân hoặc trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Điều 110. Tội vô ý gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.

1- Người nào vô ý gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ người khác thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Điều 111. Tội hành hạ người khác.

Người nào đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Điều 112. Tội hiếp dâm.

1- Người nào dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác giao cấu với người khác trái ý muốn của họ thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ mười ba tuổi trở lên hoặc người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Hiếp dâm có tổ chức hoặc nhiều người hiếp một người;

b) Hiếp nhiều người hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của nạn nhân;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội làm nạn nhân chết, tự sát hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

4- Mọi trường hợp giao cấu với trẻ dưới mười ba tuổi đều là phạm tội hiếp dâm và người phạm tội bị phạt theo các khoản 2 và 3 Điều này.

Điều 113. Tội cưỡng dâm.

1- Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẵn bách phải miễn cưỡng giao cấu thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Phạm tội cưỡng dâm người chưa thành niên từ 13 tuổi trở lên thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Cưỡng dâm nhiều người;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội làm nạn nhân tự sát thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 114. Tội giao cấu với người dưới 16 tuổi.

Người nào đã thành niên mà giao cấu với người từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 115. Tội mua bán phụ nữ.

1- Người nào mua bán phụ nữ thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm:

a) Có tổ chức;

b) Để đưa ra nước ngoài;

c) Mua bán nhiều người;

d) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 116. Tội làm nhục người khác.

1- Nếu người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội đối với người thi hành công vụ thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Điều 117. Tội vu khống.

1- Người nào có một trong các hành vi sau đây thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm;

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi của người khác;

b) Bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan Nhà nước.

2- Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

Điều 118. Hình phạt bổ sung.

1- Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 101 đến 105 và ở các Điều 107, 112 và 113, thì có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định từ hai năm đến năm năm.

2- Người nào phạm một trong các tội quy định ở Điều 101 và Điều 115, thì có thể bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Chương 3:

CÁC TỘI XÂM PHẠM NHỮNG QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN

Điều 119. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật.

1- Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

3- Phạm tôi gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 120. Tội xâm phạm chỗ ở của công dân.

1- Người nào khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác, đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2- Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Điều 121. Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện báo của người khác.

Người nào chiếm đoạt thư, điện báo hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện báo của người khác thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Điều 122. Tội xâm phạm quyền bầu cử của công dân.

1- Người nào lừa gạt, mua chuộc hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở việc thực hiện quyền bầu cử của công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Người nào có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Điều 123. Tội buộc người lao động thôi việc trái pháp luật.

Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà buộc người lao động thôi việc trái pháp luật thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Điều 124. Tội xâm phạm các quyền hội họp, lập hội, tín ngưỡng của công dân.

1- Người nào có hành vi cản trở công dân thực hiện các quyền tự do sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm:

a) Quyền tự do hội họp, quyền lập hội phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của nhân dân;

b) Quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

2- Người nào lợi dụng các quyền tự do nói trên và các quyền tự do dân chủ khác để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc của công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Điều 125. Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ.

Người nào dùng vũ lực hoặc có hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá và xã hội, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Điều 126. Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền sáng chế, phát minh.

Người nào chiếm đoạt hoặc có hành vi khác xâm phạm quyền tác giả đối với các tác phẩm khoa học, văn hoá, nghệ thuật hoặc đối với các sáng kiến cải tiến kỹ thuật và hợp lý hoá sản xuất, sáng chế, phát minh, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền đến một trăm nghìn đồng (100.000 đồng), cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Điều 127. Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.

1- Người có một trong các hành vi sau đây thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo.

b) Có trách nhiệm mà cố ý không chấp hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo.

2- Người nào trả thù người khiếu nại, tố cáo thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Điều 128. Hình phạt bổ sung.

Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 119 đến 124, Điều 126 và Điều 127, thì có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ nhất định từ hai năm đến năm năm.

Chương 4:

CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Điều 129. Tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa.

1- Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

a) Có tổ chức;

b) Dùng vũ khí hoặc phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm khác;

c) Gây thương tích nặng, gây tổn hại nặng cho sức khoẻ hoặc gây chết người;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 130. Tội cưỡng đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa.

1- Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người có trách nhiệm về tài sản xã hội chủ nghĩa nhằm chiếm đoạt tài sản đó thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Điều 131. Tội cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa.

1- Người nào cướp giật hợc công nhiên chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 129 thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát;

c) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Điều 132. Tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa.

1- Người nào trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Hành hung để tẩu thoát;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 133. Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa.

1- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa mà mình có trách nhiệm trực tiếp quản lý, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp say đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Thông đồng với người khác ở trong hoặc ngoài cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 134. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa.

1- Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt nguy hiểm;

c) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 135. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa.

1- Người nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Điều 136. Tội chiếm giữ trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa.

1- Người nào không trả lại tài sản xã hội chủ nghĩa bị giao nhầm hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản do mình tìm được, bắt được mà biết là tài sản xã hội chủ nghĩa, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội chiếm giữ tài sản có giá trị lớn thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều 137. Tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa.

1- Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

Điều 138. Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa.

1- Người nào huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 79 và Điều 94, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

b) Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có giá trị lớn;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Để che giấu tội phạm khác.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 139. Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa.

1- Người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.

Điều 140. Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa.

Người nào vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 141. Các tội xâm phạm tài sản của Nhà nước khác hoặc của các tổ chức quốc tế.

Người nào xâm phạm tài sản của các Nhà nước khác hoặc của các tổ chức quốc tế thì bị xử phạt theo nhưng điều tương ứng trong chương này.

Điều 142. Hình phạt bổ sung.

1- Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều 133, 137 và 139 thì có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa từ hai năm đến năm năm.

2- Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 129 đến 132, Điều 134 và Điều 135, nếu là tái phạm nguy hiểm thì bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

3- Người nào phạm một trong các tội quy định ở chương này, trừ các Điều 136, 139 và 140, thì tuỳ theo tính chất nghiêm trọng của tội phạm mà có thể bị phạt tiền đến một triệu đồng (1.000.000 đồng) và bị tịch thu một phần hay toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt đó.

Chương 5:

CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH VÀ CÁC TỘI PHẠM ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

Điều 143. Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ.

Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 144. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

1- Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2- Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Điều 145. Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn.

Người nào có một trong các hành vi sau đây thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm:

a) Tổ chức việc kết hôn cho người chưa đến tuổi kết hôn;

b) Cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết của Toà án buộc chấm dứt quan hệ đó.

Điều 146. Tội loạn luân.

Người nào giao cấu với người cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha khác mẹ, anh chị em cùng mẹ khác cha thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Điều 147. Tội ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ cha, mẹ, vợ chồng, con cái.

Người nào ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ cha, mẹ, vợ chồng, con cái thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 148. Tội dụ dỗ hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp.

1- Người nào dụ dỗ người chưa thành niên hoạt động phạm tội, sống xa đoạ hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Dụ dỗ hoặc chứa chấp nhiều người;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 149. Tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em.

1- Người nào bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm:

a) Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp;

b) Để đưa ra nước ngoài;

c) Bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo nhiều trẻ em hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác;

d) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 150. Hình phạt bổ sung.

Người nào phạm một trong các tội quy định ở Điều 148 và Điều 149, nếu là tái phạm nguy hiểm thì có thể bị phạt quản chế từ một năm đến năm năm.

Chương 6:

CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CỦA CÔNG DÂN

 

Điều 151. Tội cướp tài sản của công dân.

1- Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Có tổ chức;

b) Dùng vũ lực hoặc phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm khác;

c) Gây thương tích nặng, gây tổn hại cho sức khoẻ hoặc gây chết người.

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 152. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân.

1- Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng vũ khí hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 153. Tội cưỡng đoạt tài sản của công dân.

1- Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác;

b) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 154. Tội cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân.

1- Người nào cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 151 thì bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát;

c) Chiếm đoạt tài sản có gia trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

Điều 155. Tội trộm cắp tài sản của công dân.

1- Người nào trộm cắp tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm;

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát;

c) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác;

d) Tái phạm nguy hiểm

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm.

Điều 156. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân.

1- Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác;

b) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 157. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân.

1- Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

Điều 158. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân.

1- Người nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười hai năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

b) Tái phạm nguy hiểm;

Điều 159. Tội chiếm giữ trái phép tài sản của công dân.

Người nào cố ý không trả lại cho người có tài sản hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản có giá trị lớn của người khác bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Điều 160. Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân.

1- Người nào huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thu đoạn nguy hiểm khác;

b) Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác;

c) Để che giấu tội phạm khác;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Điều 161. Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của công dân.

Người nào vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của người khác thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Điều 162. Các tội xâm phạm tài sản của người nước ngoài.

Người nào xâm phạm tài sản của người nước ngoài thì bị phạt theo các Điều tương ứng của Chương này.

Điều 163. Hình phạt bổ sung.

1- Người nào phạm tội quy định ở Điều 156 thì có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ nhất định từ hai năm đến năm năm.

2- Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 151 đến 155, Điều 157 và Điều 158, nếu là tái phạm nguy hiểm thì có thể bị phạt quản chế hoặc bị cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

3- Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 151 đến 158, tuỳ theo tính chất nghiêm trọng của tội phạm mà có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Chương 7:

CÁC TỘI PHẠM VỀ KINH TẾ

Điều 164. Tội cản trở việc thực hiện các quy định của Nhà nước về cải tạo xã hội chủ nghĩa.

1- Người nào huỷ hoại, phân tán tài sản hoặc có hành vi khác cản trở việc thực hiện các quy định của Nhà nước về cải tạo xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

Điều 165. Tội đầu cơ.

1- Người nào mua vét hàng hoá, lương thực, vật tư, các loại tem phiếu, vé, giấy tờ có giá trị phân phối hàng hoá, lương thực, vật tư hoặc cung ứng dịch vụ nhằm bán lại để thu lợi bất chính thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Đầu cơ xăng dầu hoặc thuốc chữa bệnh, phòng bệnh do Nhà nước thống nhất quản lý;

b) Có tổ chức;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội;

d) Hàng phạm pháp có số lượng hoặc giá trị lớn; thu lợi bất chính lớn;

đ) Lợi dụng thiên tai hoặc chiến tranh;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 166. Tội buôn bán hoặc tàng trữ hàng cấm.

1- Người nào buôn bán, tàng trữ các chất may tuý, ngoại tệ hoặc buôn bán kim khí quý, đá quý thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội;

c) Hàng phạm pháp có số lượng lớn; thu lợi bất chính lớn;

d) Lợi dụng thiên tai hoặc chiến tranh;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Điều 167. Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả.

1- Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh;

b) Có tổ chức;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa Nhà nước, tổ chức xã hội;

d) Hàng giả có số lượng lớn; thu lợi bất chính lớn;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 168. Tội kinh doanh trái phép.

1- Người nào kinh doanh không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung được phép hoặc có hành vi khác trái với quy định của Nhà nước về kinh doanh công thương nghiệp, đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội;

b) Mạo nhận một tổ chức không có thật;

c) Hàng phạm pháp có số lượng lớn hoặc có giá trị lớn; thu lợi bất chính lớn.

Điều 169. Tội trốn thuế.

Người nào trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 170. Tội lừa dối khách hàng.

1- Người nào trong việc mua bán mà cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác gây thiệt hại cho khách hàng, đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội nhiều lần hoặc thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 171. Tội cho vay lãi nặng.

1- Người nào cho vay lãi nặng có tính chất chuyên bóc lột thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội trong trường hợp sử dụng công quỹ thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều 172. Tội chiếm đoạt tem, phiếu, tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu, giấy tờ giả dùng vào việc phân phối.

1- Người nào có một trong các hành vi sau đây thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:

a) Chiếm đoạt tem, phiếu dùng vào việc phân phối;

b) Làm hoặc lưu hành tem, phiếu, giấy tờ giả dùng vào việc phân phối.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Thu lợi bất chính lớn;

c) Gây hiệu quả nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 173. Tội làm vé giả, tội buôn bán vé giả.

1- Người nào làm ra hoặc buôn bán các loại vé giả như vé tàu, xe, vé xổ số, tem bưu chính, tem lệ phí hoặc các loại vé giả khác với số lượng lớn đã bị xử lý hành chính mà vẫn còn vi phạm, thì bị phạm tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Thu lợi bất chính lớn;

b) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 174. Tội cố ý làm trái những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.

1- Người nào vì vụ lợi mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế do Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 175. Tội lập quỹ trái phép.

1- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn lập quỹ trái phép và sử dụng quỹ đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính mà vẫn còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

a) Dùng thủ đoạn xảo quyệt để trốn tránh việc kiểm soát;

b) Để thực hiện tội phạm khác hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Điều 176. Tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế.

Người nào vì vụ lợi mà báo cáo với cơ quan có thẩm quyền những số liệu, tài liệu rõ ràng không đúng sự thật gây hậu quả nghiêm trọng cho việc xây dựng hay thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội của Nhà nước hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 177. Tội lưu hành sản phẩm kém phẩm chất.

Người nào có trách nhiệm trong chỉ đạo sản xuất, kiểm tra chất lượng sản phẩm, phân phối, lưu thông vì vụ lợi mà cho lưu hành nhiều lần hoặc với số lượng lớn những sản phẩm không đúng tiêu chuẩn chất lượng đã định gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 178. Tội vi phạm những nguyên tắc, chính sách, chế độ về phân phối.

Người nào vì vụ lợi mà làm trái nhứng nguyên tắc, chính sách, chế độ về phân phối vật tư, lương thực, thực phẩm hoặc hàng hoá khác gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 179. Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác và bảo vệ tài nguyên trong lòng đất, trong các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam.

Người nào vi phạm các quy định của Nhà nước về nghiên cứu, thăm dò, khai thác và bảo vệ tài nguyên trong lòng đất, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục đại của Việt Nam, vi phạm các quy định về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền đến mười triệu đồng (10.000.000 đồng) hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Những dụng cụ, phương tiện để phạm tội có thể bị tịch thu. Những vật do phạm tội mà có đều bị tịch thu.

Điều 180. Tội vi phạm các quy định về quản lý đất và bảo vệ đất đai.

1- Người nào mua bán, lấn chiếm đất hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ đất đai gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 181. Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng.

1- Người nào khai thác trái phép cây rừng, săn bắt trái phép chim, thú hoặc có những hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bi xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

Điều 182. Tội sử dụng hoặc phân phối điện trái phép gây hậu quả nghiêm trọng.

1- Người nào sử dụng hoặc phân phối điện trái phép gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội trong trường hợp sử dụng điện vào việc kinh doanh trái phép hoặc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

Điều 183. Tội sản xuất hoặc buôn bán rượu, thuốc lá trái phép.

Người nào sản xuất hoặc buôn bán rượu, thuốc lá trái với các quy định của Nhà nước, đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 184. Tội lạm sát gia súc.

Người nào giết trâu, bò hoặc các súc vật khác trái với các quy định của Nhà nước về bảo vệ sức kéo gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 185. Hình phạt bổ sung.

1- Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều 164, 177, 178 và từ 180 đến 184, thì có thể bị phạt tiền đến một triệu đồng (1.000.000 đồng).

Phạm tội quy định ở Điều 179 trong trường hợp bị xử phạt tù thì có thể bị phạt tiền đến mười triệu đồng (1.000.000 đồng).

2- Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 165 đến 169, từ 171 đến 173 và ở Điều 183, thì tuỳ trường hợp mà có thể bị phạt tiền đến mười lần giá trị hàng phạm pháp hoặc số lợi bất chính.

3- Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 164 đến 168, ở Điều 172 và Điều 173, thì có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

4- Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 164 đến 168, Điều 170 và Điều 171, các Điều từ 174 đến 178 và ở các Điều 180, 181 182, thì có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc những công việc nhất định từ hai năm đến năm năm.

Chương 8:

CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN, TRẬT TỰ CÔNG CỘNG VÀ TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Mục A: CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN CÔNG CỘNG

Điều 186. Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng.

1- Người nào điều khiển phương tiện giao thông vận tải mà vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:

a) Đi quá tốc độ, trở quá trọng tải quy định, tránh, vượt trái phép;

b) Không đi đúng tuyến đường, phần đường, luồng lạch, đường bay và độ cao quy định;

c) Vi phạm các quy định khác về an toàn giao thông.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Điều khiển phương tiện giao thông vận tải mà không có bằng lái; trong khi say rượu hoặc say do dùng chất kích thích khác;

b) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn.

3- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm.

4- Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 187. Tội cản trở giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng.

1- Người nào có một trong những hành vi sau đây cản trở giao thông vận tải gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Đào, phá các công trình giao thông, đặt vật chướng ngại cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không;

b) Di chuyển, phá huỷ biển báo hiệu hoặc các thiết bị giao thông;

c) Có hành vi cản trở giao thông vận tải.

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 188. Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông vận tải không đảm bảo an toàn hoặc điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng.

1- Người nào có một trong những hành vi sau đây thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:

a) Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của các phương tiện giao thông vận mà cho đưa vào sử dụng các phương tiện rõ ràng không đảm bảo an toàn gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản;

b) Điều động người không có bằng lái hoặc không đủ những điều kiện khác, điều động người say rượu hoặc say do dùng chất kích thích khác điều khiển phương tiện giao thông vận tải gây hậu quả nói trên.

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.

Điều 189. Tội dừng xe lửa hoặc làm dừng xe lửa trái phép.

1- Người nào dùng xe lửa hoặc làm dừng xe lửa trái với các quy định về giao thông đường sắt, cản trở hoạt động bình thường của xe lửa, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm năm đến mười hai năm:

a) Là nhân viên phục vụ đoàn tàu;

b) Gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trong đến tài sản;

3- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 190. Tội vi phạm về các an toàn lao động, về bảo hộ lao động, về an toàn những nơi đông người gây hậu quả nghiêm trọng.

1- Người nào có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện hoặc thực hiện những quy định về an toàn lạo động, về bảo hộ lao động, về vệ sinh công nghiệp, về an toàn ở những nơi đông người mà vi phạm các quy định đó gây thiệt hại đến tính mạng sức khoẻ người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.

3- Người nào vi phạm các quy định về an toàn hầm mỏ, hoá chất, dầu khí hoặc trong các lĩnh vực quan trọng khác mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 191. Tội vi phạm các quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng.

1- Người nào vi phạm các quy định về xây dựng trong các lĩnh vực khảo sát, thiết kế, thi công, sử dụng nguyên liệu, vật liệu, máy móc, nghiệm thu công trình hay các lĩnh vực khác gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trong đến tài sản, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười lăm năm.

Điều 192. Tội vi phạm các quy định về quản lý vũ khí, phương tiện kỹ thuật, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ.

1- Người nào vi phạm các quy định về đặt kho, bảo quản, vận chuyển, sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

3- Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 193. Tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí gây hậu quả nghiêm trọng.

Người nào được giao vũ khí mà thiếu trách nhiệm, để người khác sử dụng vũ khí ấy làm người chết hoặc bị thương nặng hoặc làm thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Điều 194. Tội vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy gây hậu quả nghiêm trọng.

1- Người nào vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

3- Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Điều 195. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng.

1- Người nào vi phạm các quy định về giữ gìn vệ sinh công cộng, về phòng ngừa và chống dịch bệnh, về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đên hai năm.

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều 196. Tội vi phạm các quy định về chữa bệnh, chế thuốc, bán thuốc gây hậu quả nghiêm trọng.

1- Người nào vi phạm các quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 197. Tội vi phạm các quy định về vệ sinh thực phẩm gây hậu quả nghiêm trọng.

1- Người nào chế biến, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết rõ là thực phẩm mất phẩm chất gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người tiêu dùng, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Mục B: CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ CÔNG CỘNG

Điều 198. Tội gây rối trật tự công cộng.

1- Người nào gây rối trật tự ở nơi công cộng thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có dùng vũ khí hoặc có hành vi phá phách;

b) Lôi kéo, kích động người khác gây rối;

c) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng.

Điều 199. Tội hành nghề mê tín, dị đoan gây hậu quả nghiêm trọng.

1- Người nào dùng bói toán, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội làm chết người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

Điều 200. Tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.

1- Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm

2- Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 201. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

1- Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Tài sản có số lượng lớn hoặc có giá trị lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 202. Tội chứa mãi dâm, tội môi giới mãi dâm.

1- Người nào chứa mãi dâm, dụ dỗ hoặc dẫn dắt người mãi dâm thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng hoặc tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 203. Tội tổ chức dùng chất ma tuý.

1- Người nào tổ chức dùng chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng hoặc tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 204. Tội xâm phạm mồ mả, hài cốt.

1- Người nào đào, phá mồ mả, chiếm đoạt những đồ vật để ở trong mộ, trên mộ hoặc có hành vi khác xâm phạm mồ mả, hài cốt, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Mục C: CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Điều 205. Tội chống người thi hành công vụ.

1- Người nào dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực chống người thi hành công vụ cũng như dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép họ thực hiện những hành vi trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và Điều 109, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

Điều 206. Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự.

1- Người nào đang ở lứa tuổi làm nghĩa vụ quân sự mà không chấp hành đúng những quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ của mình;

b) Phạm tội trong thời chiến;

c) Lôi kéo người khác phạm tội.

Điều 207. Tội làm trái hoặc cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự.

1- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái các quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Người nào cố ý cản trở việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, việc thi hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

3- Phạm tội trong thời chiến thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

Điều 208. Tội trốn tránh nghĩa vụ lao động công ích.

Người nào thuộc diện phải làm nghĩa vụ lao động công ích mà không chấp hành lệnh huy động làm nghĩa vụ lao động, đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 209. Tội làm trái hoặc cản trở việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích.

Người nào cố ý làm trái hoặc cản trở việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 210. Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc.

Người nào giả mạo chức vụ, cấp bậc thực hiện hành vi trái pháp luật thì bị phạt cảnh cáo hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm

Điều 211. Tội giả mạo giấy chững nhận, tài liệu của cơ quan Nhà nước, của tổ chức xã hội.

1- Người nào có một trong những hành vi sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Sửa chữa, làm sai lệnh nội dung hoặc làm giả giấy chứng minh, hộ chiếu, giấy chứng nhận hộ tịch, hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận khác của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và sử dụng giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật;

b) Làm giả con dấu, giấy tiêu đề hoặc giấy tờ khác của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc sử dụng con dấu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân.

2- Phạm tội có tổ chức hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 212. Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ con dấu, tài liệu cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội.

1- Người nào chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ con dấu, tài liệu cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội không thuộc tài liệu bí mật Nhà nước hoặc bí mật công tác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội có tổ chức hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều 213. Tội không chấp hành các quyết định hành chính về cư trú bắt buộc, cấm cư trú, quản chế hoặc lao động bắt buộc.

Người nào không chấp hành các quyết định của cơ quan hành chính có thẩm quyền về cư trú bắt buộc, cấm cư trú, quản chế hoặc lao động bắt buộc thì bị phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Điều 214. Tội vi phạm các quy định về quản lý nhà.

Người nào chiếm dụng chỗ ở, xây dựng nhà trái phép, đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm hoặc chuyển nhượng trái phép nhà do Nhà nước hoặc tổ chức xã hội quản lý thu lợi bất chính lớn, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Công trình xây dựng trái phép có thể bị dỡ bỏ, trưng mua hoặc tịch thu.

Điều 215. Tội vi phạm các quy định về xuất bản và phát hành sách, báo, ấn phẩm khác.

Người nào vi phạm các quy định về xuất bản và phát hành sách, báo hoặc ấn phẩm khác thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ năm nghìn đồng (5.000 đồng) đến hai trăm nghìn đồng (200.000 đồng), cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Điều 216. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng.

Người nào vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 217. Tội xúc phạm quốc kỳ, quốc huy.

Người nào cố ý xúc phạm quốc kỳ, quốc huy thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 218. Hình phạt bổ sung.

1- Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 186 đến 191 và từ 195 đến 197, thì có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định từ hai năm đến năm năm.

2- Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 199 đến 203, thì có thể bị quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

3- Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 199 đến 203, thì bị phạt tiền từ một nghìn đồng (1.000) đến năm mươi nghìn đồng (50.000 đồng) và có thể bị tịch thu một phần tài sản.

Chương 9:

CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ

Điều 219. Khái niệm tội phạm về chức vụ.

Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội do người có chức vụ thực hiện trong khi thi hành nhiệm vụ.

Người có chức vụ nói trên đây là người do bổ nhiệm, do dân cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.

Điều 220. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

Người nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định ở các Điều 139, 193 và 237, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 221. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ.

Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vượt quá quyền hạn làm trái với công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, nếu không thuộc trường hợp quy định ở các Điều 156, 238 và 239, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Điều 222. Tội cố ý làm lộ bí mật công tác, tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác.

1- Người nào cố ý làm lộ bí mật công tác hoặc chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 74 và Điều 92, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 223. Tội vô ý làm lộ bí mật công tác, tội làm mất tài liệu bí mật công tác.

Người nào vô ý làm lộ bí mật công tác hoặc làm mất tài liệu bí mật công tác gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 93, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Điều 224. Tội giả mạo trong công tác.

1- Người nào trong khi thực hiện nhiệm vụ vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu hoặc làm và cấp giấy tờ giả, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Người phạm tội là người có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy công chứng;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

Điều 225. Tội đào nhiệm.

1- Người nào là nhân viên Nhà nước, nhân viên tổ chức xã hội mà cố ý rời bỏ nhiệm vụ gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Lôi kéo người khác đào nhiệm;

b) Phạm tội trong thời chiến;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Điều 226. Tội nhận hối lộ.

1- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền của hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào để làm một việc thuộc trách nhiệm của mình hoặc không làm một việc phải làm, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

Phạm tội trong trường hợp lạm dụng chức vụ, quyền hạn để làm một việc không được phép làm, thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Của hối lộ có giá trị lớn;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Phạm tội nhiều lần.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nhiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 227. Tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ.

1- Người nào đưa hối lộ hoặc làm môi giới hối lộ thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Của hối lộ có giá trị lớn;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Phạm tội nhiều lần.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

4- Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Điều 228. Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi.

1- Người nào trực tiếp hoặc qua trung gian nhận tiền của hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm của họ, hoặc làm một việc không được phép làm, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 229. Hình phạt bổ sung.

1- Người nào phạm một trong các tội quy định ở Chương này thì có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ nhất định từ hai năm đến năm năm.

2- Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều 226, 227 và 228, thì có thể bị phạt tiền đến năm lần giá trị của hối lộ; phạm một trong các tội quy định ở khoản 3 các Điều 226 và 227 thì còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Chương 10:

CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

Điều 230. Khái niệm tội xâm phạm hoạt động tư pháp.

Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, của các tổ chức xã hội và của công dân.

Điều 231. Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội.

1- Kiểm sát viên, điều tra viên nào cố ý truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

Điều 232. Tội ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật.

1- Thẩm phán, hội thẩm nhân dân nào cố ý ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 233. Tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật.

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn ép buộc nhân viên tư pháp điều tra, truy tố, xét xử, thi hành bản án trái pháp luật một cách nghiêm trọng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Điều 234. Tội dùng nhục hình.

1- Người nào dùng nhục hình trong hoạt động tư pháp thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 235. Tội bức cung.

1- Người nào tiến hành điều tra mà bằng các thủ đoạn trái pháp luật buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trong cho việc giải quyết vụ án, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều 236. Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án.

1- Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, nhân viên tư pháp khác, luật sư, bào chữa viên nào thêm, bớt, sửa đổi, huỷ hoặc cố ý làm hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 237. Tội thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn.

1- Người nào trực tiếp quản lý, canh gác, dẫn giải người bị giam mà thiếu trách nhiệm để người đó trốn gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội để người bị giam về một tội nghiêm trọng trốn hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 238. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn tha trái pháp luật người bị giam.

1- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn ra lệnh tha hoặc tự mình tha trái pháp luật người đang bị giam thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2- Phạm tội ra lệnh tha hoặc tha trái pháp luật người bị giam về một tội nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 239. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn giam người trái pháp luật.

1- Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn không ra lệnh tha hoặc không chấp hành lệnh tha người hết hạn giam thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều 240. Tội không chấp hành án, tội cản trở việc thi hành án.

1- Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án hành thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Điều 241. Tội cung cấp tài liệu sai sự thật, tội khai báo gian dối.

Người giám định, người phiên dịch, người làm chứng nào kết luận, dịch, khai gian dối hoặc cung cấp những tài liệu mà mình biết rõ là sai sự thật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 242. Tội từ chối khai báo, tội từ chối kết luận giám định.

Người nào từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo, việc kết luận giám định mà không có lý do chính đáng thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Điều 243. Tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác cung cấp tài liệu sai sự thật, khai báo gian dối.

Người nào mua chuộc hoặc cưỡng ép người làm chứng, người bị hại khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, người giám định kết luận gian dối, người phiên dịch dịch xuyên tạc, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 244. Tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản.

Người nào được giao giữ tài sản bị kê biên hoặc bị niêm phong mà có một trong những hành vi sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Phá huỷ niêm phong;

b) Tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản bị kê biên.

Điều 245. Tội trốn khỏi nơi giam.

1- Người nào đang bị giam hoặc đang bị dẫn giải mà bỏ trốn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng bạo lực đối với người canh gác hoặc người dẫn giải.

Điều 246. Tội che giấu tội phạm.

1- Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong những tội phạm quy định ở các Điều sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:

- Các Điều từ 72 đến 85 về các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia; Điều 87 (tội chiếm đoạt máy bay, tàu thuỷ); Điều 94, khoản 2 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 95, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 96, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ); Điều 97, khoản 2 và 3 (tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới); Điều 98 (tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá huỷ tiền tệ);

- Điều 101 (tội giết người); Điều 112, khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 115, khoản 2 (tội mua bán phụ nữ);

- Điều 129 (tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 132, khoản 2 và 3 (tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 133, khoản 2 và 3 (tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 138, khoản 2 và 3 (tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa);

- Điều 149, khoản 2 (tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em);

- Điều 151 (tội cướp tài sản của công dân); Điều 152 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân);

- Điều 165, khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 166, khoản 2 và 3 (tội buôn bán hoặc tàng trữ hàng cấm); Điều 167, Khoản 2 và 3 (tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả); Điều 172, khoản 2 và 3 (tội chiếm đoạt tem, phiếu, tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu, giấy tờ giả dùng vào việc phân phối);

- Điều 245, khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam).

2- Phạm tội trong trường lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

Điều 247. Tội không tố giác tội phạm.

1- Người nào biết rõ một trong những tội phạm quy định ở các Điều sau đây đang được chuẩn bị hoặc đã được thực hiện mà không tố giác thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

- Các Điều từ 72 đến 85 về các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia; Điều 87 (tội chiếm đoạt máy bay, tàu thuỷ); Điều 94, khoản 2 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 95, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 96, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ); Điều 98 (tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá huỷ tiền tệ).

- Điều 101 (tội giết người); Điều 112, khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm);

- Điều 129 (tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 132, khoản 2 và 3 (tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 133, khoản 2 và 3 (tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 138, khoản 2 và 3 (tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa);

- Điều 151 (tội cướp tài sản công dân); Điều 152 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân);

- Điều 165, khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 172, khoản 2 và 3 (tội chiếm đoạt tem, phiếu, tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu giấy tờ giả dùng vào việc phân phối);

- Điều 245, khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam).

2- Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

Điều 248. Hình phạt bổ sung.

Người nào phạm một trong các tội ở các Điều từ 231 đến 242, thì bị cấm đảm nhiệm những chức vụ nhất định từ hai năm đến năm năm.

Chương 11:

CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN

Điều 249. Những người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân.

Những người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là:

Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội, dân quân, tự vệ phối thuộc chiến đấu với quân đội, những người khác được quy định thuộc lực lượng vũ trang;

Những người không thuộc diện trên đây mà đồng phạm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân.

Điều 250. Tội chống mệnh lệnh.

1- Người nào chống mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười lăm năm;

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Lôi kéo người khác phạm tội;

c) Có dùng vũ lực;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội trong chiến đấu, trong khu vực có chiến sự hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 251. Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh.

1- Người nào chấp hành mệnh lệnh một cách lơ là, chậm trễ, tuỳ tiện gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội trong chiến đấu, trong khu vực có chiến sự hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

Điều 252. Tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm.

1- Người nào cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm:

a) Lôi kéo người khác phạm tội;

b) Có dùng vũ lực;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội trong chiến đấu, trong khu vực có chiến sự hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

Điều 253. Tội làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên.

1- Người nào trong quan hệ công tác mà xúc phạm nghiêm trong nhân phẩm, danh dự hoặc hành hung người chỉ huy hay cấp trên thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội trong chiến đấu hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

Điều 254. Tội làm nhục, hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới.

1- Người nào là chỉ huy hay cấp trên, trong quan hệ công tác mà xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

Điều 255. Tội làm nhục, hành hung đồng đội.

1- Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc hành hung đồng đội, nếu giữa họ không có quan hệ chỉ huy - phục tùng thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều 256. Tội đầu hàng địch.

1- Người nào trong chiến đấu mà đầu hàng địch thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Giao nộp cho địch vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu quan trọng;

c) Lôi kéo người khác phạm tội;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

Điều 257. Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh.

1- Người nào khi bị địch bắt làm tù binh mà khai báo bí mật quân sự hoặc tự nguyện làm việc cho địch thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Khai báo gây hậu quả nghiêm trọng;

c) Đối xử tàn ác với tù binh khác.

Điều 258. Tội bỏ vị trí chiến đấu.

1- Người nào bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Bỏ vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu quan trọng;

c) Lôi kéo người khác phạm tội;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

Điều 259. Tội đào ngũ.

1- Người nào rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Lôi kéo người khác phạm tội;

c) Mang theo, vứt bỏ vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu quan trọng.

Điều 260. Tội trốn tránh nhiệm vụ.

1- Người nào tự gây thương tích, gây tổn hại đến sức khoẻ của mình hoặc dùng các hình thức gian dối khác để trốn tránh nhiệm vụ thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Lôi kéo người khác phạm tội;

c) Phạm tội trong chiến đấu hoặc trong khu vực có chiến sự;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

Điều 261. Tội vắng mặt trái phép.

Người nào không được phép mà đi khỏi đơn vị hoặc không đến đơn vị đúng hạn định, đã bị thi hành kỷ luật mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 262. Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự, tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự.

1- Người nào cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự hoặc chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định ở các Điều 74 và Điều 92, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 263. Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự, tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự.

1- Người nào vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự hoặc làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 93, thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều 264. Tội cố ý báo cáo sai.

1- Người nào cố ý báo cáo sai gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 265. Tội vi phạm các quy định về trực chiến, trực chỉ huy, trực ban.

1- Người nào không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ trực chiến, trực chỉ huy, trực ban gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội trong chiến đấu hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 266. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ.

1- Người nào không chấp hành nghiêm chỉnh những quy định về tuần tra, canh gác, áp tải hộ tống gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội trong chiến đấu hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 267. Tội vi phạm các quy định về đảm bảo an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện.

1- Người nào không chấp hành nghiêm chỉnh những quy định đảm bảo an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 268. Tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí.

1- Người nào sử dụng vũ khí, chất nổ không đúng quy định gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đế hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội trong khu vực có chiến sự hoặc gây hậu quả đặc nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 269. Tội huỷ hoại vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự.

1- Người nào huỷ hoại vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 79 và Điều 94, thì bị phạt tù từ hai năm đến mười hai năm.

2- Phạm tội trong chiến đấu, trong khu vực có chiến sự hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 270. Tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự.

1- Người nào được giao quản lý, trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự mà làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 271. Tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sĩ trong chiến đấu.

1- Người nào có trách nhiệm mà cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc cố ý không chăm sóc, cứu chữa thương binh gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật quân đội đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Người nào chiếm đoạt tài sản của thương binh hoặc di vật, di sản của tử sĩ thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 272. Tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại chiến lợi phẩm.

1- Người nào trong chiến đấu hoặc khi thu dọn chiến trường mà chiếm đoạt hoặc huỷ hoại chiến lợi phẩm thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Chiến lợi phẩm bị chiếm đoạt hoặc huỷ hoại có giá trị lớn;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Điều 273. Tội quấy nhiễu nhân dân.

1- Người nào có hành vi quấy nhiễu gây thiệt hại cho nhân dân làm mất đoàn kết quân dân thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Lôi kéo người khác phạm tội;

c) Phạm tội trong khu vực có chiến sự hoặc trong khu vực có lệnh giới nghiêm;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

Điều 274. Tội lạm dụng nhu cầu quân sự trong khi thực hiện nhiệm vụ.

1- Người nào trong khi thực hiện nhiệm vụ mà vượt quá phạm vi cần thiết của nhu cầu quân sự gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc của công dân thì bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2- Phạm tội gây quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 275. Tội ngược đãi tù binh, hàng binh.

Người nào ngược đãi tù binh, hàng binh thì bị phạt cải tạo không ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Điều 276. Hình phạt bổ sung.

Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 250 đến 252, từ 256 đến 260, Điều 262 và Điều 269, thì có thể bị tước danh hiệu quân nhân.

Chương 12:

CÁC TỘI PHÁ HOẠI HOÀ BÌNH, CHỐNG LOÀI NGƯỜI VÀ TỘI PHẠM CHIẾN TRANH

Điều 277. Tội phá hoại hoà bình gây chiến tranh xâm lược.

Người nào tuyên truyền kích động gây chiến tranh xâm lược hoặc chuẩn bị, tiến hành, tham gia chiến tranh xâm lược nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của một nước khác thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 278. Tội chống loài người.

Người nào trong thời bình hay trong chiến tranh mà có hành vi tiêu diệt hàng loạt dân cư ở một khu vực, phá huỷ các nguồn sống, phá hoại cuộc sống văn hoá, tinh thần của một nước, làm đảo lộn nền tảng của một xã hội nhằm phá hoại xã hội đó, cũng như có những hành vi diệt chủng khác hoặc những hành vi diệt sinh, diệt môi trường tự nhiên, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 279. Tội phạm chiến tranh.

Người nào trong thời kỳ chiến tranh mà ra lệnh hoặc trực tiếp tiến hành việc giết hại dân thường, người bị thương, tù binh, cướp phá tài sản, tàn phá các nơi dân cư, sử dụng các phương tiện hoặc các phương pháp chiến tranh bị cấm, cũng như có hành vi khác vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế theo các công ước mà Việt Nam tham gia hoặc công nhận thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Điều 280. Tội tuyển mộ lính đánh thuê, tội làm lính đánh thuê.

1- Người nào tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê nhằm chống lại một nước xã hội chủ nghĩa anh em, một nước bạn của Việt Nam hoặc một phong trào giải phóng dân tộc, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2- Người nào làm lính đánh thuê thì bị phạt tù năm năm đến mười lăm năm.

Bộ luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ 9, nhất trí thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1985 tại Hà Nội.

 

 

Trường Chinh

(Đã ký)

 

- Điều này được hướng dẫn bởi Mục I Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước. Phần chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản về hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
...
Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự.

I- HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ THỜI GIAN (ĐIỀU 7 BLHS)

1) Đây là một trong những vấn đề rất quan trọng mà các Tòa án cần nắm vững để áp dụng nghiêm chỉnh Bộ luật hình sự vì khoản 1 của Điều 7 đã quy định nguyên tắc chung trong áp dụng luật hình sự là: “Điều luật áp dụng đối với một hình sự có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-1986 cho nên mọi hành vi phạm tội được thực hiện từ ngày 1-1-1986 trở về sau đều phải xử lý theo những quy định của Bộ luật hình sự.
...
2) Từ nguyên tắc chung về áp dụng pháp luật hình sự đã nói trên, khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự đã quy định: “Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội trước khi điều luật đó được ban hành, trừ trường hợp luật quy định khác”. Vì Bộ luật hình sự được áp dụng đối với tất cả những hành vi phạm tội được thực hiện từ ngày 1-1-1986 trở về sau, cho nên khoản 2 của Điều 7 nói trên được áp dụng đối với “những hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 1-1-1986” như sau:
...
3) Khoản 3 của Điều 7 còn quy định: “Điều luật xóa bỏ một tội phạm hoặc quy định một hình phạt nhẹ hơn được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành”.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1985 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Bộ Luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được thông qua ngày 27-6-1985 và có hiệu lực kể từ ngày 1-1-1986.

Theo Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật hình sự, theo tinh thần Điều 7, hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian và xem xét tình hình thực tế của ta, việc thi hành các điều khoản của Bộ luật này trong thời gian từ nay đến 31-12-1985, từ 1-1-1986 trở đi và đối với những việc chuyển tiếp được thực hiện như sau:

A. VỀ VIỆC VẬN DỤNG CÁC ĐIỀU KHOẢN

Cần phân biệt tính chất các điều khoản và thời gian thực hiện hành vi phạm tội:
1. Kể từ ngày 1-1-1986, tất cả các điều của Bộ luật hình sự đều được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện từ ngày đó trở đi, để truy cứu trách nhiệm hình sự và xét xử. Các điều khoản được áp dụng phải được viện dẫn làm căn cứ pháp lý.

2. Kể từ ngày 1-1-1986, các điều luật quy định hình phạt nhẹ hơn được chính thức áp dụng cả đối với các hành vi phạm tôi thực hiện trước ngày đó, mà sau ngày đó, vụ án chưa kết thúc, bản án xét xử tội này vẫn chưa thành nhất định (như hành vi phạm tội thực hiện trước ngày 1-1-1986, nhưng sau ngày 1-1-1986 mới phát hiện, hoặc còn đang điều tra, chờ xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm).
...
B. MỘT SỐ VIỆC CẦN TIẾN HÀNH
...
1. Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật hình sự:
...
2. Đẩy mạnh công tác làm án hình sự:
...

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục I Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1985 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục II Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước. Phần chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản về hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
...
Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự.
...
II- PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG (ĐIỀU 12 BLHS)

Điều 13 của Bộ luật hình sự đã quy định:

1) Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách tương xứng người có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2) Nếu hành vi chống trả rõ ràng là quá đáng, tức là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì người có hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

Việc xem xét những trường hợp phòng vệ chính đáng thường khó khăn, cho nên, Tòa án nhân dân tối cao đã tổng kết thực tiễn xét xử và có Chỉ thị số 07 ngày 22-12-1983 về việc xét xử các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ. Nội dung Chỉ thị nói trên phù hợp với Điều 13 của Bộ luật hình sự. Hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có tính chất nguy hiểm cho xã hội.

b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ.

c) Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại.

d) Hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.

Tương xứng không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ.

Để xem xét hành vi chống trả có tương xứng hay không, có rõ ràng là quá đáng hay không, thì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ như: khách thể cần bảo vệ (thí dụ: bảo vệ địa điểm thuộc bí mật quốc gia, bảo vệ tính mạng); mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể gây ra hoặc đã gây ra và do hành vi phòng vệ gây ra; vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên đã sử dụng; nhân thân của người xâm hại (nam, nữ; tuổi; người xâm hại là côn đồ, lưu manh…); cường độ của sự tấn công và của sự phòng vệ; hoàn cảnh và nơi xảy ra sự việc (nơi vắng người, nơi đông người, đêm khuya) v.v… Đồng thời cũng cần phải chú ý đến yếu tố tâm lý của người phải phòng vệ có khi không thể có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp, phương tiện chống trả thích hợp, nhất là trong trường hợp họ bị tấn công bất ngờ.

Sau khi đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên mà nhận thấy rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng những phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và gây thiệt hại rõ ràng quá mức (như: gây thương tích nặng, làm chết người) đối với người có hành vi xâm hại thì coi hành vi chống trả là không tương xứng và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Ngược lại, nếu hành vi chống trả là tương xứng thì đó là phòng vệ chính đáng.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục II Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước. Phần chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản về hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
...
Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự.
...
III- CHUẨN BỊ PHẠM TỘI VÀ PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT (ĐIỀU 15 BLHS)

Xác định hai giai đoạn này của tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quy trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt.

Chỉ đối với những tội phạm thực hiện do cố ý thì mới có giai đoạn chuẩn bị phạm tội, vì khi cố ý phạm tội thì người phạm tội mới thường tiến hành một số hoạt động như: bàn bạc với người khác, tìm kiếm, sửa soạn phương tiện phạm tội hoặc tạo những điều kiện cần thiết khác cho việc thực hiện tội phạm. Khoản 1 Điều 15 Bộ luật hình sự quy định: Chỉ chuẩn bị phạm một tội nghiêm trọng thì người chuẩn bị phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự, tức là chỉ đối với những tội phạm gây nguy hiểm lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 5 năm tù, thì người chuẩn bị phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Khi hành vi của người phạm tội đã chuyển sang giai đoạn thực hiện thì hành vi đó đã thực sự nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, khoản 2 điều 14 Bộ luật hình sự quy định trừng trị cả trường hợp phạm tội chưa đạt, không phân biệt tội nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng. Phạm tội chưa đạt là những hành vi đã tiến hành tội phạm, nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Trong thực tế đấu tranh chống tội phạm, phạm tội chưa đạt có hai dạng: phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành vì không có điều kiện thực hiện đầy đủ hành vi phạm tội, thí dụ: A đã trèo tường vào nhà B để trộm tài sản, nhưng thấy động nên phải rút lui; và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành vì đã thực hiện đến cùng tội phạm nhưng không đạt được mục đích, thí dụ: kẻ giết người đã bắn vào người bị hại, nhưng bắn không trúng, hoặc y đã cho người khác uống thuốc độc, nhưng do liều lượng quá nhẹ nên người bị hại không chết.

Thông thường thì trường hợp thứ hai nguy hiểm hơn trường hợp thứ nhất, cho nên phải xử phạt nặng hơn.

Bản án xử những trường hợp phạm tội chưa đạt phải định tội danh là phạm tội chưa đạt về tội gì (thí dụ: giết người chưa đạt) và phải viện dẫn điều luật quy định về tội đó (như: Điều 101 về tội giết người…) và khoản 2 Điều 15 về phạm tội chưa đạt.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước. Phần chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản về hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
...
Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự.
...
IV- TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI (ĐIỀU 15 Bộ luật hình sự)

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng tuy không có gì ngăn cản. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Thí dụ: B đã chuẩn bị dao găm, bao tải để giết người và cướp của ở nhà ông A, B đến nhà ông A nhưng B nghỉ lại và thấy rằng ông A đã là người tốt đối với mình nên B quay về, không giết người, cướp của ở nhà ông A nữa.

Điều kiện cơ bản để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là người phạm tội tự mình không thực hiện tội phạm nữa mặc dù không có gì ngăn cản. Do đó, nếu do điều kiện khách quan mà người phạm tội không thực hiện tội phạm nữa thì không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Thí dụ: trong trường hợp trên, nếu B quay về vì không cậy được cửa, vì có tiếng động trong nhà làm cho y sợ hãi, hoặc vì nhà ông A vẫn còn thức v.v… thì việc B quay về không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội và B vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 15 Bộ luật hình sự về phạm tội chưa đạt.

Trong thực tế, việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có thể do nhiều nguyên nhân như: hối hận, lo sợ, sợ bị trừng trị, không muốn thực hiện tội phạm đối với người quen biết v.v… Dó đó, chúng ta không nên đòi hỏi người có hành vi nguy hiểm phải tỉnh ngộ, hối hận mà chỉ cần họ đã thực hiện sự tự nguyện và dứt khoát không thực hiện tội phạm nữa thì được coi là đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

Trong trường hợp người phạm tội là người tổ chức tội phạm thì mặc dầu họ đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội nhưng vẫn để mặc cho đồng bọn thực hiện tội phạm, thì người đó không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Thí dụ: người đã đề xuất ra việc trộm cắp, đã vạch ra kế họach đi ăn trộm, đã vẽ sơ đồ cho đồng bọn, mặc dầu người đó đã tự ý không tham gia trộm nữa mà cứ để mặc đồng bọn thực hiện trộm cắp. Trong trường hợp này, người tự ý không tham gia trộm nữa không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

Trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, nhưng hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành một tội phạm khác thì người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi đã thực hiện. Thí dụ: một người đã mua lựu đạn để giết người, mặc dù họ tự ý chấm dứt việc giết người, vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng (Điều 95 Bộ luật hình sự). Trường hợp định tham ô nhưng mới giả mạo được giấy tờ mà tự ý chấm dứt việc phạm tội tham ô, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giả mạo trong công tác (Điều 224 Bộ luật hình sự)… Cần lưu ý là đối với truờng hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành thì không có tự ý chấm dứt nửa chừng việc phạm tội. Thí dụ: A định giết B, A đã chĩa súng vào B và bóp cò súng, nhưng đạn không nổ, sau đó, y tự ý thôi không thực hiện hành vi nào để giết B nữa. Trong trường hợp này thì A vẫn phạm tội giết người chưa đạt chứ không được coi là tự ý chấm dứt nửa chừng việc phạm tội.

Xem nội dung VB
- Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong các trường hợp có đồng phạm được hướng dẫn bởi Mục I Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:

I- VỀ TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI (ĐIỀU 16 BLHS)

Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986 chỉ mới hướng dẫn về việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người thực hành tội phạm, chưa có hướng dẫn về việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong các trường hợp có đồng phạm. Do đó, nay cần hướng dẫn thêm như sau:

1- Việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người xúi giục, người tổ chức, người giúp sức có đặc điểm khác với việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người thực hành tội phạm. Nếu người thực hành tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, nghĩa là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, mặc dù không có gì ngăn cản, thì tội phạm không thể hoàn thành, hậu quả mà kẻ phạm tội mong muốn không xảy ra. Trong các vụ án có đồng phạm, nếu người xúi giục hoặc người tổ chức hay người giúp sức tuy tự ý nửa chừng từ bỏ ý định phạm tội, nhưng không áp dụng những biện pháp cần thiết để ngăn chặn kẻ thực hành thực hiện tội phạm, thì tội phạm vẫn có thể được thực hiện, hậu quả của tội phạm vẫn có thể xảy ra. Do đó, để được miễn trách nhiệm hình sự theo điều 16 Bộ luật hình sự về tội định phạm, người xúi giục, người tổ chức, người giúp sức phải có những hành động tích cực nhằm ngăn chặn việc thực hiện tội phạm.
...
2- Thực tiễn xét xử cho thấy trong một số vụ án nhiều người thực hành tội phạm đã có người tự ý nửa chừng từ bỏ ý định phạm tội, có người không từ bỏ ý định phạm tội. Trong trường hợp này, người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự theo điều 16 BLHS nếu họ đã không làm gì hoặc những việc mà họ đã làm trước khi từ bỏ ý định phạm tội không giúp gì cho những người đồng phạm khác trong việc tiếp tục thực hiện tội phạm. Thí dụ: 3 người rủ nhau đến ga xe lửa để trộm cắp, nhưng không bàn bạc gì cụ thể cả; trên đường đi một người đã bỏ về vì không muốn phạm tội nữa; hai người còn lại vẫn tiếp tục đến ga xe lửa và lợi dụng sự sơ hở của một số hành khách đã trộm cắp được một số hành lý. Còn nếu những việc mà họ đã làm được những người đồng phạm khác sử dụng để thực hiện tội phạm, thì họ cũng phải có những hành động tích cực để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm đó, thì họ mới có thể được miễn trách nhiệm hình sự theo điều 16 BLHS. Nhưng nếu họ không ngăn chặn được những người đồng phạm khác thực hiện tội phạm, hậu quả của tội phạm vẫn xảy ra, thì họ có thể vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự, tương tự như trường hợp về người xúi giục, người tổ chức, người giúp sức đã được nêu ở điểm 1 trên đây. Thí dụ: mấy người bàn bạc với nhau về việc trộm cắp ở một địa điểm nào đó; một người trong bọn họ đã vẽ sơ đồ, chỉ dẫn cho đồng bọn cách đột nhập một cách an toàn vào nơi để tài sản, sau đó người này từ bỏ ý định phạm tội và cũng chỉ khuyên đồng bọn không nên phạm tội nữa; nhưng đồng bọn của người này vẫn sử dụng sơ đồ và sự chỉ dẫn của người này để thực hiện tội phạm thì người này vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

3- Người thực hành, người giúp sức tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm, nhưng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm theo quy định tại điều 247 BLHS, nếu họ không tố giác tội phạm do người (hoặc những người) đồng phạm thực hiện không có sự trợ giúp của họ.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong các trường hợp có đồng phạm được hướng dẫn bởi Mục I Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục V Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước. Phần chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản về hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
...
Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự.
...
V- CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ (ĐIỀU 24 BLHS) VÀ CẢI TẠO Ở ĐƠN VỊ KỶ LUẬT CỦA QUÂN ĐỘI (ĐIỀU 70 BLHS) (*)

1) Cải tạo không giam giữ là hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng (Điều 24 Bộ luật hình sự).

Bộ luật hình sự đã quy định rõ những tội phạm nào được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Đồng thời theo khoản 3 Điều 38 của Bộ luật hình sự thì cũng có thể áp dụng hình phạt này đối với những trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định phạt giam nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được chuyển sang loại hình phạt nhẹ hơn. Hình phạt cải tạo không giam giữ không áp dụng đối với những tội phạm nghiêm trọng, kể cả trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

2) Hình phạt cải tạo không giam giữ nhẹ hơn hình phạt tù giam, do đó, chỉ áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ trong những trường hợp sau đây:

- Có nhiều tình tiết giảm nhẹ hình phạt.

- Bị cáo không phải là người tái phạm về tội cố ý. Nếu bị cáo là người tái phạm về tội cố ý thì không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.

- Bị cáo phải là người có căn cước, lý lịch rõ ràng, có nơi thường trú (vì trong hình phạt cải tạo không giam giữ, Điều 24 Bộ luật hình sự quy định là: “Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để giám sát, giáo dục”). Do đó, nếu bị cáo không có căn cước, lý lịch rõ ràng, không có nơi thường trú thì không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.

3) Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính, cho nên Tòa án còn có thể quyết định thêm hình phạt bổ sung mà luật có quy định đối với tội đó. Thí dụ: đối với tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa quy định trong khoản 1 Điều 137 thì Tòa án có thể quyết định thêm hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm một số chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa trong thời hạn từ 2 năm đến 5 năm.

4) Khi phạt cải tạo không giam giữ, thì trong bản án, Tòa án phải quyết định là giao người bị án cho cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội nào giám sát, giáo dục và mức độ khấu trừ phần thu nhập của họ để sung quỹ Nhà nước (từ 5% đến 20%). Tuy nhiên, việc khấu trừ thu nhập không phải là việc bắt buộc nên phải xem xét điều kiện về kinh tế của bị cáo để xem có nên khấu trừ thu nhập của họ không. Trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ là người chưa thành niên thì Tòa án không được khấu trừ phần thu nhập của họ.

5) Nếu người bị kết án đã bị tạm giam thì thời hạn tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ.

6) Hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội (Điều 24 và Điều 70 Bộ luật hình sự) thực chất cũng là hình phạt cải tạo không giam giữ nhưng được áp dụng đối với quân nhân phạm tội.

Đối với người phạm tội là quân nhân tại ngũ, trong trường hợp điều luật quy định hình phạt cải tạo không giam giữ, thì áp dụng hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội quy định ở Điều 70 Bộ luật hình sự. Người bị kết án cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ về cải tạo không giam giữ và có thể bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Đối với người thường dân phạm tội gây thiệt hại cho quân đội, bị Tòa án quân sự xét xử thì áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định ở điều 24.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Chương 1 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 95-HĐBT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 14/11/2000)

Để áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội theo quy định của điều 24 và điều 70 Bộ Luật Hình sự đã được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1985; thi hành các điều 227 khoản 2 và 6, điều 234, điều 237 Bộ Luật tố tụng hình sự đã được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 6 năm 1988
...
QUY CHẾ VỀ CHẾ ĐỘ CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ VÀ CẢI TẠO Ở ĐƠN VỊ KỶ LUẬT CỦA QUÂN ĐỘI

Chương 1: CHẾ ĐỘ CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ

Điều 1. - Chế độ cải tạo không giam giữ bao gồm các quy định về biện pháp tổ chức, thực hiện; các quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ của người bị kết án cải tạo không giam giữ để họ tham gia lao động, học tập và sinh hoạt có tổ chức và kỷ luật trong môi trường xã hội thích hợp, nhằm giáo dục cho họ ý thức tuân theo pháp luật, tôn trọng quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa.

Điều 2. - Khi tuyên hình phạt cải tạo không giam giữ, Toà án quyết định cơ quan tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục người bị kết án.
...
Điều 3. - Khi nhận được quyết định thi hành án và trích lục bản án, thủ trưởng cơ quan, tổ chức xã hội, giám đốc xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nói ở điểm a, điều 2 Quy chế này có trách nhiệm bố trí để người bị kết án trở lại tham gia lao động, học tập và sinh hoạt bình thường; không được bố trí những chức vụ và công việc mà toà án đã cấm theo điều 28 Bộ Luật Hình sự.
...
Điều 4. - Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phải phân công người trực tiếp phụ trách việc giáo dục người bị kết án, phối hợp với cơ quan công an và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác trong việc giám sát, giáo dục; yêu cầu người bị kết án thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của họ; nếu người bị kết án có biểu hiện tiêu cực thì phải có biện pháp kịp thời để ngăn ngừa, giáo dục, nếu thấy cần thiết phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để xử lý. Cơ quan, tổ chức được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục không được tự đặt thêm những hạn chế về quyền hạn và nghĩa vụ công dân của người bị kết án.
...
Điều 5. - Người bị kết án có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách và Luật pháp của Nhà nước: phải tích cực tham gia lao động, học tập và sinh hoạt tập thể, không vi phạm kỷ luật.
...
Điều 6. - Người bị kết án được hưởng mọi quyền và thực hiện nghĩa vụ công dân nếu không bị Toà án tuyên hạn chế.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục V Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Điều này được hướng dẫn bởi Chương 1 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 95-HĐBT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 14/11/2000)
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Mục V Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước. Phần chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản về hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
...
Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự.
...
V- CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ (ĐIỀU 24 BLHS) VÀ CẢI TẠO Ở ĐƠN VỊ KỶ LUẬT CỦA QUÂN ĐỘI (ĐIỀU 70 BLHS) (*)
...
6) Hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội (Điều 24 và Điều 70 Bộ luật hình sự) thực chất cũng là hình phạt cải tạo không giam giữ nhưng được áp dụng đối với quân nhân phạm tội.

Đối với người phạm tội là quân nhân tại ngũ, trong trường hợp điều luật quy định hình phạt cải tạo không giam giữ, thì áp dụng hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội quy định ở Điều 70 Bộ luật hình sự. Người bị kết án cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ về cải tạo không giam giữ và có thể bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Đối với người thường dân phạm tội gây thiệt hại cho quân đội, bị Tòa án quân sự xét xử thì áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định ở điều 24.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Chương 2 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 95-HĐBT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 14/11/2000)

Để áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội theo quy định của điều 24 và điều 70 Bộ Luật Hình sự đã được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1985; thi hành các điều 227 khoản 2 và 6, điều 234, điều 237 Bộ Luật tố tụng hình sự đã được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 6 năm 1988
...
QUY CHẾ VỀ CHẾ ĐỘ CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ VÀ CẢI TẠO Ở ĐƠN VỊ KỶ LUẬT CỦA QUÂN ĐỘI
...
Chương 2: CHẾ ĐỘ CẢI TẠO Ở ĐƠN VỊ KỶ LUẬT CỦA QUÂN ĐỘI

Điều 8. - Chế độ cải tạo ở đơn vị kỷ luật quân đội của quân đội bao gồm các quy định về biện pháp tổ chức, thực hiện; các quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ của những quân nhân tại ngũ bị tòa án quân sự xử phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội phải lao động, học tập và sinh hoạt với những yêu cầu kỷ luật nghiêm khắc trong các đơn vị kỷ luật của quân đội nhằm giáo dục họ có ý thức tuân theo pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa.

Điều 9. - Tổ chức, biên chế, trang bị của các đơn vị kỷ luật của quân đội; các chế độ, tiêu chuẩn thực hiện ở các đơn vị kỷ luật của quân đội do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét và quyết định.
...
Điều 10. - Các đơn vị kỷ luật của quân đội có nhiệm vụ:
...
Điều 11. - Quân nhân tại ngũ phạm tội bị xử phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội có nghĩa vụ:
...
Điều 12. - Trong quá trình chấp hành hình phạt, nếu quân nhân bị kết án cải tạo tốt, tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được xét giảm thời hạn cải tạo theo quy định tại các Điều 49 hoặc khoản 1, Điều 51 Bộ Luật hình sự và Điều 238 Bộ Luật tố tụng Hình sự. Nếu vi phạm kỷ luật, nội quy hoặc tiếp tục có những hành vi sai trái khác thì bị xử lý theo pháp luật.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Mục V Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Điều này được hướng dẫn bởi Chương 2 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 95-HĐBT năm 1989 (VB hết hiệu lực: 14/11/2000)
- Điều này được hướng dẫn bởi Phần A Mục VI Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước. Phần chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản về hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
...
Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự.
...
VI- TỔNG HỢP HÌNH PHẠT (các Điều 41, 42, và 43 BLHS)

Cần chú ý Bộ luật hình sự đã quy định cách tổng hợp hình phạt khác nhau khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 41) và tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Điều 42).

A- Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 41).

1. Khi xét xử cùng một lần người phạm nhiều tội, cần chú ý là Tòa án phải quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó quyết định hình phạt chung cho các tội.

Khi định tội danh và quyết định hình phạt, phải ghi rõ tên tội, điều luật, khoản nào, điểm nào của điều luật đã được áp dụng vì điều này sẽ có ảnh hưởng quan trọng về sau đối với việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm, thời hiệu thi hành án, thủ tục xóa án v.v…

2. Việc quyết định hình phạt chung trong trường hợp phạm nhiều tội (*)có thể thực hiện bằng hai cách: thu hút hình phạt nhẹ vào hình phạt nặng nhất; hoặc cộng toàn bộ hình phạt đã tuyên về từng tội, hay là cộng vào hình phạt nặng nhất một phần các hình phạt đã tuyên. Hai cách đó đều có thể thực hiện nhưng cần chú ý là Bộ luật hình sự đã quy định rõ mức cao nhất của hình phạt chung không được vượt quá mức cao nhất của “khung hình phạt” mà luật quy định đối với tội nặng nhất đã phạm và trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên. Thí dụ: Bị cáo phạm 3 tội: cướp tài sản xã hội chủ nghĩa, bị phạt 10 năm tù theo khoản 1 Điều 129; trộm tài sản riêng của công dân bị phạt 6 năm tù theo khoản 2 Điều 155; và hiếp dâm, bị phạt 3 năm tù theo khoản 1 Điều 112. Nếu cộng toàn bộ hình phạt thì bị cáo bị phạt 19 năm tù. Tuy nhiên, trong trường hợp này, hình phạt cao nhất theo khoản 1 Điều 129 về tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa là tội nặng nhất là 15 năm tù, nên Tòa án chỉ có thể quyết định phạt hình chung cao nhất là 15 năm tù.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Nghị quyết số 02-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đã hướng dẫn áp dụng một số quy định của phần chung Bộ luật hình sự. Nói chung, nội dung của Nghị quyết này là đúng, nhưng qua thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân tối cao nhận thấy cần phải hướng dẫn thêm về các vấn đề: Phạm tội có tổ chức và tổng hợp hình phạt. Sự hướng dẫn về thi hành án treo cũng còn có chỗ chưa chính xác, nên cần phải hướng dẫn lại.
...
Vì vậy, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp ngày 16 tháng 11 năm 1988, với sự tham gia của đại diện Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02-HĐTP ngày 5-1-1986 về các vấn đề sau đây:
...
III- TỔNG HỢP CÁC HÌNH PHẠT TÙ GIAM (điều 41 BLHS)

Trong thời gian qua, đối với trường hợp bị cáo phạm nhiều tội, một số Tòa án do chưa nắm vững quy định của Bộ luật hình sự, nên đã quyết định hình phạt chung không phù hợp với những tội phạm mà bị cáo đã thực hiện. Đặc biệt là có trường hợp hình phạt chung hoàn toàn không hợp lý. Thí dụ: một bị cáo bị phạt 8 năm tù về một tội và bị phạt 3 năm tù về một tội khác, khi tổng hợp các hình phạt Tòa án đã quyết định thu hút toàn bộ hình phạt nhẹ hơn vào hình phạt nặng hơn, nên hình phạt chung cho cả hai tội chỉ còn có 8 năm tù, cho nên hình phạt chung này không tương ứng với toàn bộ các tội phạm mà bị cáo đã thực hiện.

Điều 41 Bộ luật hình sự đã quy định là “Khi xét xử một lần người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với mỗi tội, sau đó quyết định hình phạt chung. Hình phạt chung không được vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt mà luật quy định đối với tội nặng nhất đã phạm và trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên”. Căn cứ vào các điều 41, 42 và 43 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02-HĐTP ngày 5-1-1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn về việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp bị cáo phạm nhiều tội và tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

Để uốn nắn những lệch lạc của một số Tòa án trong việc tổng hợp hình phạt đối với bị cáo phạm nhiều tội, Tòa án nhân dân tối cao đã có Thông tư số 02-TT/TATC ngày 2-8-1988 hướng dẫn thêm về việc tổng hợp hình phạt trong những trường hợp nói trên. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoàn toàn thống nhất với nội dung Thông tư đó, và hướng dẫn thêm về quyết định hình phạt chung khi xét xử một lần bị cáo phạm nhiều tội và bị phạt tù giam như sau:

1- Về nguyên tắc phải cộng các hình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với các tội phạm của bị cáo thành hình phạt chung, nếu hình phạt chung không vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với tội nặng nhất. Thí dụ: bị cáo phạm tội cướp tài sản của công dân bị phạt 8 năm tù theo khoản 1 điều 151 Bộ luật hình sự (với khung hình phạt là từ 3 năm đến 12 năm tù). Đồng thời y còn phạm tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa bị phạt 3 năm tù theo khoản 1 điều 132 Bộ luật hình sự (với khung hình phạt là từ 6 tháng đến 5 năm tù). Trong trường hợp này thì hình phạt chung phải là 8 năm tù cộng với 3 năm tù thành 11 năm tù, mà không thể dưới 11 năm tù.

2- Nếu cộng tất cả các hình phạt đã tuyên đối với các tội phạm mà vượt mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội nặng nhất, thì hình phạt chung phải là mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội nặng nhất mà không thể thấp hơn hoặc cao hơn. Thí dụ: bị cáo bị phạt 10 năm tù về tội cướp tài sản của công dân theo khoản 1 điều 151 Bộ luật hình sự (với khung hình phạt là từ 3 năm tù đến 12 năm tù). Đồng thời y còn bị phạt 3 năm tù về tội hiếp dâm theo khoản 1 điều 112 Bộ luật hình sự (với khung hình phạt là từ 1 đến 5 năm tù). Trong trường hợp nay, không thể cộng tất cả hình phạt của 2 tội là 10 năm tù và 3 năm tù thành 13 năm tù, vì như vậy thì hình phạt chung đó vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội nặng nhất là 12 năm tù. Do đó, hình phạt chung chỉ là 12 năm tù.

3- Trong trường hợp các tội của bị cáo đều bị xử phạt theo khung hình phạt có mức cao nhất giống nhau (như: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa theo khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài xã hội chủ nghĩa theo khoản 1 điều 135 Bộ luật hình sự đều có khung hình phạt chung đó, việc quyết định hình phạt chung cũng theo các hướng dẫn ở các điểm 1 và 2 nói trên.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần chung Bộ luật hình sự.
...
2- Điều 41 được sửa đổi như sau:

Điều 41. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.

Khi xét xử cùng một lần người phạm nhiều tội, Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó quyết định hình phạt chung cho các tội. Hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của loại hình phạt đã tuyên.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Phần A Mục VI Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Nghị quyết số 02-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được hướng dẫn bởi Phần B Mục VI Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước. Phần chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản về hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
...
Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự.
...
VI- TỔNG HỢP HÌNH PHẠT (các Điều 41, 42, và 43 BLHS)

Cần chú ý Bộ luật hình sự đã quy định cách tổng hợp hình phạt khác nhau khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 41) và tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Điều 42).
...
B- Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Điều 42 BLHS)

1. Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản án này (*)(như tội phạm sau lại được xử trước, còn tội phạm trước lại được xử sau) thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung, và hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của khung hình phạt mà luật quy định đối với tội nặng nhất đã phạm và trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên như đã nói trong điểm 2 nói trên.
...
2. Trong trường hợp một người đang chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó “cộng” với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung. Hình phạt chung không được vượt quá mức cao nhất mà luật quy định cho “loại hình phạt” đã tuyên chứ không bị hạn chế ở mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội nặng nhất. Thí dụ: một kẻ phạm tội đã bị phạt 10 năm tù về tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa, theo khoản 1 Điều 129 nhưng mới chấp hành hình phạt được 3 năm thì y phạm tội mới, do đó, hình phạt chưa chấp hành còn lại là 7 năm tù. Y phạm 2 tội mới là: tội trộm tài sản của công dân, bị phạt theo khoản 2 Điều 155 là 7 năm tù và tội hiếp dâm, bị phạt theo khoản 2 Điều 112 là 6 năm tù. Như vậy là trong trường hợp này, hình phạt chung cao nhất đối với bị cáo không bị hạn chế ở mức cao nhất của khung hình phạt luật định đối với tội nặng nhất (ở đây là khoản 1 Điều 129 về tội cướp, mức hình phạt cao nhất là 15 năm tù) mà có thể là 7 + 7 + 6 = 20 năm tù (vì đây là mức cao nhất của loại hình phạt tù giam có thời hạn).
...
3. Đối với người chưa thành niên phạm tội, có tội phạm trước khi đủ 18 tuổi, có tội phạm sau khi đủ 18 tuổi thì tổng hợp hình phạt theo quy định của điều 64 và điều 65 Bộ luật hình sự.

4. Án treo là án phạt tù nhưng được miễn chấp hành hình phạt tù nếu người bị kết án không phạm tội mới trong thời gian thử thách. Vì vậy, nếu họ phạm tội mới trong thời gian thử thách mà đáng phải phạt tù thì không được hưởng án treo một lần nữa.
...
5. Chỉ tổng hợp hình phạt của bản án đang xử với hình phạt của bản án khác đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, các cấp sơ thẩm, phúc thẩm cần chú ý những trường hợp sau đây:
...
6. Nếu Tòa án cấp huyện xét xử mà hình phạt chung cao hơn mức hình phạt do Tòa án đó có quyền quyết định thì Tòa án cấp huyện không được xét xử và vụ án phải do Tòa án cấp tỉnh xét xử (*)

Xem nội dung VB
- Điều này được bổ sung bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần chung Bộ luật hình sự như sau:
...
3) Điều 42 về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được bổ sung một khoản mới như sau:

"3. Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp theo quy định ở khoản 1 và khoản 2 Điều này, thì Toà án ra quyết định tổng hợp các hình phạt của các bản án. Hình phạt chung không được vượt mức cao nhất mà Luật quy định cho loại hình phạt đã tuyên".

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Phần B Mục VI Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Điều này được bổ sung bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục VII Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước. Phần chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản về hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
...
Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự.
...
VII- ÁN TREO (ĐIỀU 44 BLHS) (**)

1- Theo Điều 44 Bộ luật hình sự thì án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Tức là căn cứ vào nhân thân của người bị kết án và những tình tiết giảm nhẹ, Tòa án sẽ miễn cho người bị kết án không phải chấp hành hình phạt tù nếu trong thời gian thử thách người đó không phạm tội mới. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải quyết định thời gian phạt tù đúng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo rồi mới cho hưởng án treo chứ không được nâng cao thời hạn tù án treo vì cho đó là hình phạt nhẹ, và phải tuyên rành rọt là bị cáo bị phạt mấy năm tù nhưng cho hưởng án treo, chứ không được tuyên là mấy năm tù án treo.
...
2- Trong công tác xét xử, các Tòa án cũng cần phải phân biệt những trường hợp phạt cải tạo không giam giữ với những trường hợp phạt tù mà cho hưởng án treo, vì phạt tù mà cho hưởng án treo được áp dụng đối với những trường hợp phạm tội “nặng hơn” những trường hợp được xử phạt bằng cải tạo không giam giữ. Hậu quả pháp lý của hai loại hình phạt cũng khác nhau: người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách và bị phạt tù thì phải chấp hành hình phạt của tội mới tổng hợp với hình phạt của tội cũ. Trái lại, người bị phạt cải tạo không giam giữ đã chấp hành xong hình phạt mà phạm tội mới thì chỉ phải chịu hình phạt về tội mới. Cải tạo không giam giữ chỉ được áp dụng đối với những tội ít nghiêm trọng, nhưng án treo được áp dụng cả đối với trường hợp phạm tội nghiêm trọng mà hình phạt không quá 5 năm tù.

3- Những điều kiện được hưởng án treo đã được Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn trong Thông tư số 2308/NCPL ngày 1-12-1961 (tập hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tập 1, trang 119) nhưng trong điểm a mục c của phần II có nói là người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt cũ nếu trong thời gian thử thách mà họ phạm tội mới “cùng tính chất với tội cũ, thì nay không phù hợp với Bộ luật hình sự vì Điều 44 chỉ quy định đơn giản là: nếu trong thời gian thử thách, người bị án treo phạm tội mới và bị xử phạt tù thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án mới. Như vậy là tội phạm cũ và tội phạm mới không nhất thiết phải cùng tính chất.

4- Thời gian thử thách là từ 1 đến 5 năm, tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, hoặc bản án phúc thẩm cho hưởng án treo). Thời gian thử thách không được ít hơn mức án tù đã tuyên, mà ít nhất phải bằng hoặc nhiều hơn (thông thường phải dài hơn) mức án tù đã tuyên. Tuy nhiên, nếu người bị kết án đã bị tạm giam lâu trước khi bản án có hiệu lực pháp luật thì khi quyết định thời gian thử thách, Tòa án cần chú ý giảm cho họ thời gian thử thách. Thí dụ: người phạm tội đã bị tạm giam hai năm và sau đó, bị phạt 3 năm tù nhưng được hưởng án treo thì thời gian thử thách có thể chỉ là một năm. Trong trường hợp đặc biệt có thể miễn cho họ thời gian thử thách nếu Tòa án chỉ phạt tù dưới mức thời gian mà họ đã bị tạm giam (*)

5- Về nguyên tắc, cấp phúc thẩm không được làm xấu tình trạng của bị cáo nếu không có kháng cáo hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc của người bị hại yêu cầu tăng nặng hình phạt. Vì vậy, trong trường hợp bị cáo được cấp sơ thẩm cho hưởng án treo thì cần xác định những trường hợp làm xấu tình trạng của bị cáo và những trường hợp xử phạt có lợi cho họ như sau

Xem nội dung VB
- Nội dung hướng dẫn Điều này tại Nghị quyết 02-HĐTP-TANDTC/QĐ được sửa đổi bởi Thông tư 01-TAND/TT-1988

Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 02/HĐTP ngày 5/1/1986 (mục VII) đã hướng dẫn vận dụng Điều 44 Bộ luật hình sự về án treo. Nói chung, vấn đề án treo nói trong Nghị quyết số 02 là đúng đắn.

Riêng về thời gian thử thách của án treo, Nghị quyết số 02/HĐTP hướng dẫn: trong trường hợp đặc biệt, người bị án đã bị tạm giam lâu thì Tòa án “có thể miễn” cho họ thời gian thử thách nếu hình phạt tù dưới mức thời gian họ đã bị tạm giam. Tại công văn số 108/HĐNN ngày 19/6/1987, Hội đồng Nhà nước đã giải thích là trong bất cứ trường hợp nào cũng không được miễn thời gian thử thách án treo.

Vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn lại về thời gian thử thách của án treo như sau:

1. Thời gian thử thách án treo.
...
2. Cách tính thời gian thử thách của án treo
...
3. Vấn đề tổng hợp hình phạt khi người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách và bị phạt tù.
...

Xem nội dung VB
- Thời gian thử thách của án treo được hướng dẫn bởi bởi Mục III Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
III- VỀ THỜI GIAN THỬ THÁCH CỦA ÁN TREO (*)(ĐIỀU 44 BLHS)

Tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16-11-1988 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn rằng thời gian thử thách của án treo tình từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Theo tinh thần đó, nếu Tòa án cấp giám đốc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo, thì thời gian thử thách của án treo được tính từ ngày tuyên bản án giám đốc thẩm. Tuy nhiên, cách tính thời gian thử thách của án treo như vậy có thể gây thiệt hại cho người được hưởng án treo. Cụ thể là một người đã được Tòa án cấp sơ thẩm hoặc cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, và thời gian thử thách của án treo được tính từ ngày tuyên bản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật hoặc bản án phúc thẩm bị kháng nghị và bị sửa theo thủ tục giám đốc thẩm và Tòa án cấp giám đốc thẩm cũng cho bị cáo hưởng án treo (chỉ giảm mức hình phạt tù hoặc rút ngắn thời gian thử thách của án treo). Trong trường hợp này nếu tính thời gian thử thách của án treo từ ngày tuyên bản án giám đốc thẩm thì có thể gây thiệt hại cho bị cáo. Do đó, cần quy định một trường hợp đặc biệt là nếu Tòa án cấp giám đốc thẩm cho bị cáo hưởng án treo, nhưng bị cáo cũng được hưởng án treo theo bản án đã bị kháng nghị và sửa giảm nhẹ theo thủ tục giám đốc thẩm, thì thời gian thử thách của án treo đối với bị cáo tính từ ngày tuyên bản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm đã bị kháng nghị.

Xem nội dung VB
- Nội dung hướng dẫn Điều này tại Nghị quyết 02-HĐTP được bổ sung bởi Mục II Nghị quyết số 02-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đã hướng dẫn áp dụng một số quy định của phần chung Bộ luật hình sự. Nói chung, nội dung của Nghị quyết này là đúng, nhưng qua thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân tối cao nhận thấy cần phải hướng dẫn thêm về các vấn đề: Phạm tội có tổ chức và tổng hợp hình phạt. Sự hướng dẫn về thi hành án treo cũng còn có chỗ chưa chính xác, nên cần phải hướng dẫn lại.
...
Vì vậy, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp ngày 16 tháng 11 năm 1988, với sự tham gia của đại diện Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02-HĐTP ngày 5-1-1986 về các vấn đề sau đây:
...
II- THI HÀNH ÁN TREO (điều 44 BLHS) (*)
...
1- Thời gian thử thách của án treo.
...
2- Cách tính thời gian thử thách
...
3- Tổng hợp hình phạt khi người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Nghị quyết số 01-HĐTP (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Việc áp dụng Điều 44 Bộ Luật Hình sự về án treo đã được hướng dẫn ở một số văn bản như: Thông tư số 2308/NCPL ngày 1-12-1961; Thông tư số 01/NCPL ngày 6-4-1988; Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16-11-1988 và Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 19-4-1989 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao... Tuy nhiên, việc có nhiều văn bản hướng dẫn về án treo như trên không thuận tiện cho việc áp dụng. Mặt khác, Điều 44 Bộ Luật Hình sự đã được sửa đổi theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, nên một số hướng dẫn trước đây nay không còn phù hợp nữa.
...
Trong những năm gần đây, bên cạnh nhiều ưu điểm, ở các cấp Tòa án đều có những trường hợp áp dụng quy định về án treo không đúng, như đáng cho hưởng án treo thì lại phạt tù giam hoặc đáng phạt tù giam thì lại cho hưởng án treo. Có trường hợp đã cho hưởng án treo một cách tùy tiện, như đối với người tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm cũng cho hưởng án treo v.v...
Để khắc phục tình trạng nêu trên và để áp dụng Điều 44 Bộ luật Hình sự được đúng đắn, thống nhất, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

I. VỀ Ý NGHĨA CỦA QUY ĐỊNH VỀ ÁN TREO
...
II. VỀ CĂN CỨ ĐỂ CHO NGƯỜI BỊ KẾT ÁN ĐƯỢC HƯỞNG ÁN TREO
...
III. VỀ THỜI GIAN THỬ THÁCH VÀ CÁCH TÍNH THỜI GIAN THỬ THÁCH CỦA ÁN TREO
...
IV. VỀ TỔNG HỢP HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG ÁN TREO PHẠM TỘI MỚI TRONG THỜI GIAN THỬ THÁCH
...
V. VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT BỔ SUNG ĐỐI VỚINGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG ÁN TREO
...
VI. VIỆC GIAO NGƯỜI BỊ ÁN TREO CHO CƠ QUAN NHÀ NƯỚC HOẶC TỔ CHỨC XÃ HỘI THEO DÕI VÀ GIÁO DỤC
...
VII. VỀ SỬA BẢN ÁN SƠ THẨM
...
VIII. VỀ GIẢM THỜI GIAN THỬ THÁCH
...
IX. VIỆC ĐƯƠNG NHIÊN XÓA ÁN ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG ÁN TREO

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục VII Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Nội dung hướng dẫn Điều này tại Nghị quyết 02-HĐTP-TANDTC/QĐ được sửa đổi bởi Thông tư 01-TAND/TT-1988
Thời gian thử thách của án treo được hướng dẫn bởi bởi Mục III Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Nội dung hướng dẫn Điều này tại Nghị quyết 02-HĐTP được bổ sung bởi Mục II Nghị quyết số 02-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Điều này được hướng dẫn bởi Nghị quyết số 01-HĐTP (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Mục VIII Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước. Phần chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản về hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
...
Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự.
...
VIII- MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ (Khoản 2 Điều 48 BLHS)

1- Theo Điều 48 Bộ luật hình sự thì người được miễn trách nhiệm hình sự là người đã phạm một tội quy định trong Bộ luật hình sự nhưng được miễn trách nhiệm hình sự. Miễn trách nhiệm hình sự khác với trường hợp không có trách nhiệm hình sự, tức là những trường hợp hành vi của bị cáo không có sai trái hoặc chỉ đáng xử lý về hành chính (thí dụ: xử lý về vi cảnh, xử lý về hành chính đối với việc đầu cơ mà giá trị hàng hóa phạm pháp từ 2.000 đồng tiền mới trở xuống v.v…). Theo Thông tư số 12-LĐ/TT ngày 28-5-1977 thì người được miễn trách nhiệm hình sự, nếu đã bị giam có thể không được trả lại đủ 100% tiền lương mà vẫn chỉ được hưởng 50% tiền lương và phụ cấp trong thời gian bị tạm giam. Trái lại, nếu họ được xác định là không có trách nhiệm hình sự thì được truy lĩnh 100% tiền lương và phụ cấp.

Vì miễn trách nhiệm hình với không có trách nhiệm hình sự khác nhau như vậy cho nên mỗi trường hợp cần phải được xác định thận trọng, chính xác. Nếu không có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo bị truy tố cấu thành một tội phạm cụ thể thì phải tuyên bố bị cáo không phạm tội, không được tuyên miễn trách nhiệm hình sự một các tùy tiện.

2- Theo Điều 48 Bộ luật hình sự thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong những truờng hợp sau đây:

- Do sự chuyển biến của tình hình (chính trị, kinh tế, xã hội) nên tội phạm không còn nguy hiểm đáng kể cho xã hội nữa.

- Truớc khi tội phạm bị phát giác, người phạm tội đã tự thú (*), khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm.

Người được miễn trách nhiệm hình sự thì đương nhiên không bị coi là người can án.

3- Trong giai đoạn điều tra, truy tố thì Viện kiểm sát nhân dân có quyền miễn trách nhiệm hình sự. Trong giai đoạn xét xử thì việc miễn trách nhiệm hình sự do Tòa án quyết định.

Khi miễn trách nhiệm hình sự thì trong phần nhận định của bản án phải nói rõ là bị cáo đã phạm tội gì nhưng được miễn trách nhiệm hình sự và phải nói rõ lý do. Trong phần quyết định của bản án thì chỉ cần nói là miễn trách nhiệm hình sự. Khi đã miễn trách nhiệm hình sự thì Tòa án không được quyết định bất cứ loại hình phạt nào, nhưng vẫn có thể quyết định việc bồi thường cho người bị hại và giải quyết các tang vật.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Mục VIII Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Điều này được hướng dẫn bởi Phần A Mục IX Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước. Phần chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản về hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
...
Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự.
...
IX- MỘT SỐ QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

Bộ luật hình sự dành một chương riêng quy định về chính sách và đường lối xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội vì lứa tuổi này còn bồng bột, chưa đủ khả năng để cân nhắc hành vi của mình, còn thiếu kinh nghiệm xã hội và dễ bị ảnh hưởng bởi tác động môi trường xấu bên ngòai.

A- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 58 BLHS)

Theo quy định của Bộ luật hình sự thì người chưa thành niên đủ 14 tuổi trở lên phạm tội thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Người chưa đủ 14 tuổi mà có hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không có trách nhiệm hình sự, do đó, không được truy tố, xét xử họ về hành vi đó.

Đối với người chưa thành niên đủ 14 tuổi trở lên thì luật cũng có sự phân biệt:

- Người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội nghiêm trọng do cố ý. Do đó, hành vi nguy hiểm do vô ý thì người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Người đủ 16 tuổi trở lên phạm tội thì phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm.

Cách tính tuổi do luật quy định là “đủ 14 tuổi”, hoặc “đủ 16 tuổi”, tức là tính theo tuổi tròn. Thí dụ: sinh ngày 1-1-1975 thì 1-1-1989 mới đủ 14 tuổi. Trong trường hợp không có điều kiện xác định được chính xác ngày sinh thì tính ngày sinh theo ngày cuối cùng của tháng sinh và nếu cũng không có điều kiện xác định chính xác tháng sinh thì xác định ngày sinh là 31-12-năm sinh.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Phần A Mục IX Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Điều này được hướng dẫn bởi Phần B Mục IX Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước. Phần chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản về hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
...
Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự.
...
IX- MỘT SỐ QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

Bộ luật hình sự dành một chương riêng quy định về chính sách và đường lối xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội vì lứa tuổi này còn bồng bột, chưa đủ khả năng để cân nhắc hành vi của mình, còn thiếu kinh nghiệm xã hội và dễ bị ảnh hưởng bởi tác động môi trường xấu bên ngòai.
...
B- Xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

1. Điều 59 của Bộ luật hình sự quy định: Đối với người chưa thành niên phạm tội, Viện kiểm sát và Tòa án áp dụng chủ yếu những biện pháp giáo dục, phòng ngừa. Theo Điều 60 thì những biện pháp tư pháp không có tính chất hình phạt, gồm có:

- Buộc phải chịu thử thách từ 1 năm đến 2 năm, áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, được giao cho chính quyền cơ sở và tổ chức xã hội giám sát giáo dục.

- Đưa vào trường giáo dưỡng từ 1 năm đến 3 năm, áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng, cần đưa vào tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ.

2. Chỉ xử phạt về hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội “trong những trường hợp cần thiết, căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa” (Điều 59). Thí dụ: cướp của, giết người, hoặc đã đưa vào trường giáo dưỡng mà trốn ra, tiếp tục phạm pháp nhiều lần…

Không phạt chung thân hoặc tử hình người chưa thành niên phạm tội. Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn nhưng được xử nhẹ hơn người đã thành niên. Mức xử nhẹ là bao nhiêu phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, nhân thân của người phạm tội và căn cứ vào Điều 64 Bộ luật hình sự để vận dụng mức phạt tù có thời hạn. Nếu điều kiện quy định hình phạt cao nhất là chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên khi phạm tội là 20 năm tù, và đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi khi phạm tội là 15 năm tù. Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là 20 năm tù thì mức hình phạt cao nhất đối với người chưa thành niên phạm tội là không quá 12 năm tù.

Qua thực tế xét xử, nếu không có những tình tiết tăng nặng đáng chú ý thì thông thường mức hình phạt có thể là một nửa (1/2) mức hình phạt đối với người thành niên phạm tội như nhau. Không phạt tiền và các hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.

3. Việc bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra vẫn được thực hiện theo những hướng dẫn trước đây của Tòa án nhân dân tối cao về vấn đề này.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Phần B Mục IX Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Phần A Mục II Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
II- VỀ KHOẢN 2 VÀ KHOẢN 3 ĐIỀU 18 BLHS

A- Về khoản 2 điều 38 BLHS.

Khoản 2 điều 38 BLHS quy định là “khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi trong bản án”.

Thực tiễn xét xử trong những năm qua cho thấy những tình tiết sau đây thường được nhiều Tòa án coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

1- Bị cáo hoặc vợ, chồng, cha, mẹ, con bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác.

2- Bị cáo là người có nhiều thành tích trong sản xuất, chiến đấu, công tác đã được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng lao động sáng tạo, bằng khen của Chính phủ hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều năm được công nhận là chiến sĩ thi đua.

3- Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, bố, mẹ hoặc con (con đẻ hoặc con nuôi) là liệt sỹ.

4- Bị cáo là người tàn tật nặng do bị tai nạn lao động hoặc trong công tác.

5- Bị cáo sau khi phạm tội đã lập công để chuộc tội.

6- Người bị hại cũng có lỗi.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 28 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
28. Trường hợp nào thì coi là "tàn tật nặng" để được áp dụng khoản 2 Điều 38 Bộ luật hình sự theo như hướng dẫn tại điểm 4 mục A phần II Nghị quyết số 1-89/HĐTP ngày 19-4-1989 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự". Trường hợp người bị tàn tật nặng do tai nạn giao thông hoặc do tai nạn rủi ro khác chứ không phải bị tàn tật nặng do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, thì có được áp dụng khoản 2 Điều 38 Bộ luật hình sự hay không?

Theo hướng dẫn tại mục A phần II Nghị quyết số 1-89/HĐTP ngày 19-4-1989 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự", thì trường hợp phạm tội là người tàn tật nặng do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác được áp dụng khoản 2 Điều 38 Bộ luật hình sự. Mặt khác, theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh về người tàn tật được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 30-7-1998, thì "Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người tàn tật thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội. Người tàn tật được Nhà nước và xã hội trợ giúp, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp và được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật..."; vì vậy, đối với trường hợp người phạm tội là người tàn tật nặng do tai nạn rủi ro (Ví dụ: do bị tai nạn giao thông hoặc bị tai nạn rủi ro trong sinh hoạt), thì khi xét xử Toà án cũng có thể áp dụng khoản 2 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với họ, nhưng phải ghi trong bản án.

Về vấn đề "thế nào là người tàn tật nặng", thì tại Điều 1 Pháp lệnh về người tàn tật nêu trên mới chỉ quy định về người tàn tật; cụ thể là "người tàn tật... là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn", Pháp lệnh giao việc phân loại các dạng tật, quy định mức độ tàn tật cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc người tàn tật, song cho đến nay vẫn chưa có văn bản nào quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử, thì có thể coi là " người tàn tật nặng" khi người đó bị mất hai chân hoặc hai tay; bị liệt hai chân hoặc hai tay; bị liệt nửa người, bị mù hai mắt... Trong khi chưa có văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc người tàn tật quy định về phân loại các dạng tật, mức độ tàn tật, thì khi xét xử Toà án có thể coi người phạm tội là người tàn tật nặng để áp dụng khoản 2 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với họ, nếu họ thuộc một trong những người quy định tại Điều 1 Pháp lệnh về người tàn tật và tỷ lệ % mất khả năng lao động từ 61% trở lên theo Bản quy định tiêu chuẩn thương tật (Ban hành kèm theo Thông tư liên Bộ Y tế - Lao động - Thương binh và Xã hội số 12/TT-LB ngày 26-7-1995). (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; năm 1996; trang 64 - 113).

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Phần A Mục II Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 28 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Khoản này được hướng dẫn bởi Phần B Mục II Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
II- VỀ KHOẢN 2 VÀ KHOẢN 3 ĐIỀU 18 BLHS
...
B- Về khoản 3 điều 38 BLHS.

Khoản 3 điều 38 BLHS quy định:

“Khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý dó của việc giảm nhẹ này phải được ghi trong bản án”.

1- “Khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ” là khi có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên, trong đó có ít nhất là một tình tiết đã được quy định tại khoản 1 điều 38 BLHS.
...
2- Tùy theo số lượng và tính chất của các tình tiết giảm nhẹ, đồng thời tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà quyết định giảm nhẹ trong khung hình phạt hay áp dụng một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đó, hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.
...
3- Những tình tiết đã là yếu tố định tội (Thí dụ: giết người do vượt quá thời hạn phòng vệ chính đáng quy định tại điều 102 BLHS) hoặc khung hình phạt (Thí dụ: tình tiết tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân quy định tại khoản 3 điều 101 hoặc khoản 4 điều 109 BLHS), thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ của chính tội đó nữa.

4- Trong trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ, vừa có tình tiết tăng nặng, thì Tòa án phải cân nhắc hai loại tình tiết đó để quyết định hình phạt cho hợp lý. Thông thường nếu tính chất của các tình tiết giảm nhẹ tương đương với tính chát của các tình tiết tăng nặng thì Tòa án không áp dụng khoản 3 điều 38 BLHS. Nhưng nếu các tình tiết giảm nhẹ có ý nghĩa giảm nhẹ nhiều hơn, thì Tòa án vẫn có thể áp dụng khoản 3 điều 38 BLHS.

5- Khi kết án một người về nhiều tội, nếu tội nào của họ có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thì Tòa án áp dụng khoản 3 điều 38 BLHS để quyết định hình phạt đối với riêng tội đó, rồi tổng hợp các hình phạt theo đúng quy định của điều 41 Bộ luật hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và điều 43 BLHS về tổng hợp hình phạt khác loại.

6- Các lý do của việc áp dụng khoản 3 điều 28 BLHS phải được nêu rõ ở phần nhận định của bản án và trong trường hợp này ở phần quyết định của bản án cần viện dẫn cả khoản 3 điều 38 BLHS (ngay sau khi điều khoản được áp dụng đối với tội phạm của người bị kết án).

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 7 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
7. Hướng dẫn việc vận dụng tình tiết "phạm tội nhiều lần", "phạm tội đối với nhiều người" trong các trường hợp người phạm tội tự thú, thật thà khai báo về hành vi vi phạm trước đó của họ để đảm bảo sự công bằng trước pháp luật với các trường hợp che dấu tội phạm và phù hợp với nguyên tắc xử lý theo khoản 2 Điều 3 Bộ luật hình sự?

Đối với trường hợp khi bắt được người phạm tội, họ không chỉ khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội đã bị các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện mà người phạm tội còn tự thú khai báo những hành vi phạm tội của họ trước đó, chưa bị các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện, về nguyên tắc những hành vi phạm tội mà người phạm tội tự khai ra cũng phải bị xử lý; tuy nhiên, từ trước đến nay, khi xét xử đối với các trường hợp này Toà án các cấp mới chỉ áp dụng cho bị cáo một tình tiết giảm nhẹ là " thật thà khai báo" mà không cho họ hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ "người phạm tội tự thú". Vì vậy từ nay trở đi, khi xét xử đối với những trường hợp này cần áp dụng hai tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là "thật thà khai báo" và "tự thú"; trên cơ sở đó có thể xem xét và áp dụng khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với họ.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 77/1999/KHXX năm 1999

Sau khi nghiên cứu Công văn số 255/CV-TA ngày 3-7-1999 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang về việc đề nghị hướng dẫn áp dụng khoản 3 Điều 38 Bộ luật Hình sự, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Mục B phần II Nghị quyết số 1-89/HĐTP ngày 19-4-1989 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự" đã hướng dẫn áp dụng khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự như sau:

"... Toà án chỉ quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo tương ứng với mức thấp của khung hình phạt. Nghĩa là đối với những trường hợp phạm tội mà nếu không có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì bị cáo cũng chỉ bị phạt ở mức thấp của khung hình phạt. Do đó, khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Toà án có thể cho họ được hưởng một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đó hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

Toà án chỉ quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất đối với loại hình phạt tù có thời hạn, nếu mức thấp nhất của khung hình phạt là trên 3 tháng tù. Nếu mức thấp nhất của khung hình phạt là 3 tháng tù, thì theo Điều 25 Bộ luật hình sự Toà án không thể phạt tù dưới 3 tháng cho nên phải chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn...".

Như vậy, đối chiếu với trường hợp bị cáo Bùi Văn Cường cùng đồng bọn phạm tội "Gây rối trật tự công cộng" thuộc khoản 1 Điều 198 Bộ luật Hình sự mà quý Toà đã nêu trong Công văn thì Toà án chỉ được quyết định mức hình phạt tù thấp nhất là 3 tháng tù giam, nếu bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ không nhất thiết phải phạt tù đến 3 tháng tù giam, thì Toà án có thể áp dụng hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn cho họ.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Phần B Mục II Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 7 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 77/1999/KHXX năm 1999
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
IV- VỀ ĐIỀU 95 BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Điều 95 BLHS quy định tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.

Khi vận dụng điều 95 BLHS cần chú ý rằng đối tượng của các hành vi phạm tội quy định trong điều luật này chỉ là vũ khí quân dụng và phương tiện kỹ thuật quân sự.

1- Vũ khí quân dụng là một dạng đặc biệt của phương tiện kỹ thuật quân sự để tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện vật chất kỹ thuật của đối phương.

Theo điểm a Điều 1 Nghị định 179-CP ngày 11-12-1964 của Hội đồng Chính phủ về quản lý vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao quốc phòng, thì vũ khí quân dụng bao gồm “các loại súng ngắn, súng trường, súng liên thanh các cỡ, các loại súng lớn, các loại vũ khí tự động, các lọai đạn dùng cho các loại vũ khí kể trên và các thứ bom mìn, kíp mìm thuốc nổ”.

Cũng theo tinh thần của Nghị định này thì thuốc nổ và kíp mìn dùng trong sản xuất, không phải là vũ khí quân dụng.

Như vậy các loại súng, vũ khí tự động, các loại đạn, bom, mìn kể trên được trang bị cho bất kỳ ai đều được coi là vũ khí quân dụng. Chỉ có kíp mìn, thuốc nổ được trang bị cho lực lượng vũ trang, dân quân tự vệ để dùng vào mục đích quốc phòng mới được coi là vũ khí quân dụng. Còn các loại kíp mìn, thuốc nổ dùng trong sản xuất (kể cả trang bị cho lực lượng vũ trang để làm kinh tế), thì được coi là chất nổ theo quy định của điều 96 BLHS.

2- Ngoài vũ khí quân dụng là phương tiện kỹ thuật quân sự dạng đặc biệt được tách thành nhóm độc lập, phương tiện kỹ thuật quân sự gồm các loại xe chiến đấu và không chiến đấu, các loại khí tài quân sự, các loại máy móc và phương tiện kỹ thuật khác được trang bị cho lực lượng vũ trang.

Phương tiện kỹ thuật quân sự có thể là phương tiện kỹ thuật để trực tiếp chiến đấu hoặc là phương tiện kỹ thuật để đảm bảo chiến đấu.

Để coi một loại xe, khí tài, máy móc nào có phải là phương tiện kỹ thuật quân sự hay không thì phải xác định xem loại xe, khí tài, máy móc đó có phải thuộc loại trang bị cho lực lượng vũ trang để chiến đấu hay bảo đảm chiến đấu hay không. Vì tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí… (điều 95 BLHS) là tội cố ý, cho nên người phạm tội nhận thức được điều đó thì mới bị coi là phạm tội này.

Cũng cần chú ý rằng nếu người nào tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt các loại xe, khí tài, máy móc cũng như kíp mìn, thuốc nổ, tuy trang bị cho lực luợng vũ trang, nhưng để dùng trong sản xuất, trong xây dựng dân dụng và họ cũng nhận rõ điều đó thì họ không chịu trách nhiệm hình sự theo điều 95 BLHS, mà có thể bị xử lý về các tội phạm khác.

Trong trường hợp người phạm tội tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt phương tiện kỹ thuật quân sự mà không nhận thức được rõ ràng là phương tiện đó được trong bị cho quân đội để chiến đấu hoặc bảo đảm chiến đấu (tức là thái độ chủ quan của họ biểu hiện ở chỗ phương tiện đó là của ai, để làm gì họ không cần biết đến), thì căn cứ vào thực tế là phương tiện đó được trang bị nhằm mục đích gì để định tội, cụ thể là: nếu phương tiện đó thực tế được trang bị cho lực lượng vũ trang để chiến đấu hoặc bảo đảm chiến đấu thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều 95 BLHS.

3- Lưỡi lê, dao găm quân dụng là vũ khí quân dụng thô sơ, cho nên tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt các thứ vũ khí này không bị coi là tội phạm bị trừng trị theo điều 95 BLHS.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Phần A Thông tư liên ngành 01/TTLN năm 1995

Để áp dụng đúng đắn và thống nhất các quy định của Điều 95 Bộ luật hình sự về tội "chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự" và Điều 96 Bộ luật hình sự về tội "chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ", sau khi đã trao đổi ý kiến với Bộ Quốc phòng, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau:

A - VỀ ĐIỀU 95 BỘ LUẬT HÌNH SỰ

I - VỀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TỘI PHẠM
...
II. VỀ HÀNH VI PHẠM TỘI VÀ HƯỚNG XỬ LÝ
...
III. VỀ SỐ LƯỢNG VẬT PHẠM PHÁP ĐỂ LÀM CĂN CỨ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO CÁC KHOẢN CỦA ĐIỀU LUẬT
...

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Điều này được hướng dẫn bởi Phần A Thông tư liên ngành 01/TTLN năm 1995
- Thương tích nặng hoặc tổn hại nặng được hướng dẫn bởi Mục V Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
V- VỀ THƯƠNG TÍCH NẶNG HOẶC TỔN HẠI NẶNG CHO SỨC KHỎE (ĐIỀU 109 VÀ ĐIỀU 110 BLHS)

Trong Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã sơ bộ hướng dẫn về sự phân biệt giữa thương tích nặng hoặc tổn hại nặng cho sức khỏe với các loại thương tích khác. Nay cần hướng dẫn rõ thêm về thương tích hoặc tổn hại nặng cho sức khỏe (Dưới đây gọi chung là thương tích nặng) như sau:

Thực tiễn xét xử cho thấy rằng thương tích nặng là các thương tích nguy hiểm cho tính mạng, gây mù mắt, điếc tai, làm mất một cơ quan nào đó của cơ thể hoặc làm mất chức năng của cơ quan đó, gây bệnh tâm thần, gây trụy thai, gây xấu xí diện mạo, gây thương tích với tỷ lệ trên 30%.

1- Thương tích gây nguy hiểm cho tính mạng: Đây là các loại thương tích đe dọa làm nạn nhân bị thiệt mạng ngay khi gây thương tích hoặc nếu không được cứu chữa kịp thời thì thông thường là nạn nhân phải bị thiệt mạng. Nếu do được cứu chữa kịp thởi mà nạn nhân không bị thiệt mạng, thậm chí không bị tổn hai nặng đáng kể đến sức khỏe, thì thương tích vẫn được coi là nguy hiểm cho tính mạng vào lúc mới gây thương tích.
...
2- Thương tích làm mù mắt: Mù mắt có nghĩa là khi nạn nhân hoàn toàn không trông thấy gì hoặc không phân biệt được hình dáng của một vật khác ở cự ly rất gần. Người bị mù một mắt được xác định tỷ lệ thương tật 41%, cho nên bị mù một mắt đã được coi là bị thương tích nặng.

3- Thương tích làm điếc tai: Điếc tai nghĩa là hoàn toàn không nghe thấy gì hoặc khi nạn nhân không nghe tiếng nói to ở khoảng cách rất gần (từ 3 đến 5cm). Người điếc 1 tai được xác định tỷ lệ thương tật khoảng 21-25%, cho nên bị điếc một tai thì chưa phải là bị thương thích nặng.

4- Thương tích làm mất một cơ quan của cơ thể hoặc làm mất chức năng của cơ quan đó như các trường hợp

Xem nội dung VB
Thương tích nặng hoặc tổn hại nặng được hướng dẫn bởi Mục V Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Thương tích nặng hoặc tổn hại nặng được hướng dẫn bởi Mục V Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
V- VỀ THƯƠNG TÍCH NẶNG HOẶC TỔN HẠI NẶNG CHO SỨC KHỎE (ĐIỀU 109 VÀ ĐIỀU 110 BLHS)

Trong Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã sơ bộ hướng dẫn về sự phân biệt giữa thương tích nặng hoặc tổn hại nặng cho sức khỏe với các loại thương tích khác. Nay cần hướng dẫn rõ thêm về thương tích hoặc tổn hại nặng cho sức khỏe (Dưới đây gọi chung là thương tích nặng) như sau:

Thực tiễn xét xử cho thấy rằng thương tích nặng là các thương tích nguy hiểm cho tính mạng, gây mù mắt, điếc tai, làm mất một cơ quan nào đó của cơ thể hoặc làm mất chức năng của cơ quan đó, gây bệnh tâm thần, gây trụy thai, gây xấu xí diện mạo, gây thương tích với tỷ lệ trên 30%.

1- Thương tích gây nguy hiểm cho tính mạng: Đây là các loại thương tích đe dọa làm nạn nhân bị thiệt mạng ngay khi gây thương tích hoặc nếu không được cứu chữa kịp thời thì thông thường là nạn nhân phải bị thiệt mạng. Nếu do được cứu chữa kịp thởi mà nạn nhân không bị thiệt mạng, thậm chí không bị tổn hai nặng đáng kể đến sức khỏe, thì thương tích vẫn được coi là nguy hiểm cho tính mạng vào lúc mới gây thương tích.
...
2- Thương tích làm mù mắt: Mù mắt có nghĩa là khi nạn nhân hoàn toàn không trông thấy gì hoặc không phân biệt được hình dáng của một vật khác ở cự ly rất gần. Người bị mù một mắt được xác định tỷ lệ thương tật 41%, cho nên bị mù một mắt đã được coi là bị thương tích nặng.

3- Thương tích làm điếc tai: Điếc tai nghĩa là hoàn toàn không nghe thấy gì hoặc khi nạn nhân không nghe tiếng nói to ở khoảng cách rất gần (từ 3 đến 5cm). Người điếc 1 tai được xác định tỷ lệ thương tật khoảng 21-25%, cho nên bị điếc một tai thì chưa phải là bị thương thích nặng.

4- Thương tích làm mất một cơ quan của cơ thể hoặc làm mất chức năng của cơ quan đó như các trường hợp

Xem nội dung VB
Thương tích nặng hoặc tổn hại nặng được hướng dẫn bởi Mục V Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Thương tích dẫn đến chết người được hướng dẫn bởi Mục VI Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
VI- VỀ THƯƠNG TÍCH DẪN ĐẾN CHẾT NGƯỜI

Cần hiểu nội dung điều 109 BLHS như sau:

- Kẻ gây thương tích nặng bị kết án theo khoản 2 điều 109 BLHS.

- Kẻ gây cố tật nặng bị kết án theo khoản 3 điều 109 BLHS.

- Kẻ gây thương tích dẫn đến chết người bị kết án theo khoản 3 điều 109 BLHS.

- Kẻ gây thương tích không nặng, không gây cố tật nặng, không dẫn đến chết người, thì bị kết án theo khoản 1 điều 109 BLHS.

Thương tích dẫn đến chết người trước hết là thương tích nặng làm cho nạn nhân chết vì thương tích nặng này, nghĩa là giữa thương tích và cái chết của nạn nhân có mối quan hệ nhân quả. Thí dụ: đâm vào hông nạn nhân làm nạn nhân bị đứt tỉnh mạch hông và do bị mất nhiều máu nên nạn nhân bị chết.

Cũng coi là cố ý gây thương tích dẫn đến chết người trường hợp gây thương tích không phải là thương tích nặng, nhưng vì nạn nhân là người quá già yếu, có bệnh nặng, việc gây thương tích làm cho bị chết sớm hơn, nếu không bị gây thương tích thì nạn nhân chưa chết.

Xem nội dung VB
Thương tích dẫn đến chết người được hướng dẫn bởi Mục VI Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Chuyển hóa từ chiếm đoạt tài sản thành cướp tài sản; các tình tiết "tài sản có giá trị lớn", "gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản" được hướng dẫn bởi Mục VII và XII Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
VII- VỀ VIỆC CHUYỂN HÓA TỪ MỘT SỐ HÌNH THỨC CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THÀNH CƯỚP TÀI SẢN
...
XII- VỀ CÁC TÌNH TIẾT “TÀI SẢN CÓ SỐ LƯỢNG LỚN”, “TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ LỚN”, “GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN”, “THU LỢI BẤT CHÍNH LỚN”

Xem nội dung VB
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 2, Khoản 3 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:
...
2. Bổ sung Điều 134a "Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa'' như sau:

"Điều134a. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa

1- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa có giá trị từ 05 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc dưới 05 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm nhiều lần hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Tài sản có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.''

3. Bổ sung Điều 137a "Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa'' như sau:

"Điều 137a. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa

1- Người nào vì vụ lợi mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."

Xem nội dung VB
Chuyển hóa từ chiếm đoạt tài sản thành cướp tài sản; các tình tiết "tài sản có giá trị lớn", "gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản" được hướng dẫn bởi Mục VII và XII Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Chương này được bổ sung bởi Khoản 2, Khoản 3 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa được hướng dẫn bởi Mục VIII Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
VIII- VỀ CHỦ THỂ CỦA TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (ĐIỀU 139 BLHS)

Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa là các trường hợp vì thiếu trách nhiệm nên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao mà để cho tài sản xã hội chủ nghĩa do mình trực tiếp quản lý bị mất mát, hư hỏng, lãng phí tới mức bị coi là thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa, nghĩa là việc tài sản xã hội chủ nghĩa bị mất mát, hư hỏng, lãng phí nghiêm trọng là hậu quả trực tiếp của việc thiếu trách nhiệm. Chủ thể của loại tội phạm này vì thế trước hết là những người trực tiếp giữ tài sản (như thủ kho, thủ quỹ, người bán hàng, người áp tải hàng hóa, vật tư, bảo vệ…). Chủ thể của tội phạm này cũng có thể là những người đã ký duyệt việc thu, chi, cấp phát, thanh toán tài sản… (như cán bộ kế toán, cán bộ lãnh đạo có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản). Còn người có chức vụ nếu do lơ là, buông lỏng quản lý mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao để xảy ra việc người khác làm mất mát, hư hỏng, lãng phí, chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, thì là chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (điều 220 BLHS), bởi lẽ việc thiếu trách nhiệm này không trực tiếp gây ra việc mất mát, hư hỏng, lãng phí làm thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 12 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
12. Trường hợp cố ý về hành vi, vô ý về hậu quả như đốt nương làm rẫy, đốt lửa sưởi ấm trong rừng... làm cháy rừng, gây hậu quả nghiêm trọng, thì xét xử theo tội danh nào quy định trong Bộ luật hình sự là chính xác? (Điều 181, Điều 139, Điều 140 hay Điều 194).
...
Đối với trường hợp một người được giao nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng, do thiếu trách nhiệm để cho người khác đốt nương làm rẫy, đốt lửa sưởi ấm trong rừng, dẫn đến việc cháy rừng, gây thiệt hại nghiêm trọng, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 139 Bộ luật hình sự);
...

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
5- Điều 139 về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa được sửa đổi như sau:

"Điều 139. Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa

1. Người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm."

Xem nội dung VB
Chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa được hướng dẫn bởi Mục VIII Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 12 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Hành vi chiếm hưởng phần chênh lệch về giá do bán tài sản xã hội chủ nghĩa được hướng dẫn bởi Mục IX Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
IX- VỀ HÀNH VI CHIẾM HƯỞNG PHẦN CHÊNH LỆCH VỀ GIÁ DO BÁN TÀI SẢN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trước đây có hướng dẫn rằng: “Cán bộ trực tiếp quản lý kinh doanh trong các ngành phân phối, lưu thông, đem vật tư, hàng hóa do mình quản lý ra bán trái phép ở thị trường để chiếm hưởng phần chênh lệch giá, thực chất cũng là “mua” bất hợp pháp, nên cũng coi là “mua vét”. Người được pháp nhân giao đi thực hiện hợp đồng kinh tế bán một số loại hàng hóa nào đó với một giá quy định trước, nhưng người này đã không bán theo hợp đồng (không bán theo giá mà pháp nhân đã quy định), tự động đem bán ra thị trường lấy giá cao hơn giá ghi trong hợp đồng để kiếm lời là phạm tội đầu cơ”. Một số Tòa án không nhất trí với hướng dẫn trên đây và đã quy định tội trong các trường hợp tương tự là tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa.

Vì trong các trường hợp nói trên kẻ phạm tội không bỏ tiền ra mua hàng hóa, vật tư, cho nên không có dấu hiệu “mua”, “mua vét”, và do đó, không thể định tội là đầu cơ. Nhưng kết án phạm tội về tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa cũng là không sát, vì thực chất thì kẻ phạm tội chỉ chiếm hưởng khoản chênh lệch giá do họ tự tạo ra, còn tài sản xã hội chủ nghĩa được trị giá theo giá đã quy định thì không bị hao hụt. Trong các trường hợp này cần định tội là “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” (điều 221 BLHS), bởi lẽ kẻ phạm tội đã vì vụ lợi (chiếm hưởng khoản chênh lệch giá) mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ (bán hàng hóa vật tư cao quá giá đã quy định) gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội, lợi ích hợp pháp của công dân (người tiêu dùng phải mua hàng hóa, vật tư với giá cao quá giá đã được quy định).

Cũng định tội là “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” các trường hợp người đi nhận hàng hóa, vật tư cho xí nghiệp, cơ quan…, nhưng đã tự động bán hàng hóa, vật tư đó với giá cao, sau đó bằng các thủ đoạn gian dối (thông đồng với thủ kho, nhân viên bán hàng, kế toán, thủ quỹ…) nhập tiền cho xí nghiệp, cơ quan…, do đó, không gây thiệt hại cho xí nghiệp, cơ quan…, nhưng chiếm hưởng được khoản chênh lệch giá.

Ngoài ra còn có trường hợp tự động mua hàng hóa, vật tư do mình quản lý với giá thấp hơn giá quy định và tự mua hàng hóa, vật tư theo giá thấp hơn để trục lợi. Một số Tòa án đã coi việc trục lợi bất chính này là sự vụ lợi của tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế… (điều 174 BLHS). Đối với trường hợp này cần định tội là tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa, vì rõ ràng là tài sản XHCN đã bị hao hụt do việc kẻ phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn tạo ra khoản chênh lệch giá để chiếm đoạt.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 16 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
16) Điều 221 về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 221. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ.

1. Người nào vì tư lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn vượt quá quyền hạn làm trái với công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, nếu không thuộc trường hợp quy định ở các điều 156, 238 và 239, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm".

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 13 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
13- Điều 221 về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 221. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ

1. Người nào vì tư lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vượt quá quyền hạn làm trái với công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, nếu không thuộc trường hợp quy định ở các điều 156, 238 và 239, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm."

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:
...
6. Điều 221 về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 221. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

1- Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng ."

Xem nội dung VB
Hành vi chiếm hưởng phần chênh lệch về giá do bán tài sản xã hội chủ nghĩa được hướng dẫn bởi Mục IX Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Điều này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 16 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 13 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Việc tiêu thụ nhiều lần không có hứa hẹn trước được hướng dẫn bởi Mục X Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
X- VỀ VIỆC TIÊU THỤ NHIỀU LẦN KHÔNG CÓ HỨA HẸN TRƯỚC

Trước đây có hướng dẫn như sau: “kẻ tiêu thụ tài sản bị chiếm đoạt không có hứa hẹn trước vẫn bị coi là người cộng phạm của kẻ chiếm đoạt tài sản trong các trường hợp sau đây:

1- Nhiều lần tiêu thụ tài sản biết rõ của kẻ đã nhiều lần chiếm đoạt được.

- Tiêu thụ từ 4, 5 lần trở lên của một kẻ chiếm đoạt nghĩa là tiêu thụ một cách có hệ thống. Cá biệt có trường hợp chỉ tiêu thụ vài, ba lần đã bị coi là cộng phạm chiếm đoạt (Thí dụ: trường hợp kẻ tiêu thụ vài, ba lần vốn là kẻ chuyên tiêu thụ của gian).

Thực tiễn xét xử cho thấy hướng dẫn trên đây là không hợp lý, vì khi kẻ tiêu thụ không hứa hẹn trước gì với kẻ chiếm đoạt không biết kẻ chiếm đoạt phạm tội gì và vào lúc nào, nên không thể nói là kẻ tiêu thụ cũng thực hiện một tội phạm với kẻ chiếm đoạt. Do đó, chỉ nên kết án kẻ tiêu thụ nhiều lần không có hứa hẹn trước về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo điều 201 BLHS.

Xem nội dung VB
Việc tiêu thụ nhiều lần không có hứa hẹn trước được hướng dẫn bởi Mục X Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Dấu hiệu "đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm"; tình tiết "thu lợi bất chính lớn" được hướng dẫn bởi Mục XI Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
XI- VỀ DẤU HIỆU “ĐÃ BỊ XỬ LÝ HÀNH CHÍNH MÀ CÒN VI PHẠM”
...
XII- VỀ CÁC TÌNH TIẾT “TÀI SẢN CÓ SỐ LƯỢNG LỚN”, “TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ LỚN”, “GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN”, “THU LỢI BẤT CHÍNH LỚN”

Xem nội dung VB
Dấu hiệu "đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm"; tình tiết "thu lợi bất chính lớn" được hướng dẫn bởi Mục XI Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Dấu hiệu "đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm" được hướng dẫn bởi Mục XI Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
XI- VỀ DẤU HIỆU “ĐÃ BỊ XỬ LÝ HÀNH CHÍNH MÀ CÒN VI PHẠM”

Đối với những tội được quy định trong Bộ luật hình sự như kinh doanh trái phép (điều 168), lừa dối khách hàng (điều 170), sản xuất hoặc buôn bán rượu, thuốc lá trái phép (điều 183), trốn tránh nghĩa vụ quân sự (điều 206), trốn tránh nghĩa vụ lao động công ích (điều 208), vi phạm các quy định về quản lý nhà (điều 214), trừ trường hợp chuyển nhượng trái phép nhà do Nhà nước hoặc tổ chức xã hội quản lý, thu lợi bất chính lớn, thì “đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm” là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, thiếu nó thì chưa có tội phạm.

Đối với những tội như trốn thuế (điều 169), làm vé giả, buôn bán vé giả (điều 173), cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế của Nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng (điều 174), lập quỹ trái phép (điều 175), báo cáo sai trong quản lý kinh tế (điều 176), vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai (điều 180), vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng (điều 181), sử dụng hoặc phân phối điện trái phép gây hậu quả nghiêm trọng (điều 182), lạm sát gia súc (điều 184) nếu không có tình tiết “với số lượng lớn” (đối với tội làm vé giả, buôn bán vé giả và tội trốn thuế) hoặc tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” (đối với các tội phạm còn lại), thì người có vi phạm cũng chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi đã có lần bị xử lý hành chính về hành vi tương tự.

Vì “đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm” là dấu hiệu cấu thành bắt buộc của các trường hợp phạm tội như đã nêu trên đây, cho nên người chưa bị xử lý về hành chính được coi là không có trách nhiệm hình sự ngay cả trong trường hợp hành vi mà họ đã thực hiện có các tình tiết định khung hình phạt cao hơn. Thí dụ: Người chưa bị xử lý hành chính về việc trốn tránh nghĩa vụ quân sự không có trách nhiệm hình sự ngay cả trong trường hợp việc trốn tránh nghĩa vụ quân sự của họ đã có một (hoặc nhiều) tình tiết được quy định ở khoản 2 điều 206 BLHS như: “tự gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của mình”, “phạm tội trong thời chiến”, “lôi kéo người khác phạm tội”, vì các tình tiết này chỉ là các tình tiết định khung hình phạt cao hơn, nghĩa là khi có một trong các tình tiết này thì kẻ trốn tránh nghĩa vụ quân sự đã từng bị xử lý hành chính về hành vi tương tự phải bị xử lý theo khoản 2 điều 206 BLHS.

Vì “đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm” cũng là dấu hiệu bắt buộc của tội “kinh doanh trái phép”, cho nên người chưa bị xử lý hành chính về việc kinh doanh trái phép không có trách nhiệm hình sự ngay cả trong trường hợp việc kinh doanh trái phép của họ có các tình tiết được quy định ở khoản 2 điều 168 BLHS như: “lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội”, “mạo nhận một tổ chức không có thật”, “hàng phạm pháp có số lượng lớn hoặc giá trị lớn”, “thu lợi bất chính lớn”.

Xem nội dung VB
Dấu hiệu "đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm" được hướng dẫn bởi Mục XI Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Các tình tiết "tại sản có giá trị lớn" được hướng dẫn bởi Mục XII Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
XII- VỀ CÁC TÌNH TIẾT “TÀI SẢN CÓ SỐ LƯỢNG LỚN”, “TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ LỚN”, “GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN”, “THU LỢI BẤT CHÍNH LỚN”

Tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn rằng thiệt hại tài sản dưới 100.000 đồng là “thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”, thiệt hại về tài sản từ 100.000 đồng trở lên là “hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” của tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng; số tiền bị chiếm đoạt khoảng từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng được “coi là lớn”…

Do tình hình lạm phát, giá cả không ổn định, nên các hướng dẫn nói trên nay không còn phù hợp nữa, vì vậy cần thống nhất lại như sau: khoảng 5 tấn gạo, 5 tấn xăng, dầu lửa, phân đạm, 10 kg thuốc phiện, 5 tạ mỳ chính, 2 tấn đường trắng loại 1, 2 lượng vàng, đối với tiền và các loại tài sản, hàng hóa, vật tư khác thì quy ra trị giá tương đương 5 tấn gạo - được coi là số lượng tài sản, hàng hóa, vật tư có giá trị lớn hoặc số lượng lớn, khi trị giá gấp 3 lần các mức nêu trên thì được coi là có giá trị lớn hoặc có số lượng rất lớn, nghĩa là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

Thu lợi bất chính được một số tài sản, hàng hóa vật tư có giá trị lớn thì bị coi là thu lợi bất chính lớn. Thu lợi bất chính rất lớn là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

Gây thiệt hại về tài sản với giá trị lớn thì bị coi là gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, là gây hậu quả nghiêm trọng. Gây thiệt hại về tài sản với giá trị rất lớn thì bị coi là gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Hướng dẫn trong mục này được áp dụng đối với các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa, các tội xâm phạm sở hữu của công dân, các tội có hậu quả là thiệt hại đến tài sản, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tội nhận hối lộ, tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ và các tội có dấu hiệu “thu lợi bất chính lớn”.

Về tình tiết “số lượng lớn hoặc giá trị lớn” đối với một số tội phạm như buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, đầu cơ, buôn lậu hoặc tàng trữ hàng cấm, làm hàng giả, buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép, làm vé giả, buôn bán vé giả, lưu hành sản phẩm kém phẩm chất, trốn thuế v.v… sẽ có hướng dẫn riêng của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xem nội dung VB
- Chương này được hướng dẫn bởi Khoản 9 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
9. Cơ sở nào để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm một trong số các tội xâm phạm sở hữu của công dân và số tiền từ bao nhiêu để áp dụng khoản 1, 2, 3 theo điều luật tương ứng?

Việc áp dụng khoản 1, khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật tương ứng để xét xử đối với bị cáo về một trong các tội xâm phạm sở hữu của công dân, thì phải tuỳ vào từng trường hợp cụ thể. Đối với các tội chiếm đoạt tài sản của công dân, tội chiếm giữ trái phép tài sản của công dân, thì được thực hiện theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 1/1998/NQ-HĐTP ngày 21-9-1998 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Đối với các tội phạm khác xâm phạm sở hữu của công dân thì được thực hiện theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 1-89/HĐTP ngày 19-4-1989 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, đối với vấn đề đặt ra "số tiền là bao nhiêu" phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì cần phải xem xét một cách toàn diện cả về hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và hậu quả do tội phạm gây ra. Ví dụ: Một người có hành vi trộm cắp tài sản của công dân, có giá trị 100 ngàn đồng, nhưng người thực hiện hành vi trộm cắp là tái phạm nguy hiểm hoặc là lưu manh chuyên nghiệp, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là cần thiết. Thế nhưng nếu người thực hiện hành vi trộm cắp có nhân thân tốt, phạm tội do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn thì có thể không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ mà chỉ cần xử lý bằng biện pháp hành chính.

Xem nội dung VB
Các tình tiết "tại sản có giá trị lớn" được hướng dẫn bởi Mục XII Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
Chương này được hướng dẫn bởi Khoản 9 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 98/KHXX năm 1997

Sau khi nghiên cứu Công văn ngày 28-05-1997 (không đề số) của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị đề nghị hướng dẫn áp dụng pháp luật về việc xử lý các khoản tiền, tài sản do bị cáo chiếm đoạt, nhưng chưa tìm được chủ sở hữu của các tài sản đó trong khi xét xử, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 33 Bộ luật hình sự về tịch thu vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm thì "đối với những vật, tiền bạc thuộc sở hữu xã hội chủ nghiã hoặc thuộc tài sản của người khác bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép thì không tịch thu mà trả lại cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp". Mặt khác, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng thì: "vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu xã hội chủ nghiã hoặc thuộc sở hữu của người khác bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung công quỹ Nhà nước".

Như vậy, các khoản tiền, tài sản do bị cáo chiếm đoạt, nhưng chưa tìm được chủ sở hữu mà quý Toà nêu trong công văn trên thì Hội đồng xét xử phải căn cứ vào hồ sơ vụ án và việc xét xử tại phiên toà để xem đã xác định được ai là chủ sở hữu các khoản tiền, tài sản đó hay chưa. Trong trường hợp đã xác định được chủ sở hữu của những tài sản đó, thì Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho chủ sở hữu. Trong trường hợp không xác định được ai là chủ sở hữu của những tài sản đó, thì Hội đồng xét xử quyết định sung công quỹ Nhà nước. Việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu hay quyết định sung công quỹ Nhà nước đều phải được nhận định và quyết định trong bản án, quyết định. Thời điểm xác lập quyền Sở hữu đối với các khoản tiền, tài sản này là ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Công văn 98/KHXX năm 1997
- Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 05/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian qua, một số Toà án nhân dân tối cao đề nghị hướng dẫn việc xác định giá trị tài sản để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 136 và Điều 159 Bộ luật Hình sự; sau khi trao đổi với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

Khi xét xử các vụ án về tội chiếm giữ trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tội chiếm giữ trái phép tài sản của công dân, thì việc xác định giá trị tài sản để áp dụng tình tiết định khung tăng nặng "tài sản có giá trị lớn" theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự hoặc xác định "tài sản có giá trị lớn" để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 159 Bộ luật hình sự được thực hiện theo hướng dẫn tại mục 8 Nghị quyết số 1/1998-NQ-HĐTP ngày 1-9-1998 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự"; cụ thể là:

a. Đối với tội chiếm giữ trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 136 Bộ luật Hình sự).

- Nếu giá trị tài sản bị chiếm giữ dưới 70 triệu đồng, thì áp dụng khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự.

- Nếu giá trị tài sản bị chiếm giữ từ 70 triệu đồng trở lên được coi là "tài sản có giá trị lớn" và trong trường hợp này phải áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự.

b. Đối với tội chiếm giữ trái phép tài sản của công dân (Điều 159 Bộ luật hình sự).

- Nếu giá trị tài sản bị chiếm giữ dưới 70 triệu đồng, thì chưa đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Nếu giá trị tài sản bị chiếm giữ từ 70 triệu đồng trở lên được coi là "tài sản có giá trị lớn" và phải xét xử theo Điều 159 Bộ luật Hình sự.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 05/1999/KHXX năm 1999
- Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 05/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian qua, một số Toà án nhân dân tối cao đề nghị hướng dẫn việc xác định giá trị tài sản để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 136 và Điều 159 Bộ luật Hình sự; sau khi trao đổi với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

Khi xét xử các vụ án về tội chiếm giữ trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tội chiếm giữ trái phép tài sản của công dân, thì việc xác định giá trị tài sản để áp dụng tình tiết định khung tăng nặng "tài sản có giá trị lớn" theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự hoặc xác định "tài sản có giá trị lớn" để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 159 Bộ luật hình sự được thực hiện theo hướng dẫn tại mục 8 Nghị quyết số 1/1998-NQ-HĐTP ngày 1-9-1998 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự"; cụ thể là:

a. Đối với tội chiếm giữ trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 136 Bộ luật Hình sự).

- Nếu giá trị tài sản bị chiếm giữ dưới 70 triệu đồng, thì áp dụng khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự.

- Nếu giá trị tài sản bị chiếm giữ từ 70 triệu đồng trở lên được coi là "tài sản có giá trị lớn" và trong trường hợp này phải áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự.

b. Đối với tội chiếm giữ trái phép tài sản của công dân (Điều 159 Bộ luật hình sự).

- Nếu giá trị tài sản bị chiếm giữ dưới 70 triệu đồng, thì chưa đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Nếu giá trị tài sản bị chiếm giữ từ 70 triệu đồng trở lên được coi là "tài sản có giá trị lớn" và phải xét xử theo Điều 159 Bộ luật Hình sự.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 05/1999/KHXX năm 1999
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ

1. Ở miền núi, do tập quán lạc hậu, ít hiểu biết pháp luật các con nghiện đến nhà nhau hút thuốc phiện là chuyện bình thường; vì vậy, khi xử lý về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý hoặc về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý có coi đó là tình tiết giảm nhẹ hay không?

Có coi việc "ở miền núi trình độ lạc hậu, ít hiểu biết Pháp luật" là tình tiết giảm nhẹ khi truy tố, xét xử đối với những trường hợp phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý hay không phải tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể.

Đối với trường hợp người phạm tội đã được phổ biến, giáo dục về sự nguy hại của ma tuý, chủ trương chính sách của Nhà nước về phòng, chống ma tuý... mà lại có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý hoặc chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý, thì không thể viện dẫn lý do "ở miền núi trình độ lạc hậu, ít hiểu biết pháp luật" coi đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm g khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự để áp dụng đối với người phạm tội.

Đối với trường hợp kẻ phạm tội là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, chưa được phổ biến giáo dục về những chủ trương, chính sách của Nhà nước về việc phòng, chống ma tuý, và do bị ảnh hưởng bởi phong tục tập quán lạc hậu ở địa phương nên đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý hoặc chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý, thì khi xét xử đối với những trường hợp này có thể cho họ hưởng tình tiết quy định tại điểm g khoản 1 Điều 38 Bộ Luật hình sự.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
4. Khái niệm "tổ chức" trong Điều 185i Bộ luật Hình sự có đồng nghĩa với khái niệm "tổ chức" quy định tại khoản 3 Điều 17 Bộ luật Hình sự? Đề nghị hướng dẫn cụ thể tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 185i) và tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 185m)?

Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và phạm tội có tổ chức là hoàn toàn khác nhau. Tổ chức sử dụng chất ma tuý có thể chỉ có một người thực hiện một trong các hành vi được hướng dẫn tại điểm 2 Thông tư liên tịch số 02/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA ngày 5-8-1998 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an "Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương VIIA "Các tội phạm về ma tuý" của Bộ luật Hình sự". Còn phạm tội có tổ chức là phải có hai hoặc nhiều người cùng cố ý thực hiện một tội phạm và có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Về tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" (Điều 185i) và tội "cưỡng bức lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý" (Điều 185m) đã được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch nói trên. Tuy nhiên, để xét xử đúng tội danh, cần phải nghiên cứu kỹ hướng dẫn trong Thông tư liên tịch nói trên đối chiếu với trường hợp cụ thể đó để có quyết định chính xác. Nếu trong thực tiễn xét xử mà xét thấy còn có những vướng mắc gì, thì đề nghị phản ảnh các vướng mắc cụ thể đó để Toà án nhân dân tối cao phối hợp cùng các ngành hữu quan hướng dẫn bổ sung.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Mục I Nghị quyết số 02-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đã hướng dẫn áp dụng một số quy định của phần chung Bộ luật hình sự. Nói chung, nội dung của Nghị quyết này là đúng, nhưng qua thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân tối cao nhận thấy cần phải hướng dẫn thêm về các vấn đề: Phạm tội có tổ chức và tổng hợp hình phạt. Sự hướng dẫn về thi hành án treo cũng còn có chỗ chưa chính xác, nên cần phải hướng dẫn lại.
...
Vì vậy, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp ngày 16 tháng 11 năm 1988, với sự tham gia của đại diện Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02-HĐTP ngày 5-1-1986 về các vấn đề sau đây:

I- PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC (khoản 3 điều 17 BLHS)
...
1- Trong phạm tội có tổ chức và những trường hợp đồng phạm khác đều phải có từ 2 người trở lên cố ý cùng tham gia phạm tội và có sự nhất trí của những người cùng thực hiện tội phạm. Nếu cùng thực hiện tội phạm mà không có sự nhất trí thì không phải là đồng phạm (thí dụ: nhiều người cùng vào hôi của ở một nhà bị cháy, nhưng không có bàn bạc trước hoặc xúi giục nhau phạm tội).

2- Nói chung, trong các trường hợp đồng phạm những người phạm tội thường có bàn bạc trước và sự phân công thực hiện tội phạm, nhưng không phải bắt cứ trường hợp nào có bàn bạc trước và có phân công thực hiện tội phạm đều là phạm tội có tổ chức, vì phạm tội có tổ chức phải có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Vì vậy, nếu việc thực hiện tội phạm giản đơn, không đòi hỏi phải có sự tính toán và chuẩn bị kỹ càng, chu đáo thì không phải là phạm tội có tổ chức. Thí dụ: Hai thanh niên muốn có tiều tiêu, nên rủ nhau đi ăn cắp xe đạp, khi gặp người để xe sơ hở đã phân công một người canh gác và một người lấy xe…

3- Phạm tội có tổ chức phải có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Trong thực tế, sự câu kết này có thể thể hiện dưới các dạng sau đây:
...
4- Đối với những trường hợp pháp luật quy định phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo cao hơn (xem các điều 94, 95, 96, 97, 99, 101, 112, 115, 129, 132, 134, 148, 149, 151, 152, 154, 155, 157, 166, 172, 201, 212, 226, 227, 245 Bộ luật hình sự) thì hành vi của người phạm tội phải được xét xử theo khung đó và không viện dẫn thêm điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật hình sự, tức là phải căn cứ vào vai trò trách nhiệm và nhân thân của mỗi người phạm tội. Nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định của khoản 3 điều 38 Bộ luật hình sự thì đối với người phạm tội có tổ chức, Tòa án vẫn có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, nhưng phải nêu rõ lý do trong bản án.

5- Nếu xác định là phạm tội có tổ chức, nhưng không phải là trường hợp Bộ luật hình sự quy định là tình tiết nặng định khung hình phạt cao hơn thì Tòa án áp dụng điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật hình sự và quyết định mức hình phạt nghiêm khắc hơn những trường hợp bình thường, nhưng không được vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt được áp dụng. Thí dụ: đối với tội cưỡng đoạt tài sản của công dân (điều 153 Bộ luật hình sự) nếu là phạm tội có tổ chức, nhưng không có tình tiết quy định ở khoản 2 (như chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn, gây hậu quả nghiêm trọng khác, tái phạm nguy hiểm) thì vẫn áp dụng khoản 1 điều 153, quyết định mức án nghiêm khắc hơn những trường hợp phạm tội không có tổ chức, nhưng hình phạt cao nhất không được vượt quá 3 năm tù.

6- Ngoài các trường hợp phạm tội có tổ chức như đã nêu trên đây, Bộ luật hình sự còn quy định những trường hợp tổ chức thực hiện tội phạm thành những tội danh riêng biệt. Đó là những trường hợp được quy định ở điều 88 (tổ chức người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép), điều 145 (tội tổ chức tảo hôn), điều 200 (tội tổ chức đánh bạc), điều 203 (tội tổ chức dùng chất ma túy). Trong những trường hợp này người phạm tội là người đứng ra tổ chức người khác thực hiện tội phạm, đồng thời cũng có thể là người cùng thực hiện tội phạm đó. Thí dụ: người đứng ra rủ rê, tổ chức người khác trốn đi nước ngoài để lấy tiền, vàng…và bản thân người đó cùng với họ trốn đi nước ngoài. Bộ luật hình sự đã quy định những trường hợp này thành những tội riêng biệt với hình phạt riêng, nên không vận dụng thêm tình tiết tăng nặng là phạm tội có tổ chức theo điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật hình sự nữa.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
Khoản này được hướng dẫn bởi Mục I Nghị quyết số 02-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Khoản 6 Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
6. Đối với một vụ án buôn lậu, buôn bán hàng cấm, bị cáo bị bắt quả tang cùng tang vật là thuốc lá điếu của nước ngoài với số lượng nhất định. Trong quá trình điều tra bị cáo khai trước đó đã có một hoặc nhiều lần buôn bán, vận chuyển trót lọt số lượng thuốc lá điếu mà mỗi lần buôn bán, vận chuyển với số lượng ít, chỉ cần xử lý hành chính hoặc với số lượng chỉ bị truy tố theo khoản 1 điều luật tương ứng; nếu cộng một hoặc tất cả những lần đó lại với lần bị bắt quả tang, thì số lượng thuốc lá điếu rất lớn (có thể trên 4500 bao). Vậy những lần buôn bán, vận chuyền thuốc lá điếu trót lọt đó có phải là tình tiết "phạm tội nhiều lần" không? Có cộng dồn số lượng hàng phạm pháp nhiều lần đó lại để tính số lượng vật phạm pháp hay chỉ xem những lần buôn bán trót lọt đó là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo?

Trước hết cần phải xem xét quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Nếu Viện kiểm sát chỉ truy tố lần phạm tội bị bắt quả tang mà không truy tố những hành vi phạm tội trước đó, thì Toà án chỉ xét xử lần phạm tội bị bắt quả tang. Trong trường hợp xét thấy bỏ lọt tội phạm thì trả hồ sơ cho Viện kiểm sát điều tra bổ sung. Nếu Viện kiểm sát đã truy tố tất cả các hành vi phạm tội thì cần phân biệt như sau:

1. Đối với Điều 97 Bộ luật hình sự:

a) Nếu ngoài lần phạm tội bị bắt quả tang mà trong quá trình điều tra bị cáo khai trước đó có một hoặc nhiều lần buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và mỗi lần buôn lậu, vận chuyển với số lượng ít chưa đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự (theo hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 11/TTLN ngày 20-11-1990 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp "Hướng dẫn xử lý một số loại tội phạm") nhưng cũng chưa bị xử lý hành chính và vẫn còn thời hiệu xử lý hành chính theo quy định tại Điều 9 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, thì không áp dụng tình tiết định khung hình phạt "phạm tội nhiều lần" quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 97 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, họ phải chịu trách nhiệm hình sự theo số lượng vật phạm pháp của các lần cộng lại.

b) Nếu ngoài lần phạm tội bị bắt quả tang mà trong quá trình điều tra bị cáo khai trước đó có một hoặc nhiều lần buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và có ít nhất là một lần có số lượng đã đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự (theo hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 11/TTLN ngày 20-11-1990 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp "Hướng dẫn xử lý một số loại tội phạm") nhưng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì phải áp dụng tình tiết định khung hình phạt "Phạm tội nhiều lần" quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 97 Bộ luật hình sự. Trong trường hợp này họ cũng phải chịu trách nhiệm hình sự theo số lượng vật

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:

1- Điều 97 về tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 97. Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới

1. Người nào buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc giá trị lớn; thu lợi bất chính lớn;

c) Lợi dụng chiến tranh;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội;

đ) Phạm tội nhiều lần hoặc tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình."

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Khoản 6 Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 2 Khoản 6 Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
6. Đối với một vụ án buôn lậu, buôn bán hàng cấm, bị cáo bị bắt quả tang cùng tang vật là thuốc lá điếu của nước ngoài với số lượng nhất định. Trong quá trình điều tra bị cáo khai trước đó đã có một hoặc nhiều lần buôn bán, vận chuyển trót lọt số lượng thuốc lá điếu mà mỗi lần buôn bán, vận chuyển với số lượng ít, chỉ cần xử lý hành chính hoặc với số lượng chỉ bị truy tố theo khoản 1 điều luật tương ứng; nếu cộng một hoặc tất cả những lần đó lại với lần bị bắt quả tang, thì số lượng thuốc lá điếu rất lớn (có thể trên 4500 bao). Vậy những lần buôn bán, vận chuyền thuốc lá điếu trót lọt đó có phải là tình tiết "phạm tội nhiều lần" không? Có cộng dồn số lượng hàng phạm pháp nhiều lần đó lại để tính số lượng vật phạm pháp hay chỉ xem những lần buôn bán trót lọt đó là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo?
Trước hết cần phải xem xét quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Nếu Viện kiểm sát chỉ truy tố lần phạm tội bị bắt quả tang mà không truy tố những hành vi phạm tội trước đó, thì Toà án chỉ xét xử lần phạm tội bị bắt quả tang. Trong trường hợp xét thấy bỏ lọt tội phạm thì trả hồ sơ cho Viện kiểm sát điều tra bổ sung. Nếu Viện kiểm sát đã truy tố tất cả các hành vi phạm tội thì cần phân biệt như sau:
...
2. Đối với Điều 166 Bộ luật hình sự:

Cũng cách xác định tương tự như đối với Điều 97 trên đây, nếu thuộc trường hợp tương tự như ở điểm a mục 1 trên đây, thì không áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội nhiều lần" quy định tại điểm i khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên họ phải chịu trách nhiệm hình sự theo số lượng hàng phạm pháp của tất cả các lần cộng lại. Nếu thuộc trường hợp tương tự như ở điểm b mục 1 trên đây, thì phải áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội nhiều lần" quy định tại điểm i khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự. Trong trường hợp này họ cũng phải chịu trách nhiệm hình sự theo số lượng hàng phạm pháp của tất cả các lần cộng lại.

Cần chú ý là trong các trường hợp trên đây, người phạm tội không những thật thà khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội bị bắt quả tang mà còn tự thú khai báo những lần phạm tội khác; do đó, khi quyết định hình phạt phải coi tất cả những tình tiết đó là tình tiết giảm nhẹ.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 2 Khoản 6 Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 8 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
8. Trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại cùng một điểm thuộc khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, thì có được coi là có nhiều tình tiết giảm nhẹ hay không? Trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại cùng một điểm thuộc khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự, thì có được coi là có nhiều tình tiết tăng nặng hay không?

Nghiên cứu các quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, cũng như thực tiễn xét xử của Toà án, thì chúng ta cũng phải coi trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại cùng một điểm thuộc khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự (như phạm tội mà chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu...) là có nhiều tình tiết giảm nhẹ để xem xét khi quyết định hình phạt và có thể áp dụng khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự. Cũng tương tự như vậy, chúng ta cũng phải coi trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại cùng một điểm thuộc khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự (như phạm tội có tổ chức; xúi giục người chưa thành niên phạm tội) là có nhiều tình tiết tăng nặng để xem xét khi quyết định hình phạt.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 8 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 8 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
8. Trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại cùng một điểm thuộc khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, thì có được coi là có nhiều tình tiết giảm nhẹ hay không? Trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại cùng một điểm thuộc khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự, thì có được coi là có nhiều tình tiết tăng nặng hay không?

Nghiên cứu các quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, cũng như thực tiễn xét xử của Toà án, thì chúng ta cũng phải coi trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại cùng một điểm thuộc khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự (như phạm tội mà chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu...) là có nhiều tình tiết giảm nhẹ để xem xét khi quyết định hình phạt và có thể áp dụng khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự. Cũng tương tự như vậy, chúng ta cũng phải coi trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại cùng một điểm thuộc khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự (như phạm tội có tổ chức; xúi giục người chưa thành niên phạm tội) là có nhiều tình tiết tăng nặng để xem xét khi quyết định hình phạt.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 8 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 10 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
10. Một số tội phạm không có yếu tố chiếm đoạt tài sản, nhưng điều luật quy định thiệt hại tài sản là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt (Điều 139, Điều 140, Điều 175... Bộ luật hình sự); đề nghị có hướng dẫn cụ thể?

Khi xét xử người phạm một trong các tội không có yếu tố chiếm đoạt tài sản, nhưng điều luật quy định thiệt hại tài sản là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt (Ví dụ: Điều 139, Điều 140, Điều 175... Bộ luật hình sự), thì cần phân biệt như sau:

a. Đối với các tội phạm quy định trong các điều tương ứng của Bộ luật hình sự đã được sửa đổi, bổ sung lần thứ tư theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10-5-1997 (Ví dụ: Điều 175, Điều 221, Điều 221a...) thì khi chỉ có thiệt hại về tài sản việc xác định "gây hậu quả nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng", được thực hiện theo hướng dẫn tại điểm e khoản 1 mục I Phần B Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 2-1-1998 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự"; cụ thể là:

- Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng là gây hậu quả nghiêm trọng;

- Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng là gây hậu quả rất nghiêm trọng;

- Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ đồng trở lên là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng".

(Xem Cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế và tố tụng; năm 1998; trang 42).

b. Đối với các tội phạm quy định trong các điều tương ứng của Bộ luật hình sự chưa được sửa đổi, bổ sung lần thứ tư (ví dụ: Điều 139, Điều 140... Bộ luật hình sự) thì theo Nghị quyết số 1/1998-NQ-HĐTP ngày 1-9-1998 (có hiệu lực kể từ ngày 21-9-1998) của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự" vẫn được thực hiện đúng những hướng dẫn trước đây của Toà án nhân dân tối cao hoặc các hướng dẫn liên tịch của Toà án nhân dân tối cao với các cơ quan liên quan khác. Theo các văn bản hướng dẫn trước đây thì đối với "Tội phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải" (Điều 186) và "Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông vận tải không bảo đảm an toàn hoặc điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng" (Điều 188) nếu chỉ có thiệt hại về tài sản việc xác định "gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản", "gây hậu quả nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" đã được hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 7-1-1995 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ "Hướng dẫn áp dụng Điều 186, Điều 188 Bộ luật hình sự". Theo hướng dẫn tại Thông tư này thì:

- Gây thệt hại về tài sản với giá trị tương đương từ trên 15 tấn gạo đến 45 tấn gạo là thuộc trường hợp gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản hay gây hậu quả nghiêm trọng.

- Nếu gây thiệt hại về tài sản với giá trị tương đương trên 45 tấn gạo là thuộc trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

(Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế và tố tụng; năm 1995; trang 95-96).

Đối với các tội phạm khác, ngoài các tội phạm trên đây, theo các văn bản hướng dẫn trước đây thì coi là "gây hậu quả nghiêm trọng" nếu gây thiệt hại về tài sản với giá trị tương đương từ năm tấn gạo đến mười lăm tấn gạo và coi là "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" nếu gây thiệt hại về tài sản với giá trị tương đương trên mười lăm tấn gạo. Để bảo đảm việc xét xử được thống nhất, từ nay ngoài các tội quy định trong các điều luật tương ứng của Bộ luật hình sự đã sửa đổi, bổ sung lần thứ tư, thì đối với các tội phạm khác nếu có gây thiệt hại về tài sản, việc xác định "gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản", "gây hậu quả nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" được thực hiện theo Hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 7-1-1995 nói trên; cụ thể là:

- Gây thiệt hại về tài sản với giá trị tương đương từ trên 15 tấn gạo đến 45 tấn gạo là thuộc trường hợp gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản hay gây hậu quả nghiêm trọng.

- Nếu gây thiệt hại về tài sản với giá trị tương đương trên 45 tấn gạo là thuộc trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 10 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 12 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
12. Trường hợp cố ý về hành vi, vô ý về hậu quả như đốt nương làm rẫy, đốt lửa sưởi ấm trong rừng... làm cháy rừng, gây hậu quả nghiêm trọng, thì xét xử theo tội danh nào quy định trong Bộ luật hình sự là chính xác? (Điều 181, Điều 139, Điều 140 hay Điều 194).

Việc xác định người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều luật nào của Bộ luật hình sự phải tuỳ thuộc vào chủ thể thực hiện tội phạm và ý thức chủ quan của họ. Đối với trường hợp một người không được giao nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng nhưng đã biết hoặc buộc phải biết việc đốt nương làm rẫy, đốt lửa sưởi ấm trong rừng... là vi phạm các quy định của Nhà nước về việc quản lý và bảo vệ rừng mà họ vẫn thực hiện, dẫn đến việc làm cháy rừng, gây hậu quả nghiêm trọng, thì họ phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng (Điều 181 Bộ luật hình sự).
...

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 53/1999/KHXX năm 1999

Sau khi nghiên cứu Công văn số 40/CV-TA ngày 30-3-1999 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước đề nghị hướng dẫn áp dụng Điều 181 Bộ luật Hình sự, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

1. Tại Điều 3 Nghị định số 77/CP ngày 29-11-1996 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, đã quy định rõ đối với các hành vi vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng mà mức độ gây thiệt hại vượt qua mức độ tối đa thuộc phại vi xử phạt vi phạm hành chính đối với mỗi hành vi được quy định tại Nghị định này thì phải chuyển sang truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần áp dụng các quy định của Nghị định số 77/CP để xác định tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng" được quy định tại Điều 181 Bộ luật hình sự. Cụ thể là đối với hành vi phá rừng trái phép, hành vi khai thác rừng trái phép và hành vi phát đốt rừng trái phép để làm nương dẫy (quy định tại Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Nghị định 77/CP), nếu gây thiệt hại với một trong các mức sau đây phải truy cứu trách nhiệm hình sự:

- Phá rừng, phát đốt rừng sản xuất từ trên 1 ha;

- Phá rừng, phát đốt rừng phòng hộ từ trên 0,5 ha;

- Phá rừng, phát đốt rừng đặc dụng từ trên 0,3 ha.

- Khai thác trái phép gỗ tròn thông thường: ở rừng sản xuất từ trên 25m3; ở rừng phòng hộ từ trên 20m3; ở rừng đặc dụng từ trên 15m3;

- Đối với gỗ tròn quý hiếm thì cần lưu ý như sau: Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 18-HĐBT ngày 17-1-1992 quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ, thì: Nhà nước nghiêm cấm việc khai thác, sử dụng thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm thuộc nhóm I. Hạn chế việc khai thác, sử dụng thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm thuộc nhóm II. Vì vậy, tại dự thảo Thông tư liên tịch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an hướng dẫn xử lý các hành vi phạm tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng (về cơ bản dự thảo Thông tư này đã được chuyên viên các ngành liên quan nhất trí, tuy nhiên chưa trình lên lãnh đạo xem xét ký, ban hành là do cần chờ kết quả của Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá X thông qua Bộ luật Hình sự sửa đổi) thì:

- Khai thác trái phép gỗ tròn quý hiếm từ trên 1m3 thuộc nhóm I, hoặc từ trên 10 m3 thuộc nhóm II thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 181 Bộ luật Hình sự.

2. Cũng theo dự thảo Thông tư liên tịch nói trên thì các hành vi phá rừng trái phép, phát đốt rừng trái phép làm nương rẫy, khai thác gỗ tròn quý hiếm, nếu gây thiệt hại với một trong các mức sau đây thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 181 Bộ luật Hình sự:

- Phá rừng, phát đốt rừng sản xuất từ trên 1,5ha

- Phá rừng, phát đốt rừng phòng hộ từ trên 0,7ha

- Phá rừng, phát đốt rừng đặc dụng từ trên 0,5ha

- Khai thác gỗ tròn thông thường: từ trên 35 m3 ở rừng sản xuất, từ trên 28 m3 ở rừng phòng hộ, từ trên 20 m3 ở rừng đặc dụng.

- Khai thác gỗ tròn quý hiếm từ trên 3 m3 thuộc nhóm I, từ trên 15 m3 thuộc nhóm II.

Vì dự thảo Thông tư liên tịch chưa được chính thức thông qua, vì vậy hướng dẫn về việc xác định các mức thiệt hại làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 181 Bộ luật Hình sự đối với hành vi khai thác gỗ tròn quý, hiếm thuộc nhóm I và làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm theo khoản 2 Điều 181 Bộ luật Hình sự, chưa phải là hướng dẫn chính thức. Do đó, ý kiến trên đây của Toà án nhân dân tối cao chỉ để quý Toà tham khảo trong việc áp dụng Điều 181 Bộ luật Hình sự.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 12 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 53/1999/KHXX năm 1999
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 12 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
12. Trường hợp cố ý về hành vi, vô ý về hậu quả như đốt nương làm rẫy, đốt lửa sưởi ấm trong rừng... làm cháy rừng, gây hậu quả nghiêm trọng, thì xét xử theo tội danh nào quy định trong Bộ luật hình sự là chính xác? (Điều 181, Điều 139, Điều 140 hay Điều 194).
...
Đối với trường hợp một người không được giao nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng, do vô ý đã làm cháy rừng gây thiệt hại nghiêm trọng, thì họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 140 Bộ luật hình sự).
...

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 12 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 12 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
12. Trường hợp cố ý về hành vi, vô ý về hậu quả như đốt nương làm rẫy, đốt lửa sưởi ấm trong rừng... làm cháy rừng, gây hậu quả nghiêm trọng, thì xét xử theo tội danh nào quy định trong Bộ luật hình sự là chính xác? (Điều 181, Điều 139, Điều 140 hay Điều 194).
...
Đối với trường hợp một người được giao nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng, do thiếu trách nhiệm để cho người khác đốt nương làm rẫy, đốt lửa sưởi ấm trong rừng, dẫn đến việc cháy rừng, gây thiệt hại nghiêm trọng, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 139 Bộ luật hình sự); nếu gây hậu quả nghêm trọng khác, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 220 Bộ luật hình sự).
...

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 15 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
15) Điều 220 về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 220. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

1. Người nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định ở các điều 139, 193 và 237, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm".

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
12- Điều 220 về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng được sửa đổi như sau:

"Điều 220. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

"1. Người nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định ở các điều 139, 193 và 237, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm."

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 9 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 9: CÁC PHẠM TỘI VỀ CHỨC VỤ

1) Tội thiết trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 220) có những dấu hiệu:

- Chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn, vì thiếu trách nhiệm, tức là do vô ý - mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao; gây hậu quả nghiêm trọng không thuộc trường hợp quy định ở Điều 193 (thội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa), Điều 193 (Tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí gây hậu quả nghiêm trọng) và Điều 237 (tội thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn).

Một số tội phạm cũng có dấu hiệu nói trên nhưng được quy định ở các điều luật khác như:

- Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp, hoặc vi phạm quy tắc hành chính (Điều 104 khoản 2);

- Tội vố ý gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc vi phạm quy tắc hành chính (Điều 110 khoản 2);

- Và các tội phạm quy định ở điều 186, 190, 191, 221, 251, 263, 265, 267, 208 và 270.

Vậy tội phảm quy định ở Điều 220 là một tội phạm chung do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện một cách vô ý, không thuộc trường hợp quy định ở các điều luật khác và gây hậu quả nghiêm trọng, thường là không thuộc về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản. Thí dụ: do lơ là, cẩu thả trong công việc, một người huy động nhân công gây lãng phí lớn về sức lao động; do nghiên cứu hồ sơ, chứng cứ không cẩn thẩn, một số kiểm sát viên truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, một thẩm phán ra quyết định trái pháp luật (nếu hành vi của kiểm sát viên, thẩm phán là do cố ý thì bị xử lý theo Điều 231 hoặc Điều 232).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 12 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
Điều này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 15 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 9 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 12 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
12. Trường hợp cố ý về hành vi, vô ý về hậu quả như đốt nương làm rẫy, đốt lửa sưởi ấm trong rừng... làm cháy rừng, gây hậu quả nghiêm trọng, thì xét xử theo tội danh nào quy định trong Bộ luật hình sự là chính xác? (Điều 181, Điều 139, Điều 140 hay Điều 194).
...
Đối với trường hợp một người có trách nhiệm trong việc bảo quản, đặt để kho xăng trong rừng, nhưng vi phạm các quy định phòng cháy chữa cháy để cháy kho xăng và cháy rừng, gây hậu quả nghiêm trọng, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm các quy định về phòng cháy chữa cháy (Điều 194 Bộ luật hình sự).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 12 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 13 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
13. Đối với bị cáo là tái phạm nguy hiểm, cùng một lúc phạm hai tội, thì có áp dụng tình tiết "tái phạm nguy hiểm" đối với cả hai tội không?

Đối với bị cáo là tái phạm nguy hiểm, cùng một lúc phạm hai tội, thì phải áp dụng tình tiết "tái phạm nguy hiểm" đối với cả hai tội (nếu điều luật quy định "tái phạm nguy hiểm" là tình tiết định khung hình phạt, thì áp dụng là tình tiết định khung hình phạt, nếu điều luật không quy định "tái phạm nguy hiểm" là tình tiết định khung hình phạt, thì áp dụng là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự).

Xem nội dung VB
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 27 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
27. Trường hợp một người trong thời gian chấp hành hình phạt tù, lại thực hiện tội phạm mới, thì khi xét xử tội phạm mới ngoài việc áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt", Toà án có áp dụng tình tiết tăng nặng "tái phạm" hoặc "tái phạm nguy hiểm" nữa hay không?

Trường hợp một người trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù lại thực hiện tội phạm mới, nếu khi xét xử tội phạm mới, theo quy định tại Điều 40 Bộ luật hình sự họ là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm và tình tiết "tái phạm" hoặc "tái phạm nguy hiểm" không phải là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt đối với tội phạm mới, thì ngoài việc áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt" quy định tại điểm d khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự, Toà án còn phải áp dụng tình tiết tăng nặng "tái phạm" hoặc "tái phạm nguy hiểm" quy định tại điểm i khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự đối với họ.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 13 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 27 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 14 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
14. Bị cáo phạm tội gây rối trật tự công cộng, nếu có hành vi phá phách có bị xét xử thêm về tội huỷ hoại tài sản... hay không? Nếu xử hai tội thì áp dụng khoản 1 hay khoản 2 Điều 198 Bộ luật hình sự?

Trường hợp nếu hành vi phá phách của bị cáo đã cấu thành tội huỷ hoại tài sản và bị truy tố, thì Toà án xét xử bị cáo về hai tội. Riêng về hành vi phá phách được quy định là tình tiết định khung của tội gây rối trật tự công cộng, cho nên mặc dù xử bị cáo về tội huỷ hoại tài sản, nhưng vẫn phải áp dụng khoản 2 Điều 198 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 14 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 16 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
16. Điều 33 Bộ luật hình sự chưa có quy định về việc xử lý vật chứng, đề nghị Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về vấn đề này?

Vấn đề xử lý vật chứng đã được hướng dẫn cụ thể trong mục I Thông tư liên tịch số 06/1998/TTLT ngày 24-10-1998 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về bảo quản và xử lý tài sản là vật chứng, tài sản kê biên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. (Vì trong Thông tư đã hướng dẫn rất cụ thể và chi tiết, đề nghị các đồng chí xem các hướng dẫn trong Thông tư này).

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục I Công văn 24/1999/KHXX

Tại Hội nghị công tác ngành Toà án năm 1998 (từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 2 năm 1999), Toà án nhân dân tối cao đã có bản giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng. Tuy nhiên, tại Hội nghị này một số Toà án có ý kiến đề nghị được giải đáp bổ sung một số vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn xét xử. Trong lời bế mặc Hội nghị, Chánh án Toà án nhân dân tối cao thay mặt Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã giải đáp sơ bộ về những vấn đề đó. Để áp dụng đúng và thống nhất pháp luật trong công tác xét xử, Toà án nhân dân tối cao giải đáp những vấn đề được nêu bổ sung tại Hội nghị như sau:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
3. Đối với người chiếm đoạt tài sản là tiền rồi dùng tiền đó mua vé xổ số và trúng thưởng, thì có áp dụng Điều 33 Bộ luật Hình sự để tịch thu khoản tiền trúng thưởng đó hay không?

Theo điểm b khoản 1 Điều 33 Bộ luật Hình sự thì Toà án quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước "những vật, tiền bạc mà người phạm tội do thực hiện tội phạm hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có". Trong trường hợp một người chiếm đoạt tài sản là tiền rồi dùng tiền đó mua vé xổ số và trúng thưởng thì khoản tiền trúng thưởng đó là do mua vé xổ số mà có, tức là thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 33 Bộ luật Hình sự; do đó, Toà án quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước. Việc quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước khoản tiền trúng thưởng này không những đúng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 33 Bộ luật Hình sự mà là hết sức cần thiết nhằm đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần chung Bộ luật hình sự như sau:
...
2- Điều 33 về tịch thu vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm được sửa đổi như sau:

"Điều 33- Tịch thu vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm

1. Toà án quyết định tịch thu, sung quỹ Nhà nước:

a) Những vật, tiền bạc của người phạm tội đã dùng vào việc thực hiện tội phạm;

b) Những vật, tiền bạc mà người phạm tội do thực hiện tội phạm hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;

c) Những vật, tiền bạc thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành.

2. Đối với những vật, tiền bạc thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa hoặc thuộc tài sản của người khác bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép thì không tịch thu mà trả lại cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

3. Toà án có thể quyết định tịch thu, sung quỹ Nhà nước những vật, tiền bạc thuộc tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm."

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 16 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục I Công văn 24/1999/KHXX
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 17 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
17. Những trường hợp nào thì được coi là "Trường hợp đặc biệt" để được xoá án theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự?

Về vấn đề này đã được hướng dẫn tại điểm b mục 2 phần II Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 1-8-1986 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn "Về việc xoá án"; cụ thể là: "Trong trường hợp đặc biệt người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt (như: thường xuyên lao động nghiêm chỉnh, có năng suất cao...), đã lập công và được cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội đề nghị, thì Toà án có thể xoá án nếu người đó đảm bảo từ 1/3 đến 1/2 thời hạn xoá án nói trên (Điều 55 Bộ luật hình sự)" . (xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; năm 1990; trang 54).

Xem nội dung VB
- Xoá án trong trường hợp hết thời hiệu thi hành án và trường hợp không có khả năng chấp hành án được hướng dẫn bởi Mục V Thông tư liên ngành 02/TTLN năm 1986 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để khuyến khích những người bị kết án chấp hành nghiêm chỉnh bản án và cải tạo tốt, Bộ Luật Hình sự đã quy định việc xoá án trong những điều từ 52 đến 56 và Điều 67, có hai hình thức xoá án: đương nhiên xoá án và xoá án do Toà án quyết định. Người được xoá án được coi như chưa can án và được cấp giấy chứng nhận.

Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành việc xoá án như sau:
...
V. XOÁ ÁN TRONG TRƯỜNG HỢP HẾT THỜI HIỆU THI HÀNH ÁN VÀ TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG CHẤP HÀNH ÁN VỀ PHẠT TIỀN, BỒI THƯỜNG, ÁN PHÍ

a. Xoá án trong trường hợp hết thời hiệu thi hành án

Nếu người bị kết án chưa chấp hành án mà hết thời hiệu thi hành án quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự mà họ không phạm tội mới trong thời gian quy định tại các Điều 53, 54, 55 và 67 thì cũng được đương nhiên xoá án hoặc xoá án do Toà án quyết định. Tuy nhiên, nếu họ chỉ được tạm hoãn thi hành án hoặc đã trốn tránh việc thi hành án thì không được hưởng thời hiệu về thi hành án.

b. Xoá án trong trường hợp không có khả năng chấp hành án về phạt tiền, bồi thường, án phí.

Trong thực tế, có một số người chỉ có khả năng chấp hành một phần hoặc hoàn toàn không có khả năng chấp hành án về phạt tiền, về bồi thường, về án phí. Vì vậy, nếu họ đã không phạm tội mới trong thời hạn pháp luật quy định thì Toà án có thể xoá án nếu họ đã được tạm hoãn thi hành án về những khoản đó mà nay họ cũng không có khả năng chấp hành án. Trong những trường hợp này người xin xoá án phải xin giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường hoặc của cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã nơi mình đang làm việc là họ không có khả năng về kinh tế để chấp hành được bản án và việc xoá án cho họ được giải quyết như sau:

- Nếu người bị hại là tư nhân đồng ý không đòi bồi thường nữa, thì Toà án ra quyết định xoá án trong đó xác nhận ý kiến của người bị hại không đòi bồi thường nữa; nếu người bị hại vẫn đòi bồi thường thì chưa được xoá án.

- Nếu là tiền phạt, tiền bồi thường hoặc án phí phải nộp cho Nhà nước, thì trước khi quyết định xoá án Toà án phải xem xét và quyết định việc miễn chấp hành tiền phạt, tiền bồi thường, hoặc tiền án phí cho người bị án nếu bản án đã có hiệu lực pháp luật được 10 năm. Sau đó mới xem xét và quyết định việc xoá án. Nếu chưa hết hạn đó thì chưa được xoá án.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 17 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
Xoá án trong trường hợp hết thời hiệu thi hành án và trường hợp không có khả năng chấp hành án được hướng dẫn bởi Mục V Thông tư liên ngành 02/TTLN năm 1986 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 18 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
18. Đề nghị hướng dẫn đường lối xét xử tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải (Điều 186 Bộ luật hình sự) vì thực tế có hai quan điểm khác nhau là:

- Người vi phạm phải thực hiện tất cả các hành vi quy định tại điểm a hoặc tại điểm b hoặc tại điểm c khoản 1 mới coi là phạm tội.

- Người vi phạm chỉ cần thực hiện một trong các hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b hoặc tại điểm c khoản 1 đã bị coi là phạm tội.

Quan điểm thứ hai là đúng, vì vấn đề này đã được hướng dẫn tại điểm 3 phần I Thông tư Liên ngành số 02/TTLN ngày 7-1-1995 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ "Hướng dẫn áp dụng Điều 186, Điều 188 Bộ luật hình sự"; cụ thể là: "Người điều khiển phương tiện giao thông vận tải vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không, thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 186 Bộ luật hình sự, phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 186 Bộ luật hình sự, nếu gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản như sau:

a) Làm chết một hoặc hai người;

b) Gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của một đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả các nạn nhân từ 41% trở lên;

d) Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị tương đương từ 5 tấn gạo đến 15 tấn gạo;

đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả các nạn nhân từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị tương đương từ 5 tấn gạo đến 15 tấn gạo;

e) Gây thiệt hại về tài sản với giá trị trương đương từ trên 15 tấn gạo đến 45 tấn gạo. (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế và tố tụng; năm 1995; trang 95).

Theo tinh thần hướng dẫn trên đây thì người nào thực hiện một trong các hành vi quy định tại điểm a (đi quá tốc độ hoặc chở quá trọng tải quy định hoặc tránh vượt trái phép) mà gây thiệt hại thuộc một trong các trường hợp trên đây phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 186 Bộ luật hình sự.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 8 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 8: CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN, TRẬT TỰ CÔNG CỘNG VÀ TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

1. Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 186).

- Tội vi phạm này xâm phạm an toàn giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.

- Người điều khiển phương tiện giao thông vận tải là những người có quan hệ trực tiếp đến việc đảm bảo an toàn cho quá trình vận chuyển và sự hoạt động của các loại phương tiện sử dụng như: người lái các phương tiện cơ giới, người điều khiển phương tiện vận tải thô sơ, người chỉ huy trực tiếp, người điều khiển hệ thống tín hiệu ở sân bay, nhà ga, ở bến cảng, phà v.v…

Qua thực tiễn xét xử thì hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định ở khoản 3 của điều luật này có thể là: về tính mạng, sức khỏe, từ 2 người chết hoặc 3 người bị thương nặng trở lên (hay từ 1 người chết và 2 người bị thương nặng trở lên). Thiệt hại về tài sản có thể là 100.000 đồng trở lên. (1)

- Tình tiết “khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời” (khoản 4) được xác định hậu quả đặc biệt nghiêm trọng tất yếu sẽ xảy ra, nếu không được ngăn chặn kịp thời (như: trưởng ga B đã nhận cho đoàn tàu từ A về, lại ra lệnh cho đoàn tàu khác từ B tiến về A, hai đoàn tàu tất yếu sẽ đâm vào nhau gây nên hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. nếu không được ngăn chặn kịp thời.

Trên tinh thần đó, tình tiết này cũng được quy định tại khoản 3 của Điều 190 (tội vi phạm các quy định về an toàn lao động, về bảo hộ lao động, về an toàn ở những nơi đông người gây hậu quả nghiêm trọng), tại Điều 192 (tội vi phạm các quy định về quản lý vũ khí, phương tiện kỹ thuật, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ) và Điều 194 (tội vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy gây hậu quả nghiêm trọng).

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục I, III Thông tư liên ngành 02/TTLN năm 1995

Để áp dụng đúng và thống nhất Điều 186, Điều 188 Bộ luật hình sự trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ hướng dẫn một số điểm như sau:

I - VỀ ĐIỀU 186 BỘ LUẬT HÌNH SỰ:

1. Người điều khiển phương tiện giao thông vận tải là người có quan hệ trực tiếp đến việc bảo đảm an toàn cho quá trình vận chuyển và sự hoạt động của các loại phương tiện giao thông vận tải, như: người trực tiếp điều khiển phương tiện giao thông vận tải cơ giới hoặc thô sơ, người trực tiếp điều khiển hệ thống tín hiệu giao thông ở sân bay, nhà ga, đường sắt, bến cảng, cầu, phà v.v...

2. "Các quy định khác về an toàn giao thông" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 186 Bộ luật hình sự cần được hiểu là các quy định có liên quan trực tiếp đến việc bảo đảm an toàn trong giao thông vận tải (như chở hàng hoá cồng kềnh; không chằng buộc hàng hoá đúng quy định; quay xe, rẽ trái, rẽ phải không đúng quy định, giao tay lái cho người không có bằng lái...)

3. Người điều khiển phương tiện giao thông vận tải vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không, thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c khoản 1 Điều 186 Bộ luật hình sự; phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 186 Bộ luật hình sự, nếu gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản như sau:

a) Làm chết một hoặc hai người;

b) Gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của một đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả các nạn nhân từ 41% trở lên;

d) Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị tương đương từ 5 tấn gạo đến 15 tấn gạo;

đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả các nạn nhân từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị tương đương từ 5 tấn gạo đến 15 tấn gạo;

e) Gây thiệt hại về tài sản với giá trị tương đương từ trên 15 tấn gạo đến 45 tấn gạo.

4. Trong trường hợp gây thiệt hại dưới mức đã hướng dẫn trên đây nhưng người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị kết án phạt tù về tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải mà chưa được xoá án hoặc đồng thời còn phạm thêm tội chống người thi hành công vụ, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 186 Bộ luật hình sự.

5. Người nào phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 186 Bộ luật hình sự mà còn có những vi phạm thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 186 Bộ luật hình sự, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 186 Bộ luật hình sự.

6. Tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 2 Điều 186 Bộ luật hình sự: "Điều khiển phương tiện giao thông vận tải mà không có bằng lái" là người phạm tội điều khiển phương tiện giao thông vận tải trong các trường hợp:

a) Không có bằng lái do cơ quan có thẩm quyền cấp đối với loại phương tiện đó;

b) Đã bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi bằng lái;

c) Điều khiển phương tiện giao thông vận tải trong thời hạn bị cơ quan có thẩm quyền cấm điều khiển.

7. "Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" là thiệt hại đã gây ra thuộc một trong những mức sau đây:

a) Làm chết từ 3 người trở lên;

b) Làm chết 2 người và còn gây ra hậu quả thuộc một trong các mức như hướng dẫn tại các điểm b,c,d,đ,e mục 3 phần I Thông tư này;

c) Làm chết 1 người và còn gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của 3 hoặc 4 người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

d) Làm chết 1 người và còn gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của 2 người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây ra hậu quả theo hướng dẫn tại các điểm c,d,đ mục 3 phần I Thông tư này;

đ) Gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của 5 người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

e) Gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của 3 hoặc 4 người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây ra hậu quả theo hướng dẫn tại các điểm c,d,đ mục 3 phần I Thông tư này;

g) Gây thiệt hại về tài sản với giá trị tương đương trên 45 tấn gạo.

8. "Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời" được xác định là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng theo hướng dẫn tại mục 7 phần I Thông tư này tất yếu sẽ xảy ra, nếu không được ngăn chặn kịp thời (thí dụ: Trưởng ga B đã nhận cho đoàn tầu từ A về, lại lệnh cho đoàn tầu khác từ B đi về A, hai đoàn tầu tất yếu sẽ đâm vào nhau, nếu không được ngăn chặn kịp thời...).

9. Khi xét xử các hành vi phạm tội theo Điều 186 Bộ luật hình sự, ngoài việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được nêu tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự các Toà án còn có thể coi những tình tiết sau đây là những tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật hình sự:

a) Bị cáo hoặc vợ, chồng, cha, mẹ, con bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: Anh hùng lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang, Người mẹ Việt Nam anh hùng, Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ứu tú, Thầy thuốc nhân dân, Thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác;

b) Bị cáo là người có nhiều thành tích trong sản xuất, chiến đấu, công tác đã được tặng thưởng Huân chương, Huy chương, Bằng lao động sáng tạo, Bằng khen của Chính phủ hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều năm được công nhận là chiến sĩ thi đua;

c) Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, hoặc con (kể cả con nuôi) là liệt sỹ;

d) Bị cáo là người tàn tật nặng do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác;

đ) Bị cáo sau khi phạm tội đã lập công chuộc tội;

e) Người bị hại cũng có lỗi;

g) Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;

h) Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;

i) Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu v.v... mà người điều khiển phương tiện giao thông vận tải vì mong muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao hoặc phải làm việc quá căng thẳng, quá mệt mỏi, nên đã vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.
...
III- VỀ VIỆC PHỐI HỢP GIẢI QUYẾT KHI CÓ TAI NẠN XẢY RA.

1. Khi có một vụ tai nạn giao thông do một trong các hành vi phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 186, khoản 1 Điều 188 gây nên và gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thì lực lượng cảnh sát giao thông phải tổ chức bảo vệ hiện trường và tiến hành các hoạt động khẩn cấp ban đầu (như: cấp cứu người bị nạn, tạm giữ người và phương tiện gây ra tai nạn, bảo vệ hiện trường, đảm bảo trật tự, an toàn giao thông xung quanh nơi xảy ra tai nạn...); đồng thời thông báo ngay cho cơ quan điều tra địa phương để tiến hành các công việc thuộc chức năng của mình. Cơ quan điều tra địa phương cần thông báo ngay cho Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan Bảo Việt cùng cấp.

Trong trường hợp xét thấy việc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản theo hướng dẫn tại mục 3 phần I Thông tư này thì cơ quan điều tra cấp huyện tiến hành các công việc như chụp ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường, tổ chức khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai nhân chứng và những người có liên quan đến tai nạn, thu thập các vật chứng khác... nhằm xác định nguyên nhân và điều kiện xảy ra tai nạn, lỗi của các bên.

Trong trường hợp vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải theo quy định tại khoản 2 Điều 186 Bộ luật hình sự, thì cơ quan điều tra cấp huyện vẫn tiến hành điều tra và sau khi kết thúc điều tra phải chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án lên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để truy tố, xét xử theo thẩm quyền.

Trong các trường hợp trên đây, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có trách nhiệm kiểm sát việc điều tra của cơ quan điều tra cấp huyện.

Nếu xét thấy việc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản theo hướng dẫn tại mục 7 phần I Thông tư này, thì cơ quan điều tra cấp tỉnh có trách nhiệm thụ lý điều tra từ đầu cho đến khi làm xong kết luận điều tra.

2. Việc phối hợp điều tra, xử lý các vụ vi phạm luật lệ giao thông đường bộ do người nước ngoài, phương tiện giao thông của người nước ngoài gây ra được thực hiện theo Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8-9-1988 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 18 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 8 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
Điều này được hướng dẫn bởi Mục I, III Thông tư liên ngành 02/TTLN năm 1995
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 20 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
20. Đối với người bị kết án phạt tù đang được tại ngoại, Toà án đã ra quyết định thi hành án, nhưng cơ quan công an chưa bắt và cũng không có lệnh truy nã, đến nay đã hết thời hiệu thi hành bản án theo quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, thì Toà án giải quyết như thế nào? Mặc nhiên cho người bị kết án được hưởng thời hiệu hay ra thông báo hết thời hiệu thi hành bản án?

Trường hợp người bị kết án phạt tù đang được tại ngoại, Toà án đã ra quyết định thi hành án, nhưng cơ quan Công an không bắt họ đi chấp hành án và cũng không có lệnh truy nã đối với họ, nếu đến nay đã hết thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, thì Toà án thông báo cho họ biết về việc họ được hưởng thời hiệu thi hành bản án hình sự. Vấn đề này đã được hướng dẫn tại mục V Thông tư liên ngành số 04/TTLN ngày 26-12-1986 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ "Hướng dẫn việc áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự" (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; năm 1990; trang 60).

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1986 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để thi hành Điều 46 Bộ Luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án hình sự được đúng đắn và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:

I- Ý NGHĨA CỦA QUY ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU THI HÀNH BẢN ÁN HÌNH SỰ
...
II- ĐIỀU KIỆN ĐỂ NGƯỜI BỊ PHẠT TÙ ĐƯỢC HƯỞNG THỜI HIỆU THI HÀNH BẢN ÁN
...
III- ÁP DỤNG THỜI HIỆU ĐỐI VỚI CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÁC, CÁC HÌNH PHẠT BỔ SUNG VÀ BỒI THƯỜNG
...
IV- CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG ÁP DỤNG THỜI HIỆU
...
V- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
...

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 20 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1986 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 21 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
21. Trường hợp một người có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, sau khi bị phát hiện, họ đã tự nguyện đem tài sản mà họ đã chiếm đoạt trả lại cho người có tài sản (đây là trường hợp trả lại tài sản, không phải là bồi thường), vậy khi xét xử, Toà án có áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với người phạm tội hay không? Trường hợp người phạm tội (hoặc gia đình của họ) tự nguyện thực hiện việc bồi thường cho người bị hại, nhưng vì thù tức mà người bị hại không nhận; do không hiểu biết pháp luật nên người phạm tội (hoặc gia đình của họ) đã không nộp số tiền bồi thường cho các cơ quan tiến hành tố tụng mà đem về nhà cất giữ để sẵn sàng thực hiện việc bồi thường, thì người phạm tội có được hưởng tình tiết "tự nguyện bồi thường thiệt hại" hay không?

Mặc dù điểm a khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự không quy định cụ thể việc người phạm tội tự nguyện đem tài sản đã chiếm đoạt trả lại cho người có tài sản là tình tiết giảm nhẹ, nhưng theo tinh thần quy định tại điểm này, thì phải coi việc người phạm tội tự nguyện đem tài sản đã chiếm đoạt trả lại cho người có tài sản là trường hợp người phạm tội đã làm giảm bớt tác hại của tội phạm; do đó, nếu người phạm tội tự nguyện đem tài sản đã chiếm đoạt trả lại cho người có tài sản thì khi xét xử Toà án được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.

Nếu người phạm tội (hoặc gia đình họ) xuất trình được các chứng cứ chứng minh rằng họ đã "tự nguyện bồi thường thiệt hại" nhưng vì thù tức, người bị hại đã không nhận và do không hiểu biết pháp luật nên người phạm tội (hoặc gia đình của họ) đã không nộp số tiền bồi thường cho cơ quan tiến hành tố tụng mà họ đem về nhà cất giữ để sẵn sàng thực hiện việc bồi thường và họ sẵn sàng nộp ngay tại phiên toà, thì Toà án coi đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự và cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ này. Tuy nhiên, trong trường hợp người phạm tội không biết gia đình họ đã bồi thường hay chưa, đã chuẩn bị tự nguyện thực hiện việc bồi thường thay cho họ hay chưa, mà gia đình đã bồi thường hay đã chuẩn bị tự nguyện thực hiện việc bồi thường thay cho họ và sẵn sàng nộp ngay tại phiên toà thì Toà án không coi đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự mà chỉ coi đây là tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật hình sự và phải ghi trong bản án.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 21 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 22 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
22. Tình tiết giảm nhẹ "phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 được áp dụng trong những trường hợp nào; nếu phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 102 hoặc khoản 4 Điều 109 Bộ luật hình sự, thì tình tiết này có đựoc áp dụng là tình tiết giảm nhẹ nữa hay không? "Người khác" trong tình tiết "bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự là người nào? Là chính người bị hại hay là người thứ 3?

Vấn đề này đã được hướng dẫn tại điểm 3 mục B phần II Nghị quyết số 1-89/HĐTP ngày 19-4-1989 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự"; cụ thể như sau: "Những tình tiết là yếu tố định tội (thí dụ: giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 102 Bộ luật hình sự) hoặc định khung hình phạt (thí dụ: tình tiết tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân quy định tại khoản 3 Điều 101 hoặc khoản 4 Điều 109 Bộ luật hình sự), thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ của chính tội đó nữa. (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; năm 1990; trang 93).

" Người khác" trong tình tiết "bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự được hiểu là người bị hại và trong một số trường hợp có thể là người thân thích của người bị hại.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 22 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 22 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
22. Tình tiết giảm nhẹ "phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 được áp dụng trong những trường hợp nào; nếu phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 102 hoặc khoản 4 Điều 109 Bộ luật hình sự, thì tình tiết này có đựoc áp dụng là tình tiết giảm nhẹ nữa hay không? "Người khác" trong tình tiết "bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự là người nào? Là chính người bị hại hay là người thứ 3?

Vấn đề này đã được hướng dẫn tại điểm 3 mục B phần II Nghị quyết số 1-89/HĐTP ngày 19-4-1989 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự"; cụ thể như sau: "Những tình tiết là yếu tố định tội (thí dụ: giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 102 Bộ luật hình sự) hoặc định khung hình phạt (thí dụ: tình tiết tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân quy định tại khoản 3 Điều 101 hoặc khoản 4 Điều 109 Bộ luật hình sự), thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ của chính tội đó nữa. (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; năm 1990; trang 93).

" Người khác" trong tình tiết "bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự được hiểu là người bị hại và trong một số trường hợp có thể là người thân thích của người bị hại.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 22 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 22 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
22. Tình tiết giảm nhẹ "phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 được áp dụng trong những trường hợp nào; nếu phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 102 hoặc khoản 4 Điều 109 Bộ luật hình sự, thì tình tiết này có đựoc áp dụng là tình tiết giảm nhẹ nữa hay không? "Người khác" trong tình tiết "bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự là người nào? Là chính người bị hại hay là người thứ 3?

Vấn đề này đã được hướng dẫn tại điểm 3 mục B phần II Nghị quyết số 1-89/HĐTP ngày 19-4-1989 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự"; cụ thể như sau: "Những tình tiết là yếu tố định tội (thí dụ: giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 102 Bộ luật hình sự) hoặc định khung hình phạt (thí dụ: tình tiết tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân quy định tại khoản 3 Điều 101 hoặc khoản 4 Điều 109 Bộ luật hình sự), thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ của chính tội đó nữa. (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; năm 1990; trang 93).

" Người khác" trong tình tiết "bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự được hiểu là người bị hại và trong một số trường hợp có thể là người thân thích của người bị hại.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 22 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 23 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
23. Trường hợp bị cáo thật thà khai báo về những hành vi mà họ đã thực hiện như cáo trạng truy tố, nhưng cho rằng hành vi của mình là hợp pháp, không thừa nhận là đã phạm tội, thì họ có được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự hay không?

Theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, thì được coi là tình tiết giảm nhẹ nếu "người phạm tội tự thú, thật thà khai báo, ăn năn hối cải hoặc tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện và điều tra trội phạm". Như vậy, đối với trường hợp người phạm tội thật thà khai báo về những hành vi mà họ đã thực hiện, nhưng do không hiểu biết pháp luật nên cho rằng hành vi của họ là hợp pháp, không thừa nhận là đã phạm tội, nhưng sau khi được cơ quan tiến hành tố tụng phân tích giải thích, họ biết được tội lỗi và ăn năn hối cải, thì xét xử, Toà án cần cho họ được hưởng tình tiết giảm nhẹ "thật thà khai báo, ăn năn hối cải" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.

Đối với những trường hợp tuy khai nhận đầy đủ những hành vi mà họ đã thực hiện nhưng quanh co không nhận tội và mặc dù đã được cơ quan tiến hành tố tụng phân tích giải thích nhưng vẫn tỏ ra ngoan cố, không chịu ăn năn hối cải, thì khi xét xử, Toà án không áp dụng tình tiết "thật thà khai báo, ăn năn hối cải" đối với họ.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 23 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 24 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
24. Tình tiết tăng nặng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự "xúi giục người chưa thành niên phạm tội" có áp dụng đối với trường hợp người xúi giục cũng là người chưa thành niên hay không?

Điều 57 Bộ luật hình sự quy định: "Người chưa thành niên phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của phần chung Bộ luật không trái với những quy định của chương này". Trong Chương VII Phần chung Bộ luật hình sự "Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội" không có quy định nào loại trừ việc áp dụng các tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự nói chung và tình tiết "xúi giục người chưa thành niên phạm tội" quy định tại điểm a khoản 1 Điều này nói riêng. Tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự chỉ quy định "xúi giục người chưa thành niên phạm tội: là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội, chứ cũng không quy định người xúi giục phải là người thành niên; Vì vậy, nếu người chưa thành niên phạm tội mà có hành vi xúi giục người chưa thành niên khác phạm tội, thì khi xét xử Toà án phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: "xúi giục người chưa thành niên phạm tội" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự đối với họ.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 24 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 25, 27 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
25. Người phạm tội trong thời gian thử thách của án treo hoặc phạm tội trong thời gian được hoãn, được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì có coi là trường hợp "phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt" quy định tại điểm d khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự hay không?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Bộ luật hình sự, thì án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, đồng thời theo quy định tại Điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự thì người được hoãn chấp hành hình phạt tù là chưa phải đi chấp hành hình phạt tù và theo quy định tại Điều 232 Bộ Luật tố tụng hình sự thì người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là không phải tiếp tục chấp hành hình phạt tù, thời gian được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù không tính vào thời gian chấp hành hình phạt; do đó, người phạm tội trong thời gian thử thách của án treo hoặc trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù thì không coi là phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự; tuy nhiên, tuỳ từng trường hợp cụ thể để xem xét có áp dụng tình tiết tăng nặng "tái phạm" hoặc "tái phạm nguy hiểm" đối với họ hay không.
...
27. Trường hợp một người trong thời gian chấp hành hình phạt tù, lại thực hiện tội phạm mới, thì khi xét xử tội phạm mới ngoài việc áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt", Toà án có áp dụng tình tiết tăng nặng "tái phạm" hoặc "tái phạm nguy hiểm" nữa hay không?

Trường hợp một người trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù lại thực hiện tội phạm mới, nếu khi xét xử tội phạm mới, theo quy định tại Điều 40 Bộ luật hình sự họ là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm và tình tiết "tái phạm" hoặc "tái phạm nguy hiểm" không phải là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt đối với tội phạm mới, thì ngoài việc áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt" quy định tại điểm d khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự, Toà án còn phải áp dụng tình tiết tăng nặng "tái phạm" hoặc "tái phạm nguy hiểm" quy định tại điểm i khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự đối với họ.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 25, 27 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 26 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
26. Điểm e khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự quy định tình tiết tăng nặng "phạm tội với trẻ em"; vậy "trẻ em" có phải là những người dưới 16 tuổi hay không; Đối với những trường hợp vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ của trẻ em (Ví dụ: trường hợp gây tai nạn giao thông làm chết trẻ em), thì có bị áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội đối với trẻ em" hay không?

Bộ luật hình sự có khái niệm "trẻ em" nhưng không quy định cụ thể trẻ em là người có độ tuổi bao nhiêu. Việc coi người có độ tuổi bao nhiêu là trẻ em phải căn cứ vào Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12-8-1991. Theo quy định tại Điều 1 Luật này, thì "Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt nam dưới mười sáu tuổi".

Không phải trong mọi trường hợp mà người bị hại do tội phạm gây ra là trẻ em đều phải áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội đối với trẻ em" quy định tại điểm e khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự. Chỉ coi là phạm tội đối với trẻ em và phải áp dụng điểm e khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự đối với người phạm tội trong trường hợp người phạm tội cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của trẻ em.

Xem nội dung VB
Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 26 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục I Công văn 24/1999/KHXX

Tại Hội nghị công tác ngành Toà án năm 1998 (từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 2 năm 1999), Toà án nhân dân tối cao đã có bản giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng. Tuy nhiên, tại Hội nghị này một số Toà án có ý kiến đề nghị được giải đáp bổ sung một số vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn xét xử. Trong lời bế mặc Hội nghị, Chánh án Toà án nhân dân tối cao thay mặt Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã giải đáp sơ bộ về những vấn đề đó. Để áp dụng đúng và thống nhất pháp luật trong công tác xét xử, Toà án nhân dân tối cao giải đáp những vấn đề được nêu bổ sung tại Hội nghị như sau:

I. VỀ HÌNH SỰ

1. Đề nghị giải thích cụm từ "người nào thấy người khác" quy định tại Điều 107 Bộ luật Hình sự. "Thấy" quy định trong điều luật này là "mắt nhìn thấy" hay là chỉ cần "biểt rõ"?

Theo Từ điển tiếng Việt năm 1992 thì "Thấy" có thể được hiểu theo các cách khác nhau: nhận biết được bằng mắt nhìn (nhìn thấy); nhận biết được bằng giác quan nói chung (nghe thấy); nhận ra được, biết được qua nhận thức (thấy được khuyết điểm); có cảm giác, cảm thấy (thấy vui). Để truy cứu một người về "tội cố ý không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng" (Điều 107 Bộ luật Hình sự) thì "Thấy" ở đây không phải hiểu theo nghĩa rộng như các cách khác nhau được giải thích trong Từ điển tiếng Việt năm 1992, nhưng cũng không phải hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ "nhìn thấy". "Thấy" quy định trong Điều 107 Bộ luật Hình sự hoặc là "mắt nhìn thấy" hoặc là tuy mắt không nhìn thấy nhưng "có đầy đủ căn cứ biết rõ" người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến chết người.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, NHÂN PHẨM, DANH DỰ CON NGƯỜI
...
5. Tội cố ý không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 107). Nguy hiểm đến tính mạng (sắp chết) hoặc có thể chết (như: sắp chết đuối; bị thương tích nặng do tai nạn giao thông gây ra…), tuy có điều kiện mà không cứu giúp (tức là có khả năng cứu giúp và sự cứu giúp không gây nguy hiểm cho bản thân hoặc cho người khác) mà cố ý bỏ mặc, dẫn đến chết người.

- Theo khoản 2, người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm (như: cùng đi tắm ở sông, người biết bơi đùa nghịch làm người không biết bơi bị chới với sắp chình mà không cứu vớt) hoặc là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp, có nghĩa vụ phải cứu giúp (như thủy thủ tàu đang đi trên sông, trên biển đối với người đang vật vờ trên mặt nước, bác sĩ đối với bệnh nhân đang cần cấp cứu…).

Đối với trường hợp điều khiển phương tiện giao thông vận tải gây ra tai nạn rồi bỏ chạy, cố ý không cứu giúp người bị nạn để trốn tránh trách nhiệm thì xử lý theo Điều 186, khoản 2, điểm b (tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục I Công văn 24/1999/KHXX
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục I Công văn 24/1999/KHXX

Tại Hội nghị công tác ngành Toà án năm 1998 (từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 2 năm 1999), Toà án nhân dân tối cao đã có bản giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng. Tuy nhiên, tại Hội nghị này một số Toà án có ý kiến đề nghị được giải đáp bổ sung một số vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn xét xử. Trong lời bế mặc Hội nghị, Chánh án Toà án nhân dân tối cao thay mặt Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã giải đáp sơ bộ về những vấn đề đó. Để áp dụng đúng và thống nhất pháp luật trong công tác xét xử, Toà án nhân dân tối cao giải đáp những vấn đề được nêu bổ sung tại Hội nghị như sau:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
2. Người được miễn trách nhiệm hình sự có phải là người không phạm tội hay không, có phải là hành vi của họ chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự và chỉ có thể bị xử lý hành chính hay không? Khi tuyên bố miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội thì có phải quyết định hình phạt bổ sung hay không, nếu điều luật có quy định hình phạt bổ sung đối với tội đó; trách nhiệm dân sự (nếu có) sẽ giải quyết như thế nào?

Về vấn đề này đã được hướng dẫn cụ thể tại mục VIII Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự" (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; năm 1990; trang 22), nay cần nhấn mạnh thêm là "miễn trách nhiệm hình sự" và "Không phạm tội" là hai trường hợp hoàn toàn khác nhau.

- Miễn trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với người phạm tội mà khi họ thực hiện hành vi phạm tội nếu căn cứ vào tình hình hoặc căn cứ vào nhân thân của họ tại thời điểm đó, thì họ phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng khi tiến hành điều tra hoặc xét xử do có sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Ví dụ: Một người trộm cắp tài sản của công dân có giá trị 1 triệu đồng. Nếu tại thời điểm họ thực hiện hành vi trộm cắp đó, thì họ phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự, thế nhưng sau khi Viện kiểm sát truy tố ra trước Toà án thì trong thời hạn chuẩn bị xét xử họ đã lập công lớn trong việc dập tắt một đám cháy và đã bị thương tích nặng. Trong trường hợp này họ có thể được miễn trách nhiệm hình sự vì bản thân họ không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Miễn trách nhiệm hình sự cũng có thể được áp dụng đối với người phạm tội, nếu trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm.

- Không phạm tội là trường hợp hành vi của họ không cấu thành tội phạm (như phòng vệ chính đáng; tình thế cấp thiết; những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể...), hay họ không thực hiện hành vi phạm tội đó mà là do người khác thực hiện..., có nghĩa là ngay tại thời điểm mà họ thực hiện hành vi đó hay ngay tại thời điểm có hành vi phạm tội xảy ra căn cứ vào các quy định của pháp luật thì họ không phạm tội.

Người được miễn trách nhiệm hình sự không phải chịu trách hình phạt chính cũng như hình phạt bổ sung; tuy nhiên, tuỳ trường hợp cụ thể Toà án có thể quyết định áp dụng biện pháp tư pháp đối với họ và giải quyết trách nhiệm dân sự (nếu có). Tuỳ trường hợp cụ thể người được miễn trách nhiệm hình sự có thể bị xử lý hành chính.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Công văn 108/HĐNN7 năm 1987

Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có đề nghị Hội đồng Nhà nước giải thích ba vấn đề trong Bộ luật hình sự:

- Có trường hợp nào Tòa án có thể miễn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo không?

- Việc miễn trách nhiệm hình sự (quy định ở Điều 48 của Bộ luật hình sự) và quyền miễn tố của Viện kiểm sát nhân dân (quy định ở Điều 10 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân) khác nhau như thế nào?

- Người bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội có phải thực hiện một số nghĩa vụ về cải tạo không giam giữ và có thể bị khấu trừ một phần thu nhập để sung quỹ Nhà nước theo quy định ở Điều 24 không?

Hội đồng Nhà nước có ý kiến như sau:
...
2- Miễn tố là một khái niệm pháp lý được dùng trước khi có Bộ luật hình sự. Với khái niệm này có những cách hiểu khác nhau.

Vì vậy, Bộ luật hình sự không dùng khái niệm miễn tố nữa, mà dùng khái niệm miễn trách nhiệm hình sự (Điều 48). Miễn trách nhiệm hình sự là biện pháp chỉ áp dụng trong trường hợp đã xác định rõ hành vi của bị can là tội phạm, và xác định rõ bị can ở vào điều kiện quy định ở Điều 48 của Bộ luật hình sự để miễn trách nhiệm hình sự. Việc miễn trách nhiệm hình sự có thể được quyết định ở giai đoạn điều tra, cũng có thể được quyết định ở giai đoạn xét xử.

Ngoài quyền quyết định miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 48 của Bộ luật hình sự, Viện kiểm sát nhân dân còn có quyền đình chỉ tố tụng và chuyển vụ án sang cơ quan hành chính hoặc tổ chức xã hội để xử lý bằng biện pháp khác, hoặc đình chỉ tố tụng vì không có hành vi phạm tội, hoặc vì người có hành vi nguy hiểm cho xã hội thực hiện hành vi đó trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự v.v…

Các quyết định của Viện kiểm sát nhân dân đối với những trường hợp này không phải là miễn tố.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục I Công văn 24/1999/KHXX
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Công văn 108/HĐNN7 năm 1987
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
5. Thế nào là "phạm tội nhiều lần" đối với tội chứa mại dâm?

Bị coi là phạm tội nhiều lần đối với tội chứa mại dâm, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Chứa mại dâm từ hai lần trở lên đối với một đôi mua bán dâm hoặc các đôi mua bán dâm khác nhau (không coi là phạm tội nhiều lần, nếu chứa một đôi mua bán dâm trong một khoảng thời gian liên tục và trong khoảng thời gian đó đôi mua bán dâm đó mại dâm từ hai lần trở lên).

- Chứa một người bán dâm (hoặc một người mua dâm) và để cho người đó mại dâm với hai người trở lên có thể liền nhau hoặc trong các lần khác nhau.

- Chứa hai đôi mua bán dâm trở lên cùng một lúc.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 3 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 3. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về tội phạm tình dục đối với người chưa thành niên như sau:
...
4. Điều 202 về tội chứa mãi dâm, tội môi giới mãi dâm được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 202. Tội chứa mãi dâm, tội môi giới mãi dâm

1- Người nào chứa mãi dâm, dụ dỗ hoặc dẫn dắt người mãi dâm, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Cưỡng bức mãi dâm;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 3 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 11 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
11. Trường hợp người lợi dụng hợp đồng vay nợ là loại hợp đồng không thời hạn để dây dưa, kéo dài, không trả nợ, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm.... hay không?

Theo quy định tại Điều 474 Bộ luật hình sự, thì đối với hợp đồng vay không kỳ hạn, nếu bên cho vay muốn đòi lại tài sản phải báo trước cho bên vay trong một thời gian hợp lý để bên vay có thời gian chuẩn bị việc trả lại tài sản. Nếu hết thời hạn đã được thông báo mà người vay chưa trả được nợ vì họ đang trong tình trạng thực sự có khó khăn về kinh tế, không cố tình trốn tránh việc trả nợ và không có ý định chiếm đoạt tài sản của người cho vay, thì chỉ giải quyết về dân sự theo quy định của Bộ luật hình sự (nếu một trong các bên có yêu cầu).

Trường hợp người vay cố tình trốn tránh việc trả nợ, dây dưa kéo dài với ý định chiếm đoạt tài sản của người cho vay, thì đó là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân.

Xem nội dung VB
- Điều này được bổ sung bởi Khoản 10 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
10) Điều 158 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân được bổ sung một khoản mới như sau:

"3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm".

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 11 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
Điều này được bổ sung bởi Khoản 10 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 15 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999

Trong thời gian chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998, nhiều Toà án Nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã có công văn gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị được giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998.

Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ
...
15. Trong vụ án có bốn người thực hiện hành vi phạm tội, trong đó có một người bị truy tố về tội giết người, ba người còn lại bị truy tố về tội gây rối trật tự công cộng. Người bị truy tố tội giết người bỏ trốn; một người bị truy tố về tội gây rối trật tự công cộng chết, nay bắt được người bỏ trốn; vậy việc áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự phải được thực hiện như thế nào? áp dụng đối với vụ án hay áp dụng đối với từng người?

Việc tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là đồi với từng người thực hiện vi phạm tội cụ thể. Nếu chỉ có một người bỏ trốn, các cơ quan chức năng đã ra lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính đối với người bỏ trốn; thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó được tính lại từ ngày người đó ra trình diện hoặc bị bắt giữ. Còn đối với các bị cáo khác không bỏ trốn và không có lệnh truy nã, thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày thực hiện tội phạm. Trong trường hợp vì lỗi của cơ quan tiến hành tố tụng đã không ra lệnh truy nã đối với người bỏ trốn, thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bỏ trốn cũng được tính từ ngày thực hiện tội phạm (nếu họ không thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 45 Bộ luật hình sự).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 15 Phần I Công văn 16/1999/KHXX năm 1999
- Tình tiết này được hướng dẫn bởi Mục XII Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986, số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 và số 02 ngày 16-11-1988 hướng dẫn các Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự.
...
Tại kỳ họp vào các ngày 18, 19-4-1989 có sự tham dự của đại diện của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hướng dẫn việc áp dụng một số quy định khác của Bộ luật hình sự và sửa đổi, bổ sung một số điểm trong các Nghị quyết nói trên cho phù hợp với tình hình hiện nay như sau:
...
XII- VỀ CÁC TÌNH TIẾT “TÀI SẢN CÓ SỐ LƯỢNG LỚN”, “TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ LỚN”, “GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN”, “THU LỢI BẤT CHÍNH LỚN”

Tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn rằng thiệt hại tài sản dưới 100.000 đồng là “thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”, thiệt hại về tài sản từ 100.000 đồng trở lên là “hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” của tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng; số tiền bị chiếm đoạt khoảng từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng được “coi là lớn”…

Do tình hình lạm phát, giá cả không ổn định, nên các hướng dẫn nói trên nay không còn phù hợp nữa, vì vậy cần thống nhất lại như sau: khoảng 5 tấn gạo, 5 tấn xăng, dầu lửa, phân đạm, 10 kg thuốc phiện, 5 tạ mỳ chính, 2 tấn đường trắng loại 1, 2 lượng vàng, đối với tiền và các loại tài sản, hàng hóa, vật tư khác thì quy ra trị giá tương đương 5 tấn gạo - được coi là số lượng tài sản, hàng hóa, vật tư có giá trị lớn hoặc số lượng lớn, khi trị giá gấp 3 lần các mức nêu trên thì được coi là có giá trị lớn hoặc có số lượng rất lớn, nghĩa là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

Thu lợi bất chính được một số tài sản, hàng hóa vật tư có giá trị lớn thì bị coi là thu lợi bất chính lớn. Thu lợi bất chính rất lớn là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

Gây thiệt hại về tài sản với giá trị lớn thì bị coi là gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, là gây hậu quả nghiêm trọng. Gây thiệt hại về tài sản với giá trị rất lớn thì bị coi là gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Hướng dẫn trong mục này được áp dụng đối với các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa, các tội xâm phạm sở hữu của công dân, các tội có hậu quả là thiệt hại đến tài sản, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tội nhận hối lộ, tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ và các tội có dấu hiệu “thu lợi bất chính lớn”.

Về tình tiết “số lượng lớn hoặc giá trị lớn” đối với một số tội phạm như buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, đầu cơ, buôn lậu hoặc tàng trữ hàng cấm, làm hàng giả, buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép, làm vé giả, buôn bán vé giả, lưu hành sản phẩm kém phẩm chất, trốn thuế v.v… sẽ có hướng dẫn riêng của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xem nội dung VB
Tình tiết này được hướng dẫn bởi Mục XII Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần chung Bộ luật hình sự.

1- Đoạn 3 Điều 23 được bổ sung như sau:

Mức phạt tiền được quyết định theo mức độ nghiêm trọng của tội đã phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả.

Xem nội dung VB
Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần chung Bộ luật hình sự.
...
3- Đoạn 1 của khoản 1 Điều 42 về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, được sửa đổi như sau:

1. Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này thì Toà án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung. Hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của loại hình phạt đã tuyên.

Xem nội dung VB
Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần chung Bộ luật hình sự.
...
4- Khoản 5 Điều 44 về án treo được sửa đổi như sau:

5. Nếu trong thời gian thử thách, người bị án treo phạm tội mới do vô ý và bị xử phạt tù hoặc phạm tội mới do cố ý thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định ở khoản 2 Điều 42.

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần chung Bộ luật hình sự.
...
5- Khoản 2 Điều 53 về đương nhiên được xoá án, được sửa đổi như sau:

2. Người được hưởng án treo mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từ ngày hết thời gian thử thách.

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

1- Điểm a của khoản 2 điều 97 ... được bổ sung các chữ "hoặc có tính chất chuyên nghiệp".

Xem nội dung VB
Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

1- Điểm a của khoản 2 điều ... 129 ... được bổ sung các chữ "hoặc có tính chất chuyên nghiệp".

Xem nội dung VB
Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

1- Điểm a của khoản 2 điều ... 131 ... được bổ sung các chữ "hoặc có tính chất chuyên nghiệp".

Xem nội dung VB
Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

1- Điểm a của khoản 2 các điều ... 132 ... được bổ sung các chữ "hoặc có tính chất chuyên nghiệp".

Xem nội dung VB
Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

1- Điểm a của khoản 2 điều ... 134 ... được bổ sung các chữ "hoặc có tính chất chuyên nghiệp".

Xem nội dung VB
Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

1- Điểm a của khoản 2 điều ... 152 ... được bổ sung các chữ "hoặc có tính chất chuyên nghiệp".

Xem nội dung VB
Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

1- Điểm a của khoản 2 điều ... 154 ... được bổ sung các chữ "hoặc có tính chất chuyên nghiệp".

Xem nội dung VB
Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

1- Điểm a của khoản 2 điều ... 155 ... được bổ sung các chữ "hoặc có tính chất chuyên nghiệp".

Xem nội dung VB
Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

1- Điểm a của khoản 2 điều ... 157 ... được bổ sung các chữ "hoặc có tính chất chuyên nghiệp".

Xem nội dung VB
Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

1- Điểm a của khoản 2 điều ... 166 ... được bổ sung các chữ "hoặc có tính chất chuyên nghiệp".

Xem nội dung VB
Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

1- Điểm a của khoản 2 điều ... 201 ... được bổ sung các chữ "hoặc có tính chất chuyên nghiệp".

Xem nội dung VB
Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

1- ... điểm b của khoản 2 điều ... 167 được bổ sung các chữ "hoặc có tính chất chuyên nghiệp".

Xem nội dung VB
Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

1- ... điểm b của khoản 2 điều 153 ... được bổ sung các chữ "hoặc có tính chất chuyên nghiệp".

Xem nội dung VB
Điểm này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Điểm a Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.
...
2- Mức tiền phạt tại các điều 90, 91, 100, 126, 142, 179, 185, 215, 218 được sửa đổi như sau:

a) Ở khoản 1 Điều 90 về tội vi phạm các quy định về hàng không: năm trăm triệu đồng (500.000.000 đồng);

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Điểm a Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Điểm b Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.
...
2- Mức tiền phạt tại các điều 90, 91, 100, 126, 142, 179, 185, 215, 218 được sửa đổi như sau:
...
b) Ở khoản 2 Điều 90: Một tỷ đồng (1.000.000.000 đồng);

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Điểm b Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Điểm c Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.
...
2- Mức tiền phạt tại các điều 90, 91, 100, 126, 142, 179, 185, 215, 218 được sửa đổi như sau:
...
c) Ở khoản 1 Điều 91 về tội vi phạm các quy định về hàng hải: ba trăm triệu đồng (300.000.000 đồng);

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Điểm c Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.
...
2- Mức tiền phạt tại các điều 90, 91, 100, 126, 142, 179, 185, 215, 218 được sửa đổi như sau:
...
d) Ở khoản 2 Điều 91: tám trăm triệu đồng (800.000.000 đồng);

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Điểm đ Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.
...
2- Mức tiền phạt tại các điều 90, 91, 100, 126, 142, 179, 185, 215, 218 được sửa đổi như sau:
...
đ) Ở khoản 3 Điều 100 về hình phạt bổ sung đối với các tội quy định ở các điều 88, 95, 96, 98 và 99: từ ba trăm nghìn đồng (300.000 đồng) đến ba triệu đồng (3.000.000 đồng);

Xem nội dung VB
- Khoản này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 3 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
3) Khoản 3 Điều 100 về hình phạt bổ sung được sửa đổi, bổ sung như sau:

"3. Người nào phạm một trong các tội quy định ở Điều 90 và Điều 91 trong trường hợp hình phạt chính không phải là phạt tiền, thì có thể bị phạt tiền theo mức đã quy định đối với mỗi tội.

Người nào phạm một trong các tội quy định ở các điều 88, 95, 96, 98 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng (300.000 đồng) đến ba triệu đồng (3.000.000 đồng); ở Điều 96a hoặc ở Điều 97 trong trường hợp hình phạt chính không phải là phạt tiền, thì có thể bị phạt tiền đến mười lần trị giá hàng phạm pháp".

Xem nội dung VB
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
2- Khoản 3 Điều 100 về hình phạt bổ sung được sửa đổi như sau:

"3. Người nào phạm một trong các tội quy định ở Điều 90 và Điều 91 trong trường hợp hình phạt chính không phải là phạt tiền, thì có thể bị phạt tiền theo mức đã quy định đối với mỗi tội.

Người nào phạm một trong các tội quy định ở các điều 88, 95, 96, 98 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng (300.000 đồng) đến ba triệu đồng (3.000.000 đồng); ở Điều 96a và ở Điều 97 thì bị phạt tiền đến mười lần trị giá hàng phạm pháp."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Điểm đ Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Khoản này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 3 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.
...
2- Mức tiền phạt tại các điều 90, 91, 100, 126, 142, 179, 185, 215, 218 được sửa đổi như sau:
...
e) Ở Điều 126 về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền sáng chế, phát minh: năm triệu đồng (5.000.000 đồng);

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Điểm g Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.
...
2- Mức tiền phạt tại các điều 90, 91, 100, 126, 142, 179, 185, 215, 218 được sửa đổi như sau:
...
g) Ở khoản 3 Điều 142 về hình phạt bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa quy định ở Chương IV, trừ các điều 136, 139 và 140: ba mươi triệu đồng (30.000.000 đồng);

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Điểm g Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần chung Bộ luật hình sự như sau:

1) Đoạn 2 Điều 28 về hình phạt cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định được bổ sung như sau:

"Thời hạn cấm là từ hai năm đến năm năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu là hình phát chính khác hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo".

Xem nội dung VB
Nội dung này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được bổ sung bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần chung Bộ luật hình sự như sau:
...
2) Đoạn 2 Điều 31 về hình phạt tước một số quyền công dân được bổ sung như sau:

"Thời hạn tước một số quyền công dân là từ một năm đến năm năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu là hình phạt chính khác hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo".

Xem nội dung VB
Nội dung này được bổ sung bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần chung Bộ luật hình sự như sau:
...
4) Điều 69 về tạm hoãn, miễn hoặc giảm việc chấp hành hình phạt được sửa đổi như sau:

"Điều 69. Hoãn, miễn chấp hành hình phạt tù.

Quân nhân bị kết án về tội ít nghiêm trọng, nếu do nhu cầu chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu mà được người chỉ huy từ cấp trung đoàn trở lên đề nghị cho ở lại đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ, thì có thể được Toà án cho hoãn chấp hành hình phạt tù từ sáu tháng đến một năm. Hết thời hạn đó, Toà án sẽ căn cứ vào thái độ sửa chữa hoặc kết quả lập công của người bị kết án mà quyết định miễn chấp hành hình phạt hoặc buộc phải chấp hành toàn bộ hình phạt đã tuyên".

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Cụm từ này bị bãi bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:

1) Bỏ các chữ "gây hậu quả nghiêm trọng" trong tội danh ở điều 182

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị bãi bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Cụm từ này bị bãi bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:

1) Bỏ các chữ "gây hậu quả nghiêm trọng" trong tội danh ở điều ... 186

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị bãi bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Cụm từ này bị bãi bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:

1) Bỏ các chữ "gây hậu quả nghiêm trọng" trong tội danh ở điều ... 190

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị bãi bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Cụm từ này bị bãi bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:

1) Bỏ các chữ "gây hậu quả nghiêm trọng" trong tội danh ở điều ... 194.

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị bãi bỏ bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
2) Điều 88 về tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 88. Tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép.

1. Người nào tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 85, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội nhiều lần hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân".

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 4 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
4) Khoản 1 Điều 103 về tội xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Phạm tội làm chết nhiều người hoặc trong trường hợp nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười lăm năm".

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 4 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 5 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
5) Khoản 4 Điều 112 về tội hiếp dâm được sửa đổi, bổ sung như sau:

"4. Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi đều là phạm tội hiếp dâm và người phạm tội bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định ở khoản 2 và khoản 3 Điều này, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình".

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 5 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
6) Điều 124 về tội xâm phạm các quyền tự do hội họp, lập hội, tín ngưỡng của công dân được sửa đổi như sau:

"Điều 124. Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, quyền hội họp, lập hội của công dân.

Người nào có hành vi cản trở công dân thực hiện các quyền sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm:

a) Quyền hội họp, quyền lập hội phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của nhân dân;

b) Quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào".

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được bổ sung bởi Khoản 7 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
7) Khoản 3 Điều 134 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa được bổ sung như sau:

"3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình".

Xem nội dung VB
Khoản này được bổ sung bởi Khoản 7 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 9 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
9) Điều 157 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 157. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân.

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ ba tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình".

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 9 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 11 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
11) Khoản 1 Điều 168 về tội kinh doanh trái phép được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Người nào kinh doanh không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung giấy phép, đã bị xử lý hành chính về việc kinh doanh trái phép hoặc đã bị kết án nhưng chưa được xoá án về tội kinh doanh trái phép hoặc về một trong các tội quy định ở các điều 96a, 97, 165, 166, 167, 169, 173 và 183 mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm".

Xem nội dung VB
- Khoản này được sửa đổi bởi Luật hình sự sửa đổi 1991 nay được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 5 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 5. Thay thế các điều sau đây thuộc "Phần các tội phạm" của Bộ luật hình sự:
...
3- Cụm từ "Điều 96a" tại khoản 1 Điều 168 (tội kinh doanh trái phép) ... được thay bằng cụm từ "185b, 185c, 185d và 185đ".

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 11 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Khoản này được sửa đổi bởi Luật hình sự sửa đổi 1991 nay được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 5 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được bổ sung Khoản 2 bởi Luật hình sự sửa đổi 1989 nay được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 12 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
12) Khoản 2 Điều 169 về tội trốn thuế được sửa đổi, bổ sung như sau:

"2. Phạm tội trốn thuế với số lượng rất lớn hoặc đã bị kết án nhưng chưa được xoá án về tội trốn thuế hoặc về một trong các tội quy định ở các điều 96a, 97, 165, 166, 167, 168, 173 và 183 hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm".

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
9- Điều 169 về tội trốn thuế được sửa đổi như sau:

"Điều 169. Tội trốn thuế

1. Người nào trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội trốn thuế với số lượng rất lớn hoặc đã bị kết án nhưng chưa được xoá án về tội trốn thuế hoặc về một trong các tội quy định ở các điều 96a, 97, 165, 166, 167, 168, 173 và 183 hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm."

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên ngành 06/TTLN năm 1996

Để góp phần đấu tranh có hiệu quả đối với các hành vi trốn thuế, nhằm chống thất thu thuế, bảo đảm các nguồn thu cho ngân sách Nhà nước; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ nội vụ thống nhất hướng dẫn xử lý tội trốn thuế như sau:

1- Theo khoản 1 Điều 169 Bộ luật hình sự thì người trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm là người phạm tội trốn thuế.

Chủ thể của tội trốn thuế có thể là:

- Cá nhân có đăng ký kinh doanh hoặc không có đăng ký kinh doanh; - Người của tổ chức tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước, cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức khác đã có chủ trương hoặc trực tiếp thực hiện việc trốn thuế.

2- Người trốn thuế với số lượng dưới 50 triệu đồng, nếu chưa bị xử lý hành chính về hành vi trốn thuế, thì chưa coi là phạm tội trốn thuế. Trường hợp này phải bị xử lý hành chính.

Người trốn thuế với số lượng dưới 50 triệu đồng, nhưng đã bị xử lý hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án nhưng chưa được xoá án về tội trốn thuế thì bị coi là phạm tội trốn thuế và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 169 Bộ luật hình sự.

3- Người trốn thuế với số lượng từ 50 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng thì bị coi là trốn thuế với số lượng lớn và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 169 Bộ Luật hình sự.

4- Người trốn thuế với số lượng từ 150 triệu đồng trở lên bị coi là phạm tội trốn thuế với số lượng rất lớn và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 169 Bộ Luật hình sự.

5- Người trốn thuế với số lượng từ 50 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng, nếu đã bị kết án nhưng chưa được xoá án về tội trốn thuế hoặc về một trong các tội quy định ở các Điều 96a, 97, 165, 166, 167, 168, 173 và 183 Bộ luật hình sự thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 169 Bộ Luật hình sự.

6- Trường hợp trốn thuế mà còn có hành vi phạm tội khác có liên quan đến việc trốn thuế như: đưa hối lộ, chống người thi hành công vụ v.v... thì coi là phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 169 Bộ luật hình sự; ngoài ra còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng theo quy định của Bộ Luật hình sự.

Người có trách nhiệm của Doanh nghiệp Nhà nước, cơ quan Nhà nước đã phạm tội trốn thuế mà còn có hành vi phạm tội liên quan đến số tiền thuế đáng lẽ phải nộp (chiếm đoạt, sử dụng trái nguyên tắc, chế độ quản lý kinh tế...) thì coi là phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 169 Bộ Luật hình sự; Ngoài ra còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng theo quy định của Bộ Luật hình sự.

7- Thông tư này có hiệu lực từ ngày ban hành và thay thế điểm 4 Thông tư số 11/TTLN ngày 20-11-1990 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp.

Đối với những hành vi trốn thuế đã thực hiện trước ngày ban hành Thông tư này mà việc điều tra, truy tố, xét xử chưa kết thúc hoặc sau ngày ban hành Thông tư này mới điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm, thì áp dụng Thông tư này để điều tra, truy tố, xét xử.

Đối với những bản án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày ban hành Thông tư này và vụ án đã được xét xử theo đúng hướng dẫn tại diểm 4 Thông tư số 11/TTLN ngày 20-11-1990 thì không áp dụng các hướng dẫn tại Thông tư này để kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm.

Trong quá trình thực hiện Thông tư này, nếu thấy có vướng mắc, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử cần báo cáo ngay cho Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Luật hình sự sửa đổi 1991 nay được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 5 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 5. Thay thế các điều sau đây thuộc "Phần các tội phạm" của Bộ luật hình sự:
...
3- Cụm từ "Điều 96a" tại ... khoản 2 Điều 169 (tội trốn thuế) được thay bằng cụm từ "185b, 185c, 185d và 185đ".

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.
...
10- Điều 169. được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 169. Tội trốn thuế.

1. Người nào trốn thuế với số lượng lớn hoặc bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Người nào trốn thuế với số lượng rất lớn hoặc phạm tội trong trường hợp tái phạm hay trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Xem nội dung VB
Điều này được bổ sung Khoản 2 bởi Luật hình sự sửa đổi 1989 nay được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 12 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên ngành 06/TTLN năm 1996
Điều này được sửa đổi bởi Luật hình sự sửa đổi 1991 nay được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 5 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 13 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
13) Điều 201 về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 201. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

1- Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tài sản, vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc có giá trị lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm".

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Chương 8 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 8: CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN, TRẬT TỰ CÔNG CỘNG VÀ TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
...
4. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 201).

Tội phạm này có nội dung rộng hơn nội dung của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản xã hội chủ nghĩa (hoặc tài sản của công dân) bị chiếm đoạt quy định tại hai Pháp lệnh ban hành ngày 21-10-1970.

“Tài sản do phạm tội mà có” nói trong Điều 201 không chỉ bao gồm tài sản xã hội chủ nghĩa hay tài sản của công dân bị chiếm đoạt, mà còn có tài sản do phạm tội ngoài hình thức chiếm đoạt mà có (như tài sản do hối lộ, đầu cơ, buôn lậu v.v…)

Đối với trường hợp cha mẹ phạm tội (như đầu cơ, buôn lậu…) có thu lợi bất chính, con cái đã thành niên biết rõ nguồn gốc của tài sản đó mà vẫn nhận của cho, hoặc cất dấu tài sản đó thì ngoài việc cha mẹ bị xử lý về hình sự và áp dụng biện pháp tư pháp tịch thu tang vật, con cái nói trên về nguyên tắc cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có. Tuy nhiên, đối với trường hợp này thì chỉ nên xử lý về hình sự trường hợp con chứa chấp, tiêu thụ tài sản có giá trị lớn hoặc nhiều lần với số lượng lớn mà biết võ là do cha mẹ phạm tội mà có.

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 13 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Chương 8 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Mục này được bổ sung bởi Khoản 14 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
14) Bổ sung một số điều mới như sau:

"Điều 205a. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc của công dân.

Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, quyền hội họp, lập hội hoặc các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm".

Xem nội dung VB
Mục này được bổ sung bởi Khoản 14 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được bổ sung bởi Khoản 17 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
17) Khoản 3 Điều 226 về tội nhận hối lộ được bổ sung như sau:

"3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình".

Xem nội dung VB
Khoản này được bổ sung bởi Khoản 17 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được sửa đổi bởi Điểm a Khoản 18 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
18) Điều 246 về tội che giấu tội phạm được sửa đổi, bổ sung như sau:

a) Đoạn 2 khoản 1 được bổ sung như sau:

"- Các điều từ 72 đến 85 về các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia; Điều 87 (tội chiếm đoạt máy bay, tầu thuỷ); Điều 94, khoản 2 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 95, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 96, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ); Điều 96a, khoản 2 và 3 (tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma tuý); Điều 97, khoản 2 và 3 (tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới); Điều 98 (tội làm tiền giả, tội tàng trừ, lưu hành tiền giả, tội phá huỷ tiền tệ)";

Xem nội dung VB
Nội dung này được sửa đổi bởi Điểm a Khoản 18 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Cụm từ này bị bãi bỏ bởi Điểm b Khoản 18 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
b) Bỏ các chữ "bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc" trong khoản 2.

Xem nội dung VB
Cụm từ này bị bãi bỏ bởi Điểm b Khoản 18 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 19 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
19) Đoạn 2 khoản 1 Điều 247 về tội không tố giác tội phạm được bổ sung như sau:

"- Các điều từ 72 đến 85 về các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia; Điều 87 (tội chiếm đoạt máy bay, tầu thuỷ); Điều 94, khoản 2 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 95, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 96, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ); Điều 96a, khoản 2 và 3 (tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma tuý); Điều 98 (tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá huỷ tiền tệ)".

Xem nội dung VB
Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 19 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1991 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần chung Bộ luật hình sự như sau:

1- Đoạn 1 Điều 23 về phạt tiền được bổ sung như sau:

"Phạt tiền được áp dụng đối với người phạm các tội có tính chất vụ lợi, tham nhũng, các tội có dùng tiền làm phương tiện hoạt động hoặc những trường hợp khác do luật quy định."

Xem nội dung VB
Nội dung này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần chung Bộ luật hình sự như sau:
...
3- Khoản 1 Điều 44 về án treo được sửa đổi như sau:

"1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm."

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Công văn 108/HĐNN7 năm 1987

Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có đề nghị Hội đồng Nhà nước giải thích ba vấn đề trong Bộ luật hình sự:

- Có trường hợp nào Tòa án có thể miễn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo không?

- Việc miễn trách nhiệm hình sự (quy định ở Điều 48 của Bộ luật hình sự) và quyền miễn tố của Viện kiểm sát nhân dân (quy định ở Điều 10 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân) khác nhau như thế nào?

- Người bị phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội có phải thực hiện một số nghĩa vụ về cải tạo không giam giữ và có thể bị khấu trừ một phần thu nhập để sung quỹ Nhà nước theo quy định ở Điều 24 không?

Hội đồng Nhà nước có ý kiến như sau:

1- Khoản 1, Điều 44 của Bộ luật hình sự quy định:

“Khi xử phạt tù không quá năm năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm”.

Theo tinh thần và lời văn của điều luật này, việc ấn định thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo là bắt buộc, bất kỳ trong trường hợp nào cũng không thể cho miễn thời gian thử thách.

Hơn nữa, việc áp dụng Điều 44 của Bộ luật còn liên quan đến việc áp dụng Điều 53 của Bộ luật. Theo Điều 53, người được hưởng án treo mà không phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì đương nhiên được xóa án. Nếu miễn thời gian thử thách cho người được hưởng án treo, thì việc đương nhiên xóa án đối với họ sẽ không có căn cứ để xác định.

Trong thực tế, cá biệt cũng có trường hợp tạm giam một thời gian rồi mới kết luận là không có hành vi phạm tội, hoặc có hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, hoặc bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo, hoặc bị phạt tù giam với thời hạn ít hơn thời gian đã bị tạm giam. Đối với những trường hợp này, các đồng chí Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Tư pháp và Bộ trưởng nội vụ cùng nhau nghiên cứu biện pháp giải quyết thích hợp để đề nghị Hội đồng Nhà nước ra văn bản quy định chung.

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Công văn 108/HĐNN7 năm 1987
- Khoản này được bổ sung bởi Khoản 3 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
3- Khoản 2 Điều 134 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa được bổ sung như sau:

"2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội."

Xem nội dung VB
Khoản này được bổ sung bởi Khoản 3 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được bổ sung bởi Khoản 4 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
4- Khoản 2 Điều 135 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa được bổ sung như sau:

"2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội."

Xem nội dung VB
Khoản này được bổ sung bởi Khoản 4 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
6- Khoản 1 Điều 142 về hình phạt bổ sung được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Người nào phạm một trong các tội quy định ở Điều 133, điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm d khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 137 và Điều 139 thì bị cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa từ hai năm đến năm năm."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 7 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
7- Khoản 1 Điều 163 về hình phạt bổ sung được sửa đổi như sau:

"1. Người nào phạm tội quy định ở Điều 156 thì bị cấm đảm nhiệm những chức vụ nhất định từ hai năm đến năm năm."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 7 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
8- Điều 167 về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 167. Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả

1. Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh, vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu;

b) Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội;

d) Hàng giả có số lượng lớn; thu lợi bất chính lớn;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
10- Điều 174 về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 174. Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Phạm tội vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác;

b) Phạm tội có tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm."

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 7 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 7: CÁC TỘI PHẠM VỀ KINH TẾ

1) Tội cố ý làm trái những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế của Nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 174)(1) có các dấu hiệu đặc trưng như:

- Chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn; người không có chức vụ, quyền hạn có thể là đồng phạm.

- Có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế do Nhà nước quy định: chủ thể biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật mà vẫn dùng chức vụ, quyền hạn để thực hiện.

Những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế phải do Hội đồng trưởng quy định. Nếu là quy định của các Bộ, các ngành hoặc của chính quyền địa phương thì phải đúng thẩm quyền, không được trái với quy định hiện hành của Hội đồng Bộ trưởng hoặc phải được Hội đồng Bộ trưởng ủy quyền.

Những quy định có tính chất chủ động, sáng tạo của địa phương và cơ sở phải phù hợp với pháp luật chung của Nhà nước và với những quy định về quản lý kinh tế của Hội đồng Bộ trưởng.

- Đã gây hậu quả nghiêm trọng, thể hiện bằng thiệt hại vật chất có thể tính toán được hậu quả về chính trị, làm hư hỏng cán bộ, lũng đoạn tổ chức, gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện kế hoạch Nhà nước, đến việc đảm bảo đời sống của nhân dân (hậu quả này khó có thể tính toán cụ thể một cách chính xác). Nếu chưa có hậu quả nghiêm trọng thì dấu hiệu “đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm” là bắt buộc. Đối với tội phạm này, xử lý hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hoặc cấp có thẩm quyền xử lý người cố ý làm trái như: phê bình, khiển trách, hạ tầng công tác…, hoặc kết luận bằng văn bản về hành vi cố ý làm trái, yêu cầu đình chỉ, khắc phục hậu quả…

- Có mục đích vụ lợi tức là thu vén cho lợi ích có tính chất cục bộ, địa phương chủ nghĩa, hoặc lợi ích cá nhân trái phép, gây hại cho lợi ích chung, rộng lớn theo quy định của Nhà nước. Vụ lợi khác với tư lợi ở chỗ tư lợi thường chỉ thu hẹp trong phạm vi lợi ích cá nhân.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 11 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.
...
11- Điều 174 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 174. Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.

1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế do Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 7 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 11 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 11 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
11- Khoản 3 Điều 185 về hình phạt bổ sung được sửa đổi, bổ sung như sau:

"3. Người nào phạm một trong các tội quy định ở các điều từ 164 đến 169, từ 172 đến 174, thì có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 11 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 14 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
14- Điều 224 về tội giả mạo trong công tác được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 224. Tội giả mạo trong công tác

1. Người nào trong khi thực hiện nhiệm vụ vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu, làm và cấp giấy tờ giả hoặc giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Người phạm tội là người có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy tờ, tài liệu;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng;

c) Phạm tội nhiều lần hoặc có tổ chức.

3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm."

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:
...
8. Điều 224 về tội giả mạo trong công tác được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 224. Tội giả mạo trong công tác

1- Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu;

b) Làm, cấp giấy tờ giả;

c) Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Người phạm tội là người có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy tờ, tài liệu;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 14 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 15 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
15- Điều 226 về tội nhận hối lộ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 226. Tội nhận hối lộ

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền của hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Của hối lộ có giá trị lớn;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Phạm tội nhiều lần;

e) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn.

3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình."

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:
...
9. Điều 226 về tội nhận hối lộ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 226. Tội nhận hối lộ

1- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm nhiều lần hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới ba mươi triệu đồng;

d) Biết rõ của hối lộ là tài sản xã hội chủ nghĩa;

đ) Phạm tội nhiều lần;

e) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 15 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được bổ sung bởi Khoản 16 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
16- Khoản 2 Điều 227 về tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ được bổ sung như sau:

"2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Của hối lộ có giá trị lớn;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Phạm tội nhiều lần;

e) Sử dụng công quỹ để đưa hối lộ."

Xem nội dung VB
Khoản này được bổ sung bởi Khoản 16 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nội dung này được sửa đổi bởi Điểm 1 Khoản 17 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
17- Điều 246 về tội che giấu tội phạm được sửa đổi, bổ sung như sau:

1. Đoạn 7 khoản 1 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"- Điều 165, khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 166, khoản 2 và 3 (tội buôn bán hàng cấm); Điều 167, khoản 2 và 3 (tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả); Điều 172, khoản 2 và 3 (tội chiếm đoạt tem, phiếu, tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu, giấy tờ giả dùng vào việc phân phối); Điều 174, khoản 2 và 3 (tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 221, khoản 2 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 226, khoản 2 và 3 (tội nhận hối lộ); Điều 227, khoản 2 và 3 (tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ)."

Xem nội dung VB
Nội dung này được sửa đổi bởi Điểm 1 Khoản 17 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Khoản này được sửa đổi bởi Điểm 2 Khoản 17 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
17- Điều 246 về tội che giấu tội phạm được sửa đổi, bổ sung như sau:
...
2. Khoản 2 được sửa đổi như sau:

"2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm."

Xem nội dung VB
Khoản này được sửa đổi bởi Điểm 2 Khoản 17 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Nọi dung này được sửa đổi bởi Khoản 18 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau:
...
18- Đoạn 6 khoản 1 Điều 247 về tội không tố giác tội phạm được sửa đổi, bổ sung như sau:

"- Điều 165, khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 172, khoản 2 và 3 (tội chiếm đoạt tem, phiếu, tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu, giấy tờ giả dùng vào việc phân phối); Điều 174 , khoản 2 và 3 (tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 221, khoản 2 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 226, khoản 2 và 3 (tội nhận hối lộ); Điều 227, khoản 2 và 3 (tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ)."

Xem nội dung VB
Nọi dung này được sửa đổi bởi Khoản 18 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:

1. Điều 133 về tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 133. Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa

1- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ 05 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc dưới 05 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm nhiều lần hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có sự thông đồng với người khác;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Có tổ chức;

b) Tài sản có giá trị từ 300 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;

c) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.''

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:
...
4. Điều 156 về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 156.Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân

1- Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng hoặc dưới năm triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm nhiều lần hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Tài sản có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Tài sản có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:
...
5. Điều 175 về tội lập quỹ trái phép được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 175. Tội lập quỹ trái phép

1- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn lập quỹ trái phép có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng và đã sử dụng quỹ đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Dùng thủ đoạn xảo quyệt để trốn tránh việc kiểm soát;

b) Để thực hiện tội phạm khác;

c) Quỹ trái phép có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm:

a) Quỹ trái phép có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Quỹ trái phép có giá trị từ một tỷ đồng trở lên;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 7 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:
...
7. Bổ sung Điều 221a "Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ" như sau:

"Điều 221a. Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

1- Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."

Xem nội dung VB
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 11 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:
...
11. Bổ sung Điều 228a "Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi" như sau:

"Điều 228a. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi

1- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm nhiều lần hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm, để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới ba mươi triệu đồng;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."

Xem nội dung VB
Chương này được bổ sung bởi Khoản 7 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Chương này được bổ sung bởi Khoản 11 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng như sau:
...
10. Điều 227 về tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 227. Tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ

1- Người nào đưa hối lộ hoặc làm môi giới hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới ba mươi triệu đồng;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Dùng tài sản xã hội chủ nghĩa để đưa hối lộ;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5- Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 1 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Phần này được bổ sung bởi Điều 2 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2. Bổ sung Chương VIIA "Các tội phạm về ma tuý" vào "Phần các tội phạm" của Bộ luật hình sự như sau:

"Điều 185a. Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý

1- Người nào trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy, đã được giáo dục nhiều lần, đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống và đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Tái phạm tội này.

Điều 185b. Tội sản xuất trái phép chất ma túy

1- Người nào sản xuất trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam;

e) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;

g) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam;

h) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm mươi mililít;

i) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm đ đến điểm h khoản 2 Điều này;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ một kilôgam đến dưới năm kilôgam;

c) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam;

d) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba trăm gam;

đ) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ hai trăm năm mươi mililít đến dưới bảy trăm năm mươi mililít ;

e) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm đ khoản 3 Điều này;

g) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm kilôgam trở lên;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên;

c) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ ba trăm gam trở lên;

d) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililít trở lên;

đ) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm d khoản 4 Điều này;

e) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 185c. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1- Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam;

e) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;

g) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới hai mươi lăm kilôgam;

h) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới hai trăm kilôgam;

i) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới năm mươi kilôgam;

k) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam;

l) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm mươi mililít;

m) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm đ đến điểm l khoản 2 Điều này;

n) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ một kilôgam đến dưới năm kilôgam;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ hai mươi lăm kilôgam đến dưới bảy mươi lăm kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ hai trăm kilôgam đến dưới sáu trăm kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới một trăm năm mươi kilôgam;

e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba trăm gam;

g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ hai trăm năm mươi mililít đến dưới bảy trăm năm mươi mililít;

h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 3 Điều này;

i) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm kilôgam trở lên;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ bảy mươi lăm kilôgam trở lên ;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ sáu trăm kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ một trăm năm mươi kilôgam trở lên;

e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ ba trăm gam trở lên;

g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililít trở lên;

h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 4 Điều này;

i) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 185d. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy

1- Người nào vận chuyển trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức ;

đ) Vận chuyển qua biên giới;

e) Sử dụng người chưa thành niên vào việc phạm tội;

g) Chất ma tuý có số lượng tương ứng được quy định tại một trong các điểm từ điểm đ đến điểm m khoản 2 Điều 185c;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Chất ma tuý có số lượng tương ứng được quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm h khoản 3 Điều 185c;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chất ma tuý có số lượng tương ứng được quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm h khoản 4 Điều 185c;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 185đ. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1- Người nào mua bán trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Thu lợi bất chính lớn;

e) Mua bán qua biên giới;

g) Sử dụng người chưa thành niên vào việc phạm tội;

h) Chất ma tuý có số lượng tương ứng được quy định tại một trong các điểm từ điểm đ đến điểm m khoản 2 Điều 185c;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Chất ma tuý có số lượng tương ứng quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm h khoản 3 Điều 185c;

c) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chất ma tuý có số lượng tương ứng được quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm h khoản 4 Điều 185c;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 185e. Tội chiếm đoạt chất ma túy

1- Người nào chiếm đoạt chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Có sử dụng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm;

e) Chất ma tuý có số lượng tương ứng được quy định tại một trong các điểm từ điểm đ đến điểm m khoản 2 Điều 185c;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Chất ma tuý có số lượng tương ứng được quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm h khoản 3 Điều 185c;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chất ma tuý có số lượng tương ứng được quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm h khoản 4 Điều 185c;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 185g. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy

1- Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Tiền chất có trọng lượng từ hai trăm gam đến dưới năm trăm gam;

e) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Tiền chất có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một nghìn hai trăm gam;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Tiền chất có trọng lượng từ một nghìn hai trăm gam trở lên;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều185h. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy

1- Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

e) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

g) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 185i. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1- Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên;

d) Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai;

đ) Đối với người đang cai nghiện;

e) Gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của người khác hoặc gây cố tật nặng cho người khác;

g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Gây chết người;

b) Gây tổn hại nặng cho sức khỏe của nhiều người hoặc gây cố tật nặng cho nhiều người;

c) Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người;

d) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

đ) Đối với trẻ em dưới 13 tuổi.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Gây chết nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

Điều 185k. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý

1- Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Đối với nhiều người;

d) Tái phạm nguy hiểm.

Điều 185l. Tội sử dụng trái phép chất ma tuý

1- Người nào sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, đã được giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Tái phạm tội này, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm.

Điều 185m. Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

1- Người nào cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Vì động cơ đê hèn;

d) Đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên;

đ) Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai;

e) Đối với nhiều người;

g) Đối với người đang cai nghiện;

h) Gây tổn hại nặng cho sức khỏe của người khác hoặc gây cố tật nặng cho người khác;

i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Gây chết người;

b) Gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của nhiều người hoặc gây cố tật nặng cho nhiều người;

c) Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người;

d) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

đ) Đối với trẻ em dưới 13 tuổi.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Gây chết nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

Điều 185n. Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác

1- Người nào có trách nhiệm trong việc sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán, vận chuyển, bảo quản, phân phối, cấp phát, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác mà vi phạm quy định về quản lý, sử dụng các chất đó, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Vì vụ lợi;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Điều 185(o). Hình phạt bổ sung

1- Người nào phạm tội quy định tại Điều 185a, thì có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Người nào phạm tội quy định tại Điều 185m hoặc Điều 185n, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

Người nào phạm một trong các tội quy định tại các điều từ Điều 185b đến Điều 185k, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

2- Người nào phạm một trong các tội quy định tại các điều từ Điều 185b đến Điều 185h hoặc Điều 185n, thì bị cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định từ hai năm đến năm năm.

3- Người nào phạm tội quy định tại Điều 185i, thì bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm."

Xem nội dung VB
Phần này được bổ sung bởi Điều 2 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 1, 2, 5 và Khoản 6 Điều 3 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 3. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về tội phạm tình dục đối với người chưa thành niên như sau:

1. Bổ sung Điều 112a "Tội hiếp dâm trẻ em" như sau:

"Điều 112a. Tội hiếp dâm trẻ em

1- Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Có tính chất loạn luân;

b) Làm nạn nhân có thai;

c) Gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của nạn nhân;

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Có tổ chức;

b) Nhiều người hiếp một người;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Gây tổn hại rất nặng cho sức khỏe của nạn nhân;

đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4- Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm và người phạm tội bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình."

2. Bổ sung Điều 113a "Tội cưỡng dâm người chưa thành niên" như sau:

"Điều 113a. Tội cưỡng dâm người chưa thành niên

1- Người nào cưỡng dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười ba năm:

a) Cưỡng dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

b) Có tính chất loạn luân;

c) Làm nạn nhân có thai;

d) Gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của nạn nhân;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây tổn hại rất nặng cho sức khoẻ của nạn nhân.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này."
...
5. Bổ sung Điều 202a "Tội mua dâm người chưa thành niên" như sau:

"Điều 202a. Tội mua dâm người chưa thành niên

1- Người nào mua dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm:

a) Mua dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng."

6. Bổ sung Điều 202b " Tội dâm ô đối với trẻ em" như sau:

"Điều 202b. Tội dâm ô đối với trẻ em

1- Người nào có hành vi dâm ô đối với trẻ em, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều trẻ em;

c) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm:

a) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng."

Xem nội dung VB
Chương này được bổ sung bởi Khoản 1, 2, 5 và Khoản 6 Điều 3 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 3 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 3. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự về tội phạm tình dục đối với người chưa thành niên như sau:
...
3. Điều 114 về tội giao cấu với người dưới 16 tuổi được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 114. Tội giao cấu với trẻ em

1- Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Có tính chất loạn luân;

c) Làm nạn nhân có thai;

d) Gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của nạn nhân.

3- Phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm."

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.
...
6- Điều 114 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 114. Tội giao cấu với người dưới 16 tuổi.

1. Người nào đã thành niên mà giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Giao cấu với nhiều người hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 3 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:

1. Điều 39 về những tình tiết tăng nặng được sửa đổi, bổ sung như sau:

" Điều 39. Những tình tiết tăng nặng

1- Chỉ những tình tiết sau đây mới được coi là tình tiết tăng nặng:

a) Phạm tội có tổ chức; xúi giục người chưa thành niên phạm tội;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

c) Lợi dụng chức vụ cao để phạm tội;

d) Phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác trong khi phạm tội hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

e) Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất, công tác hoặc các mặt khác;

g) Phạm tội vì động cơ đê hèn; cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

h) Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng;

i) Phạm tội nhiều lần; tái phạm; tái phạm nguy hiểm;

k) Sau khi phạm tội đã có những hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.

2- Những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:
...
2. Điều 100 về hình phạt bổ sung được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 100. Hình phạt bổ sung

1- Công dân Việt Nam phạm một trong các tội thuộc Mục A, thì bị tước một số quyền công dân từ một năm đến năm năm; phạm một trong các tội thuộc Mục B thì có thể bị tước một số quyền công dân từ một năm đến năm năm.

2- Công dân Việt Nam phạm một trong các tội thuộc Mục A hoặc một trong các tội quy định tại Điều 87, Điều 88, các điều từ Điều 94 đến Điều 99, thì bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

3- Người nào phạm một trong các tội quy định tại Điều 90 và Điều 91 trong trường hợp hình phạt chính không phải là phạt tiền, thì có thể bị phạt tiền theo mức đã quy định đối với mỗi tội.

Người nào phạm một trong các tội quy định tại các điều 88, 95, 96, 98 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng đến ba triệu đồng; phạm tội quy định tại Điều 97, thì bị phạt tiền đến mười lần trị giá hàng phạm pháp.

4- Người nào phạm một trong các tội thuộc Mục A, thì bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; phạm một trong các tội quy định tại Điều 88, các điều từ Điều 94 đến Điều 98, thì có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:
...
3. Điều 112 về tội hiếp dâm được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 112 . Tội hiếp dâm

1- Người nào dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác giao cấu với người khác trái ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Nhiều người hiếp một người;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Có tính chất loạn luân;

đ) Làm nạn nhân có thai;

e) Gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của nạn nhân;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây tổn hại rất nặng cho sức khoẻ của nạn nhân;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:
...
4. Điều 113 về tội cưỡng dâm được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 113 . Tội cưỡng dâm

1- Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Có tính chất loạn luân;

d) Làm nạn nhân có thai;

đ) Gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của nạn nhân;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười tám năm:

a) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:
...
5. Điều 118 về hình phạt bổ sung được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 118. Hình phạt bổ sung

1- Người nào phạm một trong các tội quy định tại các điều từ Điều 101 đến Điều 105 và tại các điều 107, 112, 112a, 113 và 113a, thì có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định từ hai năm đến năm năm.

2- Người nào phạm một trong các tội quy định tại các điều 101, 112a và 115, thì có thể bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:
...
6. Điều 134 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 134. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa

1- Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

d) Tài sản có giá trị lớn;

đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến mười tám năm:

a) Tài sản có giá trị rất lớn;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Tài sản có giá trị đặc biệt lớn;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.''

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 7 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:
...
7. Điều 137 về tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 137. Tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa

1- Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 7 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:
...
8. Điều 142 về hình phạt bổ sung được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 142. Hình phạt bổ sung

1- Người nào phạm một trong các tội quy định tại Điều 133, Điều 134a, điểm d khoản 2 Điều 135, Điều 137a và Điều 139, thì bị cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa từ hai năm đến năm năm.

2- Người nào phạm một trong các tội quy định tại các điều từ Điều 129 đến Điều 132, Điều 134 và Điều 135, nếu là tái phạm nguy hiểm, thì bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

3- Người nào phạm một trong các tội quy định tại Chương này, trừ các điều 136, 139 và 140, thì tuỳ theo tính chất nghiêm trọng của tội phạm mà có thể bị phạt tiền đến ba mươi triệu đồng và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt đó."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:
...
9. Điều 218 về hình phạt bổ sung được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 218. Hình phạt bổ sung

1- Người nào phạm một trong các tội quy định tại các điều từ Điều 186 đến Điều 191 và từ Điều 195 đến Điều 197, thì có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định từ hai năm đến năm năm .

2- Người nào phạm một trong các tội quy định tại các điều từ Điều 199 đến Điều 202, thì có thể bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

3- Người nào phạm một trong các tội quy định tại các điều từ Điều 199 đến Điều 202, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến năm triệu đồng và có thể bị tịch thu một phần tài sản."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:
...
10. Điều 229 về hình phạt bổ sung được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 229 . Hình phạt bổ sung

1- Người nào phạm một trong các tội quy định tại Chương này, thì có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ nhất định từ hai năm đến năm năm.

2- Người nào phạm một trong các tội quy định tại các điều 221, 221a và 224, thì có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Người nào phạm một trong các tội quy định tại các điều 226, 227, 228 và 228a, thì bị phạt tiền từ một đến năm lần giá trị của hối lộ hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 11 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:
...
11. Điều 246 về tội che giấu tội phạm được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 246. Tội che giấu tội phạm

1- Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong những tội phạm quy định tại các điều sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:

- Các điều từ Điều 72 đến Điều 85 về các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia; Điều 87 (tội chiếm đoạt máy bay, tàu thuỷ); Điều 94, khoản 2 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 95, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 96, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ); Điều 97, khoản 2 và 3 (tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới); Điều 98 (tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá huỷ tiền tệ);

- Điều 101 (tội giết người); Điều 112, khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 112a (tội hiếp dâm trẻ em); Điều 113a (tội cưỡng dâm người chưa thành niên); Điều 115, khoản 2 (tội mua bán phụ nữ);

- Điều 129 (tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 132, khoản 2 và 3 (tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 133, khoản 2, 3 và 4 (tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 134a, khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 137a, khoản 2 và 3 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 138, khoản 2 và 3 (tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa);

- Điều 149, khoản 2 (tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em);

- Điều 151 (tội cướp tài sản của công dân); Điều 152 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân); Điều 156, khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân);

- Điều 165, khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 166, khoản 2 và 3 (tội buôn bán hàng cấm); Điều 167, khoản 2 và 3 (tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả); Điều 172, khoản 2 và 3 (tội chiếm đoạt tem, phiếu, tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu, giấy tờ giả dùng vào việc phân phối); Điều 174, khoản 2 và 3 (tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 175, khoản 2, 3 và 4 (tội lập quỹ trái phép);

- Điều 185a, khoản 2 (tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý); Điều 185b (tội sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 185c (tội tàng trữ trái phép chất ma tuý); Điều 185d (tội vận chuyển trái phép chất ma tuý); Điều 185đ (tội mua bán trái phép chất ma tuý); Điều 185e (tội chiếm đoạt chất ma túy); Điều 185g (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 185h, khoản 2 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán, các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 185i (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 185k (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 185m (tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 185n (tội vi phạm quy định về quản lý và sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác);

- Điều 202a, khoản 2, 3 và 4 (tội mua dâm người chưa thành niên); Điều 202b, khoản 2, 3 và 4 (tội dâm ô đối với trẻ em);

- Điều 221, khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ); Điều 221a, khoản 2, 3 và 4 (tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 224, khoản 2, 3 và 4 (tội giả mạo trong công tác); Điều 226, khoản 2, 3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 227, khoản 2, 3 và 4 (tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ); Điều 228a, khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi);

- Điều 245, khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam).

2- Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm."

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 13 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 10: CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
...
13) Tội che giấu tội phạm (Điều 246). Tội không tố giác tội phạm (Điều 247).

Hai tội này đều gây khó khăn cho việc phát hiện điều tra và xử lý người phạm tội, được thực hiện do cố ý, nhưng có chỗ khác nhau.

Tội che giấu tội phạm thể hiện ở hành vi không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, cũng như các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, tức là đã bằng hành động tích cực nhằm che giấu một trong những tội phạm được liệt kê tại Điều 246 khoản 1. Hành vi che giấu tội phạm mà có hứa hẹn trước được coi là đồng phạm về một tội phạm cụ thể.

Tội không tố giác tội phạm thể hiện ở hành vi biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác (tức là bằng không hành động), một trong những tội được liệt kê tại Điều 247 khoản 1.

Chủ thể của hai tội phạm đều là do bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự; riêng đối với tội che giấu tội phạm, có thể là người lợi dụng chức vụ quyền hạn (Điều 246 khoản 2).

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 11 Điều 4 Luật hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 13 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 4 Luật Hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Bộ luật hình sự có liên quan như sau:
...
12. Điều 247 về tội không tố giác tội phạm được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 247. Tội không tố giác tội phạm

1- Người nào biết rõ một trong những tội phạm quy định tại các điều sau đây đang được chuẩn bị hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

- Các điều từ Điều 72 đến Điều 85 về các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia; Điều 87 (tội chiếm đoạt máy bay, tàu thuỷ); Điều 94, khoản 2 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 95, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 96, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ); Điều 98 (tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá huỷ tiền tệ);

- Điều 101 (tội giết người); Điều 112, khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 112a (tội hiếp dâm trẻ em); Điều 113a (tội cưỡng dâm người chưa thành niên);

- Điều 129 (tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 132, khoản 2 và 3 (tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 133, khoản 2, 3 và 4 (tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 134a, khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 137a, khoản 2 và 3 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 138, khoản 2 và 3 (tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa);

- Điều 151 (tội cướp tài sản của công dân); Điều 152 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân); Điều 156, khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân);

- Điều 165, khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 172, khoản 2 và 3 (tội chiếm đoạt tem, phiếu, tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu, giấy tờ giả dùng vào việc phân phối); Điều 174, khoản 2 và 3 (tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 175, khoản 2, 3 và 4 (tội lập quỹ trái phép);

- Điều 185a, khoản 2 (tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý); Điều 185b (tội sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 185c (tội tàng trữ trái phép chất ma tuý); Điều 185d (tội vận chuyển trái phép chất ma tuý); Điều 185đ (tội mua bán trái phép chất ma tuý); Điều 185e (tội chiếm đoạt chất ma túy); Điều 185g (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 185h, khoản 2 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán, các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 185i (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 185k (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 185m (tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 185n (tội vi phạm quy định về quản lý và sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác);

- Điều 202a, khoản 2, 3 và 4 (tội mua dâm người chưa thành niên); Điều 202b, khoản 2, 3 và 4 (tội dâm ô đối với trẻ em);

- Điều 221, khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ); Điều 221a, khoản 2, 3 và 4 (tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 224, khoản 2, 3 và 4 (tội giả mạo trong công tác); Điều 226, khoản 2, 3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 227, khoản 2, 3 và 4 (tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ); Điều 228a, khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi);

- Điều 245, khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam).

2- Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt."

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 13 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 10: CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
...
13) Tội che giấu tội phạm (Điều 246). Tội không tố giác tội phạm (Điều 247).

Hai tội này đều gây khó khăn cho việc phát hiện điều tra và xử lý người phạm tội, được thực hiện do cố ý, nhưng có chỗ khác nhau.

Tội che giấu tội phạm thể hiện ở hành vi không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, cũng như các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, tức là đã bằng hành động tích cực nhằm che giấu một trong những tội phạm được liệt kê tại Điều 246 khoản 1. Hành vi che giấu tội phạm mà có hứa hẹn trước được coi là đồng phạm về một tội phạm cụ thể.

Tội không tố giác tội phạm thể hiện ở hành vi biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác (tức là bằng không hành động), một trong những tội được liệt kê tại Điều 247 khoản 1.

Chủ thể của hai tội phạm đều là do bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự; riêng đối với tội che giấu tội phạm, có thể là người lợi dụng chức vụ quyền hạn (Điều 246 khoản 2).

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 4 Luật Hình sự sửa đổi 1997 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 13 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên ngành 02/TTLN năm 1986 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để khuyến khích những người bị kết án chấp hành nghiêm chỉnh bản án và cải tạo tốt, Bộ Luật Hình sự đã quy định việc xoá án trong những điều từ 52 đến 56 và Điều 67, có hai hình thức xoá án: đương nhiên xoá án và xoá án do Toà án quyết định. Người được xoá án được coi như chưa can án và được cấp giấy chứng nhận.

Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành việc xoá án như sau:
...
III. THỦ TỤC ĐƯƠNG NHIÊN XOÁ ÁN

1. Khi đã có đủ những điều kiện quy định trong các Điều 53 và 67 Bộ Luật Hình sự thì người đã bị kết án được đương nhiên xoá án tức là được coi như chưa can án. Toà án không phải cấp giấy chứng nhận cho tất cả những người được đương nhiên xoá án mà chỉ cấp giấy chứng nhận khi những người được xoá án yêu cầu.

2. Người muốn được cấp giấy chứng nhận xoá án phải nộp đơn tại Toà án đã xử sơ thẩm hoặc xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm tội phạm cũ của mình. Nếu Toà án đó đã giải thể (như: Toà án nhân dân đặc biệt trong cải cách ruộng đất; Toà án nhân dân đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh), thì nộp đơn tại Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Kèm theo đơn phải có những giấy tờ sau đây:

a. Giấy chứng nhận của Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi họ thường trú là họ đã không phạm tội mới trong thời gian mà pháp luật đã quy định để được xoá án (như: người được hưởng án treo phải không phạm tội mới trong thời gian thử thách; người bị hình phạt tù đến 5 năm phải không phạm tội mới trong thời gian 5 năm sau khi đã chấp hành xong các hình phạt và các quyết định khác của Toà án...).

b. Trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội, phạt giam, thì tuỳ từng trường hợp, phải có giấy tha sau khi đã hết thời hạn tù; giấy chứng nhận của Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc cơ quan, đơn vị kỷ luật của quân đội nơi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội; quyết định của Toà án giảm thời gian chấp hành hình phạt, v.v...

Nếu người bị kết án còn bị hình phạt bổ sung, thì tuỳ trường hợp phải có giấy tờ như: giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt quản chế hoặc cấm cư trú; biên lai nộp tiền phạt, v.v...

c. Nếu bản án có quyết định về bồi thường thì người bị kết án phải nộp những giấy tờ chứng minh đã bồi thường xong.

d. Biên lai nộp án phí.

3. Chánh án Toà án ký giấy chứng nhận xoá án và nếu cần thì phải tiến hành những biện pháp xác minh.

Giấy chứng nhận xoá án được cấp cho người đã được xoá án và sao gửi cho Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi người đó thường trú.

Nếu xét thấy người bị kết án chưa đủ điều kiện để được xoá án thì Chánh án Toà án trả lời cho người đó biết.

4. Người được cấp giấy chứng nhận xoá án phải nộp lệ phí là 20 đồng (*)

(*) Điểm này đã được sửa đổi tại Thông tư số 02-NCPL ngày 28-4-1989...

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư liên ngành 02/TTLN năm 1986 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Thông tư liên ngành 02/TTLN năm 1986 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để khuyến khích những người bị kết án chấp hành nghiêm chỉnh bản án và cải tạo tốt, Bộ Luật Hình sự đã quy định việc xoá án trong những điều từ 52 đến 56 và Điều 67, có hai hình thức xoá án: đương nhiên xoá án và xoá án do Toà án quyết định. Người được xoá án được coi như chưa can án và được cấp giấy chứng nhận.

Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành việc xoá án như sau:
...
IV. THỦ TỤC XOÁ ÁN DO TOÀ ÁN QUYẾT ĐỊNH

1. Việc xoá án do Toà án quyết định được áp dụng đối với những trường hợp quy định tại các Điều 54, 55 và 67 Bộ Luật Hình sự. Nếu người bị kết án có nhiều tiền án thì chỉ xoá án khi họ đã chấp hành xong tất cả các bản án và phải có đầy đủ điều kiện về thời gian không phạm tội mới đối với tất cả các bản án.

2. Người muốn xin xoá án phải làm đơn gửi cho Toà án đã xử sơ thẩm hoặc sơ thẩm đồng thời chung thẩm tội phạm cũ của mình và kèm theo đơn, phải có những giấy tờ chứng minh họ có đủ những điều kiện xoá án nói ở mục III nói trên. Đồng thời cũng phải có giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi họ thường trú về thái độ chấp hành chính sách, pháp luật và thái độ lao động của họ ở địa phương.

3. Chánh án kiểm tra những điều kiện được xoá án và nếu cần thì tiến hành những biện pháp xác minh. Nếu hồ sơ đầy đủ thì Chánh án chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát cùng cấp để Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến về người bị kết án có đủ điểu kiện được xoá án hay không. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện trưởng Viện Kiểm sát phải phát biểu ý kiện và gửi trả hồ sơ cho Toà án. Chánh án ra quyết định xoá án hoặc bác đơn xin xoá án. Quyết định xoá án phải gửi cho người bị kết án, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp, Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi người được xoá án thường trú. Trường hợp bác đơn xin xoá án thì phải nói rõ lý do.

4. Viện Kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, đối với quyết định xoá án. Nếu quyết định của Chánh án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có sai lầm thì có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

5. Người bị Toà án bác đơn xin xoá án lần đầu phải chờ một năm sau mới lại được xin xoá án. Nếu bị bác đơn lần thứ hai thì phải sau hai năm mới lại được xin xoá án. Những lần sau xin xoá án thì người đã bị kết án chỉ cần nộp thêm những giấy tờ chứng minh họ đã khắc phục những thiếu sót trước đây đã là nguyên nhân làm cho họ chưa được xoá án.

6. Người xin xoá án do Toà án quyết định phải nộp lệ phí là 30 đồng (*) khi nộp đơn xin xoá án.

(*) Điểm này, đã được sửa đổi tại Thông tư số 02-NCPL ngày 28-4-1989...

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Thông tư liên ngành 02/TTLN năm 1986 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được hướng dẫn bởi các Mục I, II, VI Thông tư liên ngành 02/TTLN năm 1986 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Để khuyến khích những người bị kết án chấp hành nghiêm chỉnh bản án và cải tạo tốt, Bộ Luật Hình sự đã quy định việc xoá án trong những điều từ 52 đến 56 và Điều 67, có hai hình thức xoá án: đương nhiên xoá án và xoá án do Toà án quyết định. Người được xoá án được coi như chưa can án và được cấp giấy chứng nhận.

Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành việc xoá án như sau:

I. NHỮNG BẢN ÁN NÀO ĐƯỢC XOÁ ÁN

Trước đây, Nhà nước ta chưa quy định thủ tục xoá án cho nên, xoá án được áp dụng đối với tất cả các bản án của các Toà án xử phạt về hình sự từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công cho đến nay, trừ những tội phạm được đại xá đã được thực hiện theo Thông tư số 413/TTg ngày 9-11-1954 của Thủ tướng Chính phủ.

II. NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC XOÁ ÁN

1. Theo Điều 53 Bộ Luật hình sự, thì người được miễn hình phạt được xoá án sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật và người được hưởng án treo được xoá án nếu không phạm tội mới trong thời gian thử thách(*). Tuy nhiên, cũng cần chú ý là người bị kết án cũng chỉ được xoá án khi đã chấp hành xong những quyết định khác của bản án như: án phí, phạt tiền, bồi thường thiệt hại (nếu có)... nếu chưa chấp hành xong thì người bị kết án chưa được xoá án mà chỉ được xoá án khi các quyết định đó của Toà án đã được chấp hành đầy đủ.

(*) Điểm này đã được sửa đổi tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Hình sự ngày 28-12-1989.

- Xem công văn số 140-NCPL ngày 5-7-1990 của Toà án nhân dân tối cao về việc xoá án đối với người được hưởng án treo...

2. Đối với những người bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ, cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội, tù có thời hạn được đương nhiên xoá án thì những điều kiện để được xoá án là:

a. Người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung (cấm cư trú, cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định; quản chế; tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản; phạt tiền khi không được áp dụng là hình phạt chính) và các quyết định khác của Toà án (bồi thường thiệt hại, án phí, v.v...).

b. Sau khi đã chấp hành xong bản án, người bị kết án đã không phạm tội mới trong thời hạn do pháp luật quy định.

- Tội mới phải được xác định bằng một bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật. Nếu người đã bị kết án đang bị truy tố về một tội mới, thì phải đợi vụ án được xử lý xong mà người bị truy tố không bị kết tội thì mới được xét việc xoá án.

- Thời hạn để xoá án căn cứ vào hình phạt chính được tuyên trong bản án có hiệu lực pháp luật nhưng nếu cấp giám đốc thẩm đã giảm nhẹ hình phạt, thì căn cứ vào quyết định của cấp giám đốc thẩm. Thời hạn để xoá án được quy định tại Điều 53 (khoản 2) và Điều 54 (khoản 1) Bộ Luật Hình sự. Thời hạn để xoá án đối với người chưa thành niên bị kết án là một nửa thời hạn quy định đối với người thành niên (Điều 67 Bộ Luật Hình sự).

- Trong trường hợp đặc biệt người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt (như: thường xuyên lao động nghiêm chỉnh, có năng suất cao...) đã lập công và được cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội đề nghị thì Toà án có thể xoá án nếu người đó đảm bảo được từ 1/3 đến 1/2 thời hạn xoá án nói trên (Điều 55 Bộ Luật Hình sự).

3. Riêng đối với những trường hợp xoá án phải do Toà án quyết định, thì ngoài những điều kiện nói ở điểm 2, người bị kết án còn phải có thái độ chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chính sách và tích cực lao động cải tạo (nếu có khả năng lao động) ở địa phương. Tuy nhiên, chỉ coi là không chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật, những trường hợp đã bị xử phạt hành chính về những hành vi phạm pháp nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm về hình sự mà không chịu sửa chữa. Đối với những trường hợp chỉ là việc vi phạm nhỏ nhặt thì không nên căn cứ vào đó mà không cho xoá án.
...
VI. HẬU QUẢ CỦA VIỆC XOÁ ÁN

Người được xoá án coi như chưa can án. Vì vậy, sau khi cấp giấy chứng nhận xoá án hoặc sau khi Toà án ra quyết định xoá án thì trong những giấy tờ về căn cước, lý lịch cấp cho họ, phải ghi là "chưa can án".

Người đã được xoá án mà sau lại phạm tội mới thì không được căn cứ vào những tiền án đã được xoá án mà coi như là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch 03/TTLN năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Việc xóa án theo quy định tại các điều từ 52 đến 56 và điều 67 Bộ luật hình sự đã được hướng dẫn trong Thông tư liên ngành số 02-TTLN ngày 1-8-1986 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ. Thông tư này phù hợp với các quy định tại chương XXVIII Bộ luật tố tụng hình sự nên vẫn được tiếp tục thi hành. Nay liên ngành hướng dẫn bổ sung một số điểm như sau:

1- Xóa án đối với những người bị xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm

Chánh án Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét, quyết định và cấp giấy chứng nhận cho những người bị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm. Đối với những người bị Tòa án quân sự cấp cao xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm thì việc xóa án do Chánh án Tòa án quân sự cấp cao giải quyết.

2- Việc xóa án đối với người chưa thành niên phạm tội

Việc xóa án quy định tại khoản 2 điều 67 Bộ luật hình sự và điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự được áp dụng đối với người phạm tội khi chưa thành niên (dưới 18 tuổi). Do đó, nếu khi xét việc xóa án, người bị kết án đã thành niên (18 tuổi trở lên) thì vẫn áp dụng điều 67 Bộ luật hình sự đối với họ.

3- Việc xóa án đối với người đã chết

Đối với người bị kết án đã chết thì việc xóa án không đặt ra, vì xóa án chỉ có ý nghĩa trong việc xem xét tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm khi người đó phạm tội mới. Do vậy nếu thân nhân của người bị kết án đã chết xin xóa án cho người đã chết, thì Tòa án cần giải thích về ý nghĩa của việc xóa án và trả lại đơn xin xóa án cho họ.

4- Việc xóa án trong trường hợp Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm đã giải thể, đã tách ra thành các Tòa án khác nhau hoặc đã nhập với Tòa án khác

a) Nếu Tòa án xử sơ thẩm hoặc sơ thẩm đồng thời là chung thẩm đã giải thể thì Chánh án Tòa án đã tiếp nhận nhiệm vụ của Tòa án đã giải thể có trách nhệm giải quyết việc xóa án.

Trong trường hợp Tòa án đã giải thể, nhưng không rõ Tòa án nào đã tiếp nhập nhiệm vụ của Tòa án đó, thì Chánh tòa Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao giải quyết việc xóa án (nếu Tòa án đã giải thể là Tòa án nhân dân) hoặc Chánh án Tòa quân sự cấp cao giải quyết việc xóa án (nếu Tòa án đã giải thể là Tòa án quân sự).

b) Nếu Tòa án xử sơ thẩm đã tách ra thành các tóa án khác nhau, thì Tòa án giải quyết việc xóa án là Tòa án ở địa phương được tách ra, nơi người bị kết án thường trú. Nếu người bị kết án không thường trú ở một trong các địa phương được tách ra thì việc xóa án do một trong số các Tòa án đã tách ra giải quyết và trong trường hợp này, nếu Tòa án bác đơn xin xóa án thì quyết định bác đơn phải được gửi cho Tòa án khác đã cùng tách ra để đề phòng trường hợp người bị bác đơn lại xin xóa án ngay ở Tòa án khác đó.

c) Nếu Tòa án đã xử sơ thẩm đã nhập với Tòa án khác, thì Tòa án nơi Tòa án đó nhập vào có trách nhiệm giải quyết việc xóa án.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi các Mục I, II, VI Thông tư liên ngành 02/TTLN năm 1986 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch 03/TTLN năm 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 1 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.

Chương 1: CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA

Các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia được quy định tại mục A có dấu hiệu bắt buộc chung “nhằm chống chính quyền nhân dân”, tương ứng với dấu hiệu “nhằm mục đích phản cách mạng” của các tội phản cách mạng được quy định tại các văn bản pháp luật trước đây.

Các tội khác xâm phạm an ninh quốc gia được quy định tại mục B không có dấu hiệu bắt buộc chung như ở mục A, nhưng cũng rất nguy hiểm cho an ninh quốc gia.

1. Tội phản bội Tổ quốc (Điều 72).

Chủ thể của tội phạm này là công dân Việt Nam, tức là người có quốc tịch Việt Nam.

Hành vi “câu kết với nước ngoài” được thể hiện như: bàn bạc với người nước ngoài về mưu đồ chính trị và các mặt khác (như: kế hoạch, tổ chức, hình thức hoạt động…); nhận sự giúp đỡ của nước ngoài (như: tiền của, vũ khí hoặc mọi lợi ích vật chất khác…) hoạt động dựa vào thế lực nước ngoài hoặc tiếp tay cho nước ngoài.

Hành vi cấu kết với nước ngoài có mục đích nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cuối cùng là nhằm thay đổi chế độ chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước, lật đổ chính quyền nhân dân.

Ba dấu hiệu nói trên (công dân Việt Nam câu kết với nước ngoài và mục đích của tội phạm) gắn liền với nhau là căn cứ để phân biệt với một số tội phạm như: tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, có trường hợp còn hoạt động gián điệp hoặc trốn đi nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân như:

Công dân Việt Nam câu kết với nước ngoài, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị xử lý về “tội phản bội Tổ quốc” (Điều 72). Về mặt khách quan, tội “phản bội Tổ quốc đã bao gồm hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, có trường hợp còn hoạt động gián điệp hoặc trốn đi nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân. Vì vậy, người phạm tội phản bội Tổ Quốc không bị xử lý thêm về các tội đó.

Công dân Việt Nam thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, có bàn bạc với nhau, tìm cách liên hệ với nước ngoài, nhằm được nước ngoài giúp đỡ, nhưng thực tế chưaliên hệ được với nước ngoài, chưa coi là cấu kết với nước ngoài, thì bị xử lý về “tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (Điều 73).

Công dân Việt Nam được nước ngoài tổ chức, huấn luyện, gây cơ sở để hoạt động tình báo (điều tra, thu thập tin tức bí mất của Nhà nước, bí mật về quân sự v.v… cung cấp cho nước ngoài), phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài, hoặc thu thập cung cấp tin tức, tài liệu không thuộc bí mất Nhà nước để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị xử về “tội gián điệp” (Điều 74).

Công dân Việt Nam trốn đi nước ngoài với mưu đồ dựa vào nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân, nhưng trên đường đi đã bị bắt (tức là chưa đến mức “câu kết với nước ngoài”), thì bị xử lý về “tội trốn đi nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân” (Điều 75).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 1 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 1 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.

Chương 1: CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA

Các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia được quy định tại mục A có dấu hiệu bắt buộc chung “nhằm chống chính quyền nhân dân”, tương ứng với dấu hiệu “nhằm mục đích phản cách mạng” của các tội phản cách mạng được quy định tại các văn bản pháp luật trước đây.

Các tội khác xâm phạm an ninh quốc gia được quy định tại mục B không có dấu hiệu bắt buộc chung như ở mục A, nhưng cũng rất nguy hiểm cho an ninh quốc gia.
...
2. Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (Điều 79)

- Cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là kho tàng, xí nghiệp, máy móc, thương binh, vật tư, sản phẩm, trụ sở cơ quan, hoặc các tài sản xã hội chủ nghĩa khác v.v… về an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công trình văn hóa, nghệ thuật.

- Hành vi “phá hoại” thể hiện dưới nhiều hình thức như: đốt phá, gây nổ hoặc mọi thủ đoạn khác làm cho những cơ sở nói trên mất hoàn toàn hoặc mất một phần giá trị sử dụng nhằm chống chính quyền nhân dân.

- Đối tượng của tội phạm này (cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội) và đối tượng của tội phạm quy định ở Điều 94 (các công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia) trong chừng mực nào đó có thể giống nhau, nên phải căn cứ vào mặt chủ quan: nếu hành vi đó nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân thì thuộc về “tội quy định ở Điều 79”; nếu không có mục đích trên, thì thuộc về “tội quy định ở Điều 94”.

Ngoài ra, cần chú ý là trong trường hợp phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 73), tội gián điệp (Điều 74), tội bạo loạn (Điều 75) mà có hành vi phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thì không xử lý thêm về tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (Điều 79), mà xử lý về một trong các tội tương ứng nói trên; hành vi phá hoại được coi là một biêẻu hiện của tội phạm để xác định tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội và vận dung khung hình phạt quy định trong điều luật.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 1 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Chương 1 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.

Chương 1: CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA

Các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia được quy định tại mục A có dấu hiệu bắt buộc chung “nhằm chống chính quyền nhân dân”, tương ứng với dấu hiệu “nhằm mục đích phản cách mạng” của các tội phản cách mạng được quy định tại các văn bản pháp luật trước đây.

Các tội khác xâm phạm an ninh quốc gia được quy định tại mục B không có dấu hiệu bắt buộc chung như ở mục A, nhưng cũng rất nguy hiểm cho an ninh quốc gia.
...
3. Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 94)

- Hành vi “phá hủy” quy định ở điều luật này có nội dung giống với hành vi “phá hoại” (ở Điều 79), nhưng khác ở chỗ tội phạm không có dấu hiệu “nhằm chống chính quyền nhân dân”, mà chỉ vụ lợi hoặc bất mãn cá nhân.

- Đối tượng của tội phạm này (cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội) va đối tượng của tội phạm quy định ở Điều 94 (các công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia) trong chừng mực nào đó có thể giống nhau, nên phải căn cứ vào mặt chủ quan: nếu hành vi đó nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân thì thuộc về “tội quy định ở Điều 79”; nếu không có mục đích trên, thì thuộc về “tội quy định ở Điều 94”.

Ngoài ra, cần chú ý là trong trường hợp phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 73), tội gián điệp (Điều 74), tội bạo loạn (Điều 75) mà có hành vi phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thì không xử lý thêm về tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (Điều 79), mà xử lý về một trong các tội tương ứng nói trên; hành vi phá hoại được coi là một biểu hiện của tội phạm để xác định tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội và vận dụng khung hình phạt quy định trong điều luật.
3. Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 94)

- Hành vi “phá hủy” quy định ở điều luật này có nội dung giống với hành vi “phá hoại” (ở Điều 79), nhưng khác ở chỗ tội phạm không có dấu hiệu “nhằm chống chính quyền nhân dân”, mà chỉ vụ lợi hoặc bất mãn cá nhân.

- Đối tượng của tội phạm này (cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội) va đối tượng của tội phạm quy định ở Điều 94 (các công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia) trong chừng mực nào đó có thể giống nhau, nên phải căn cứ vào mặt chủ quan: nếu hành vi đó nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân thì thuộc về “tội quy định ở Điều 79”; nếu không có mục đích trên, thì thuộc về “tội quy định ở Điều 94”.

Ngoài ra, cần chú ý là trong trường hợp phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 73), tội gián điệp (Điều 74), tội bạo loạn (Điều 75) mà có hành vi phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thì không xử lý thêm về tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (Điều 79), mà xử lý về một trong các tội tương ứng nói trên; hành vi phá hoại được coi là một biểu hiện của tội phạm để xác định tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội và vận dụng khung hình phạt quy định trong điều luật.

3. Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 94)

- Hành vi “phá hủy” quy định ở điều luật này có nội dung giống với hành vi “phá hoại” (ở Điều 79), nhưng khác ở chỗ tội phạm không có dấu hiệu “nhằm chống chính quyền nhân dân”, mà chỉ vụ lợi hoặc bất mãn cá nhân.

- Đối tượng của tội phạm này là công trình hoặc phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc, hệ thống tải điện, dẫn chất đốt, công trình thủy lợi hoặc công trình quan trọng khác về an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa xã hội, tức là tài sản xã hội chủ nghĩa có giá trị sử dụng đặc biệt quan trọng, không đơn thuần tính thiệt hại về mặt giá trị vật chất.

Hành vi nói trên xâm phạm các tài sản xã hội chủ nghĩa khác, không nhằm chống chính quyền nhân dân thì bị xử lý về “tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa” (Đều 138).

“Tài sản xã hội chủ nghĩa có giá trị sử dụng đặc biệt quan trọng” ở điều 94 do tính chất, tính năng, tác dụng và vị trí quan trọng của nó về mặt chính trị, kinh tế - xã hội, nên khác với “tài sản có giá trị lớn” ở các điều luật thuộc Chương VI (các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa).

- Đối tượng của tội phạm quy định ở Điều 94 có vị trí rất quan trọng về mặt chính trị và kinh tế - xã hội. Vì vậy, không nên phân biệt đường dây hạ thế trong hệ thống tải điện… để phân biệt các tội phạm khác nhau.

Nói chung, mọi hành vi cắt trộm đường dây thông tin - liên lạc (điện thoại hoặc truyền thanh), đường dây tải điện đang vận hành hoặc đăng mắc dở dang để chuẩn bị vận hành mà không có mục đích chống chính quyền nhân dân, đều cấu thành tội phạm quy định ở Điều 94. Có thể xem xét ở vị trí quan trọng cụ thể của từng loại đường dây ở từng nơi, từng lúc, kết hợp với tình tiết về thân nhân người phạm tội mà lượng hình cho sát hợp. Đối với trường hợp phạm tội tập trung nhiều tình tiết giảm nhẹ, có thể căn cứ khoản 3 Điều 38 và Điều 44 để vận dụng đường lối xử lý cho thích hợp.

Đối với trường hợp cắt trộm đường dây có mức độ nguy hiểm hạn chế (như: người phạm tội biết rõ là đường dây không sử dụng nữa, đường dây điện thoại vào nhà tư nhân, đường dây dẫn điện phục vụ sinh hoạt của một số hộ gia đình, đường dây truyền thanh của xã ở thời điểm không có nhu cầu khẩn trương…) thì xử lý về “tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa” (Điều 138). Đối với trường hợp chiếm đoạt thiết vị phục vụ đường đây để trong kho hay ở công trường, thì xử lý theo Điều 133 về “tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa” (nếu có lợi dụng chức vụ, quyền hạn) hoặc theo Điều 133 về “tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa” (nếu không có lợi dụng chức vụ, quyền hạn).

+ Hậu quả đặc biệt nghiêm trong quy định ở khoản 2 điểm b thể hiện như công trình hoặc phương tiện có giá trị đặc biệt quan trọng, đặc biệt lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa và xã hội của đất nước, bị phá hủy, gây thiệt hại lớn về vật chất hoặc gây ảnh hưởng chính trị rất xấu (như: phá hủy hệ thống đường dây thông tin - liên lạc quan trọng đang được sử dụng trong chiến dịch quân sự, chiến dịch phòng, chống bão lụt hoặc ở thời điểm có những nhiệm vụ khẩn trương, cấp bách…).

+ Hành vi “phá hủy công trình hoặc phương tiện giao thông vận tải” (Điều 94) giống với hành vi: “đào, phá công trình giao thông…” (Điều 187 tội cản trở giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng) ở chỗ cả hai tội đều không có mmdi chống chính quyền nhân dân.

Nhưng hai tội này khác nhau ở chỗ: Đối với tội phá hủy… (Điều 94), hành vi được thực hiện cố ý và hậu quả của tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc (như hành vi đóng đinh dài ở chỗ tiếp giáp hai đoạn đường ray nhưng xe lửa không trật bánh hoặc đổ). Đối với tội cản trợ giao thông vận tài gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 187), đối tượng của tội phạm có tính chất quan trọng thấp hơn đối tượng của tội phạm “phá hủy…” hành vi là do cố ý, bị cáo không muốn hậu quả xảy ra nhưng hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc (như: cắt ngang đường giao thông quốc lộ để thoát nước nhưng không có biện pháp báo hiệu, phòng ngừa cần thiết, gây nên tai nạn làm xe chở hành khác bị lật đổ, nhiều người chết và bị thương).


Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Chương 1 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, NHÂN PHẨM, DANH DỰ CON NGƯỜI

1) Tội giết người (Điều 101)

a) Một số tình tiết thể hiện tính nguy hiểm cao của tội phạm (ở khoản 1)

+ Giết người vì động cơ đê hèn (điểm a) như giết người vì tính ích kỷ cao, phản trắc, bội bạc (ví dụ: giết người để cướp vợ hoặc chồng nạn nhân; giết tình nhân đã có thai với mình để trốn tránh trách nhiệm; giết người đã cho vay, giúp đỡ khắc phục khó khăn, hoạn nạn nhằm trốn nợ v.v…).

+ Giết người để thực hiện hoặc để che giấu tội phạm khác: động cơ “để thực hiện hoặc để che giấu tội phạm khác” là tình tiết định khung của tội giết người quy định ở Điều 101, khoản 1, điểm a. Còn “tội phạm khác” có thể là tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng (theo Điều 8 khái niệm tội phạm) cần được xử lý theo một tội danh riêng.

Nếu “tội phạm khác” cần xét xử, thì xét xử về hai tội (tội giết người và “tội phạm khác”), quyết định hình phạt đối với từng tội phạm (tuần tự theo thời gian thực hiện) rồi tổng hợp thành hình phạt chung, như hiếp dâm xong rồi giết nạn nhân để che giấu tội phạm thì bị xử lý về tội hiếp dâm (Điều 122) và tội giết người (Điều 101, khoản 1, điểm a).

Nếu “tội phạm khác” có tính chất, mức độ nguy hiểm hạn chế (như: tội phạm chưa đạt, hậu quả chưa xảy ra hoặc không đáng kể…), mà xét thấy không cần thiết phải xử lý về hình sự thì có thể không xét xử về tội phạm đó, nhưng phải phân tích trong bản án.

+ Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội nghiêm trọng khác là tình tiết định khung của tội giết người theo Điều 101, khoản 1, điểm e. “Liền trước đó” hoặc “ngay sau đó” là vừa kết thúc tội phạm trước đã thực hiện ngay tội phạm sau. Người phạm tội có tính nguy hiểm cao (trong một thời gian rất ngắn phạm hai tội nghiêm trọng) phải bị xử lý về hai tội (tội giết người theo Điều 101, khoản 1, điểm e và tội nghiêm trọng khác). Hình phạt được quyết định đối với mỗi tội phạm và tổng hợp thành hình phạt chung.

+ Việc định tội đối với một số trường hợp vừa có hành vi chiếm đoạt tài sản, vừa có hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe người khác. Đối với hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản (tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản của công dân) hoặc gây chết người (tức là cố ý về hành vi và vô ý về hậu quả), thì xử lý về “tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa” (theo điều 129, khoản 2, điểm c) hoặc về “tội cướp tài sản của công dân” (theo Điều 151, khoản 2, điểm c). Thí dụ: hành vi đột nhập vào nhà một công dân, đánh, trói, gây thương tích nặng cho chủ nhà nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân, thì xử lý theo Điều 151, khoản 2, điểm c. Hành vi đột nhập vào khu vực kho của một xí nghiệm, đánh, trói, nhét giẻ vào miệng thủ kho nhằm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và làm cho thủ kho bị chết vì ngạt thở, thì bị xử lý theo Điều 129, khoản 2, điểm c (gây thương tích nặng, gây tổn thất nặng cho sức khỏe hoặc gây chết người).

Đối với hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản mà giết người chủ sở hữu hay người quản lý tài sản, giết người chống cự lại, hoặc bắn trả người đuổi bắt, thì xử lý về “tội giết người” và “tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa” hoặc “tội cướp tài sản của công dân”.

+ Thực hiện tội giết người một cách man rợ (điểm b) như kẻ phạm tội không còn tính người, dùng những thủ đoạn gây đau đớn cao độ, gây khiếp sợ đối với nạn nhân hoặc gây khủng khiếp, rùng rợn trong xã hội (như: móc mắt, xẻo thịt, moi gan, chặt người ra từng khúc…).

+ Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân (điểm e). Công vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một người thực hiện.

Người thực hiện một công việc vì nghĩa vụ công dân (như bắt giữ kẻ phạm tội đang chạy trốn) tuy không phải là người thi hành công vụ, nhưng nếu do công việc đó mà họ bị giết, thì họ có thể được hưởng chính sách bảo hiểm xã hội như đối với người thi hành công vụ và hành vi của kẻ giết người đó cũng bị xử lý theo Điều 101, khoản 1, điểm e.

Kẻ giết người có thể thực hiện tội phạm khi nạn nhân sắp thi hành công vụ hoặc đang thi hành công vụ để cản trở họ thi hành công vụ, hoặc giết người đã thi hành công vụ để trả thù hoặc để đe dọa người khác.

b) Một số tình tiết định khung hình phạt nhẹ:

+ Giết người trong tình trạng bị kích động mạnh - do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó. Đây là khung hình phạt giảm nhẹ (khoản 3).

- Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình. Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người. Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh.

Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó tuy làm cho người phạm tội bị kích động mạnh, nhưng nói chung chưa đến mức là phạm tội. Nếu hành vi trái pháp luật đó trực tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc lợi ích hợp pháp của người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội hoặc của xã hội, đã cấu thành tội phạm, thì hành vi chống trả lại gây chết người có thể được xem là trường hợp phòng vệ chính đáng (theo Điều 13) hoặc do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (theo Điều 102).

Trong trường hợp cá biệt hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân cấu thành tội phạm nhưng là tội phạm ít nghiêm trọng (như tội làm nhục người khác, tội vu khống) thì cũng được coi là giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh và được xử lý theo Điều 101, khoản 3. Thí dụ: hai anh em đồng hao ở chung nhà bố mẹ vợ, người anh thường xuyên làm nhục thô bạo và trắng trợn vu khống người em, đến thời điểm nào đó lại lăng nhục người em nên người anh bị em giết.

Đối với trường hợp người dùng chất say (uống rượu) hoặc chất kích thích mạnh khác mà bị say, nhân có hành vi trái pháp luật không nghiêm trọng của nạn nhân mà thực hiện hành vi giết người, thì không coi là trường hợp phạm tội do bị kích động mạnh. Phải tùy theo hoàn cảnh, tính chất và mức độ sai trái của hành vi do nạn nhân thực hiện cũng như các tình tiết khác của vụ án, mà xử lý theo điều 101 về tội giết người.

- Để có thể xác định tinh thần của người phạm tội có bị kích động mạnh hay không và để phân biệt giữa “kích động” với “kích động mạnh”, cần xem xét một cách khác quan, toàn diện các mặt: thời gian, hoàn cảnh, địa điểm, diễn biến, nguyên nhân sâu xa và trực tiếp của sự việc; mối quan hệ giữa nạn nhân với người phạm tội, trình độ văn hóa, chính trị, tính tình, cá tính của mỗi bên: mức độ nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân với tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội.

+ Giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết (khoản 4). Đây là một tội phạm có cấu thành giảm nhẹ đặc biệt, cần được vận dụng thận trọng và chặt chẽ.

Con mới đẻ là đứa trẻ mới sinh ra trong bảy ngày trở lại.

- Chủ thể của tội phạm này chỉ là người mẹ sinh ra đứa trẻ. Người mẹ này chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu (như: khiếp sợ trước dư luận chê bai về việc mang thai và đẻ con ngoài giá thú, hoặc trước dư lận khắc nghiệt của nhà chồng cho đẻ con gái là tai họa v.v…) hoặc bị hoàn cảnh khác quan đặc biệt chi phối (như: đứa trẻ sinh ra có dị dạng…). Người xúi giục bị cáo về tội giết con mới đẻ bị xử lý là đồng phạm tội này.

Người không phải là mẹ của đứa trẻ mới đẻ mà giết đứa trẻ đó, thì bị xử lý vệ tội giết người (theo điều 101, khoản 1 hoặc 2).

+ Hành vi giết người vì mê tín (như cho người khác có ma chài…) không được quy định cụ thể ở Điều 101. Theo thực tiễn xét xử, có thể vận dụng như sau: nếu người thực hiện hành vi giết người thực sự mê tín, lạc hậu, thì xử lý theo Điều 101 khoản 2 và điều 38 khoản 1 điểm g (phạm tội do trình độ lạc hậu); nếu người phạm tội do lợi dụng mê tín để giết người vì động cơ đê hèn, thì xử lý theo Điều 101, khoản 1 điểm a.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, NHÂN PHẨM, DANH DỰ CON NGƯỜI
...
2. Tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 103).

Điều luật quy định tội phạm của người thi hành công vụ mà làm chết người, gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khỏe người khác, do sử dụng vũ khí ngoài những trường hợp pháp luật cho phép (theo Nghị định số 94/HĐBT ngày 2-7-1984).

- Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nghiệp vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nghiệp vụ (như: tuần tra, canh gác…) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội.

Vũ khí quy định ở điều luật là súng đạn các loại (súng quân dụng(*) súng thể thao quốc pòng) được giao cho người có quyền sử dụng.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, nếu công dân vì lợi ích chung của xã hội mà sử dụng một thứ công cụ nào đó (như: dao, gậy, đòn gánh…) để giúp sức người thi hành công vụ ngăn chặn hoặc đuổi bắt người phạm tội, do đó, xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác thì cũng được coi là phạm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (theo Điều 103).

Nếu họ thực hiện hành vi nói trên do hống hách, coi thường tính mạng, sức khỏe người khác mà sử dụng vũ khí một cách bừa, ẩu hoặc do tư thù cá nhân, thì tùy tình hình của sự việc mà xử lý “theo Điều 101 về tội giết người” trong trường hợp thông thường (nếu gây chết người) hoặc về “tội cố ý gây thương tích theo Điều 109” (nếu gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác), đồng thời có xem xét hoàn cảnh và động cơ phạm tội để cân nhắc tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết giảm nhẹ trong khung của điều luật được áp dụng.

Nạn nhân của hành vi phạm tội này là những người mà người thi hành công vụ sử dụng vũ khí nhằm bắt giữ hoặc ngăn chặn hành vi phạm pháp (như: người đang đánh bạc chạy trốn khi thấy công an đến bắt) hoặc là công dân bình thường bị người thi hành công vụ xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe (như người đi ngang đường bị người thi hành công vụ bắn lạc đạc).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, NHÂN PHẨM, DANH DỰ CON NGƯỜI
...
3. Tội vô ý làm chết người (Điều 104). Hành vi vô ý gây thiệt hại đến tính mạng của người khác do vi phạm một quy định hành chính cụ thể (các Điều 186, 187, 188…)

- Hành vi do cẩu thả hoặc quá tự tin mà làm chết người, thì nói chung bị xử lý về tội vô ý làm chết người (Điều 194, khoản 1) như: người đi săn ban đêm do lầm lẫn mà bắn chết người.

- Hành vi vô ý làm chết người do vi phạm quy tắt nghề nghiệp (như: công nhânmắc đu72ng dây dẫn điện do làm việc không cẩn thận gây chết người qua đường) hoặc vi phạm quy tắc hành chính (như: chặt cây công cộng trái quy định của cơ quan có thẩm quyền, làm gẫy cành cây, đứt dây dẫn điện, gây chết người qua đường…) thì bị xử lý theo quy định của Điều 104, khoản 2.

- Hành vi vô ý gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác do vi phạm một quy định hành chính cụ thể mà điều luật quy định riêng (như các Điều 186, 187, 188, 190, v.v…) thì bị xử lý theo điều luật tương ứng. Thí dụ: lái xe phóng nhanh, vượt ẩu gây tai nạn chết người bị xử lý theo Điều 186 về tội phạm quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, NHÂN PHẨM, DANH DỰ CON NGƯỜI
...
4. Tội bức tử (Điều 105)

- Chủ thể của tội phạm này là người mà nạn nhân bị lệ thuộc (như: lệ thuộc về kinh tế, bị ràng buộc về quan hệ hôn nhân, huyết thống, nujôi dưỡng, quan hệ công tác, thầy trò, hoặc quan hệ tôn giáo, tín ngưỡng…).

- Mặt khách quan của tội phạm là: đối xử tàn ác (tức là đối xử có tính độc ác, tàn bạo, như: đánh đập gây đau khổ về thể chất, nhưng chưa đến mức gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người bị lệ thuộc); thường xuyên ức hiếp (đối xử bất công, bất bình đẳng); ngược đãi (đối xử tồi tệ); làm nhục (xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự…).

Hành vi đối xử tàn ác dù mới xảy ra một lần cũng có thể làm cho nạn nhân tự sát; còn hành vi ức hiếp, ngược đãi, làm nhục phải diễn ra nhiều lần, thường xuyên, làm cho nạn nhân bị dày vò về tư tưởng, tình cảm, thấy bế tắc mà tự sát.

Dù nạn nhân tự sát không chết, bị cáo vẫn bị xử lý về tội bức tử.

Trong thực tế, có trường hợp tâm tư của người tự sát khá phức tạp như: vừa đau ốm, vừa thất tình lại bị cha đánh chửi, rồi tự sát. Vì vậy, phải xác định thật rõ mối quan hệ nhânm quả giữa hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục với hành vi tự sát thì mới xác định được có tội bức tử hay không.

- Về mặt chủ quan: tội phạm được thực hiện do cố ý, chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình có thể làm cho nạn nhân tự sát, không mong muốn, nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (cố ý gián tiếp) và cũng có thể do cố ý về hành vi, vô ý về hậu quả.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, NHÂN PHẨM, DANH DỰ CON NGƯỜI
...
6. Tội đe dọa giết người (Điều 108) phải có hai dấu hiệu bắt buộc có hành vi đe dọa giết người; có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện.

- Phải xác định hành vi đe dọa giết người là có thật (như: nói trực tiếp côngkhai là sẽ giết, giơ phương tiện như súng, dao đe dọa), và phải xem xét “căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ…”, một cách khách quan, toàn diện như: thời gian, hoàn cảnh, địa điểm diễn biến, nguyên nhân sâu xa (nếu có) và trực tiếp của sự việc, mối tương quan giữa bên đe dọa và bên bị đe dọa (về thể lực, tuổi đời, trình độ v.v…). Nếu thông thường ai cũng phải lo lắng là sự đe dọa (về thể lực, tuổi đời, trình độ v.v…). Nếu thông thường ai cũng phải lo lắng là sự đe dọa sẽ được thực hiện, thì đó là trường hợp lo lắng có căn cứ.

Nếu cùng với hành vi đe dọa, còn có hành vi chuẩn bị giết người bị đe dọa (như mài dao, lau súng đạn…) thì xử lý các hành vi đó về tội giết người (ở giai đoạn chuẩn bị) theo Điều 15 khoản 1 và Điều 101 khoản 2. Nếu sau khi đe dọa đã giết người bị đe dọa, thì xử lý về tội giết người.

Nếu đe dọa giết người để chống người thi hành công vụ, thì xử lý về tội chống người thi hành công vụ (Điều 205) mà không áp dụng điều 108.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 7 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, NHÂN PHẨM, DANH DỰ CON NGƯỜI
...
7. Phân biệt giữa thương tích với thương tích nặng, giữa tổn hại cho sức khỏe với tổn hại nặng cho sức khỏe (tại các Điều 109, 110 và 103 khoản 2).

- Trước hết, cần xem xét nhiều mặt để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như: phương tiện, công cụ được sử dụng để gây thương tích, bộ phận của cơ thể bị trực tiếp xâm phạm, thương tích ban đầu, kết quả cứu chữa…

Sự phân biệt mức độ thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe cần phải dựa vào kết luận của giám định pháp y và khi cần thiết, dựa vào cả kết luận của bác sĩ điều trị. Những kết luận đó cho biết mức độ thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe khi sự việc mới xẩy ra và khi đã điều trị xong. Đó là căn cứ giúp cho việc định tội và quyết định hình phạt, cũng như cho việc quyết định mức bồi thường thiệt hại.

Xét riêng về thương tích, thì dựa vào những kết luận nói trên của cơ quan chuyên môn, tham khảo luật hình của một số nước xã hội chủ nghĩa, qua thực tế xét xử của ta, có thể xác định:

- Tỷ lệ thương tích từ 10% trở xuống(*), không ây cố tật, là thương tích nhẹ, chưa đến mức cần thiết phải xử lý về hình sự người gây thương tích đó.

- Tỷ lệ thương tích từ 11 đến 30% là thương tích cần thiết phải xử lý về hình sự đối với người gây ra (theo Điều 109 khoản 1);

- Tỷ lệ thương tích từ 31 đến 60% là thương tích nặng hoặc tổn hại nặng đến sức khỏe (theo Điều 109 khoản 2);

- Tỷ lệ thương tích từ 61% trở lên là thương tích rất nặng hoặc tổn hại rất nặng đến sức khỏe (theo điều 109 khoản 3).

Trong trường hợp gây thương tích có tính nguy hiểm cao (như: đánh, chém làm lún xương sọ não, đâm thủng ruột…) nhưng nạn nhân được cứu chữa kịp thời nên không chết, không bị tổn hại nặng đến sức khỏe, hoặc không bị cố tật, thì vẫn bị xử lý theo Điều 109 khoản 2. Đặc biệt là trường hợp hành vi đó có tính chất côn đồ, hung hãn thì cần trừng trị nghiêm khắc.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 03-TATC năm 1987

Công văn hướng dẫn Điều 109 Bộ luật hình sự
...
A- Tại Nghị quyết số 04-NQ/HĐTP ngày 29-11-1986 hướng dẫn việc phân biệt giữa thương tích và thương tích nặng, giữa tổn hại cho sức khoẻ với tổn hại nặng cho sức khoẻ (tại các Điều 109, 110 và 103 Bộ Luật Hình sự). Nghị quyết đã hướng dẫn rõ rằng "trước hết, cần xem xét nhiều mặt để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như: phương tiện, công cụ được sử dụng để gây thương tích, bộ phận của cơ thể bị trực tiếp xâm phạm, thương tích ban đầu, kết quả cứu chữa..."Xét riêng về mặt thương tích Nghị quyết có hướng dẫn: "Tỷ lệ thương tích từ 10% trở xuống, không gây cố tật, là thương tích nhẹ, chưa đến mức cầ thiết phải xử lý về hình sự người gây thương tích đó."

Thực tiễn xét xử trong thời gian qua cho thấy rằng việc không xử lý về hình sự mọi trường hợp cố ý gây thương tích có tỷ lệ phần trăm thương tật từ 10% trở xuống là không hợp lý. Sau khi đã trao đổi với Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thêm về vấn đề này như sau:

Nếu nạn nhân được giám định xác định tỷ lệ phần trăm thương tật (còn gọi là tỷ lệ phần trăm mất sức lao động), hoặc nếu nạn nhân thực sự có bị thương tích hay bị tổn hại đến sức khoẻ mà nếu có giám định thì cũng chỉ được xác định tỷ lệ phần trăm thương tật từ 10% trở xuống, thì kẻ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp sau đây:

1. Dùng hung khí nguy hiểm (như dao, súng, v.v.) hoặc dùng thủ đoạn có thể gây nguy hại cho nhiều người. Đây là các trường hợp, việc nạn nhân chỉ thương tích nhẹ là ngoài ý muốn của kẻ phạm tội (thí dụ: kẻ phạm tội dùng dao nhọn đâm nạn nhân, nhưng nạn nhân tránh được nên chỉ bị thương tích nhẹ...).

2. Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân.

3. Phạm tội đối với nhiều người cùng một lúc.

4. Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người.

5. Phạm tội đối với người chưa thành niên (trừ các trường hợp ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ con cái theo quy định của Điều 147 Bộ luật hình sự), người già, phụ nữ đang có thai, người ở tình trạng không thể tự vệ được.

6. Phạm tội có tổ chức; phạm tội có đông người tham gia (trừ các trường hợp bị xử lý về tội gây rối trật tự công cộng theo quy định của Điều 198 Bộ luật hình sự).

7. Phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù, đang bị tạm giam về việc phạm tội, đang bị tập trung cải tạo.

8. Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm.

9. Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Trong các trường hợp 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 kẻ phạm tội bị xử phạt theo khoản 1 Điều 109 Bộ Luật Hình sự.

Trong các trường hợp 8, 9 kẻ phạm tội bị xử phạt theo khoản 2 Điều 109 Bộ Luật Hình sự. Kẻ dùng vũ lực chống người thi hành công vụ mà không gây thương tích hoặc không gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân hay gây thương tích không đáng kể, gây tổn hại không đáng kể cho sức khoẻ của nạn nhân, thì bị xử phạt theo Điều 205 Bộ Luật Hình sự về tội chống người thi hành công vụ.

B- Nghị quyết số 04-NQ/HĐTP ngày 29-11-1986 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có nêu rằng: "Sự phân biệt mức độ thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ cần phải dựa vào kết luận của giám định pháp y và khi cần thiết, dựa cả vào kết luận của bác sĩ điều trị". Việc giám định để xác định tỷ lệ phần trăm thương tật của nạn nhân là rất cần thiết đối với việc giải quyết các vụ án về gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác. Nhưng hiện nay chúng ta chưa có điều kiện tiến hành giám định thương tật trong mọi trường hợp, ở mọi nơi. Cho nên, tạm thời không nhất thiết phải có kết luận của giám định pháp y trong các trường hợp sau đây:

a) Do bị gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ mà nạn nhân đã bị thương tật như đã được liệt kê ở 4 điểm Thông tư Liên bộ số 32-TTLB ngày 27-11-1985 của Bộ Y tế- Bộ Lao động- Thương Binh và Xã hội quy định về tiêu chuẩn thương tật 4 hạng (mới) và hướng dẫn cách chuyển đổi từ các hạng thương tật cũ, cách khám giám định thương tật theo các hạng thương tật mới (văn bản này có ở tất cả các cơ quan y tế địa phương, đã được in trong tập san Toà án nhân dân số 6). Thí dụ: Một người bị đâm vào bụng, khi được cấp cứu, đã bị cắt bỏ lá lách. Đối chiếu với Thông tư nói trên thì nạn nhân được xác định tỷ lệ phần trăm thương tật là 30% đến 50%. Đối với trường hợp này không cần phải giám định cũng có thể truy tố, xét xử kẻ phạm tội theo khoản 3 Điều 109 Bộ luật hình sự, vì việc cắt bỏ lá lách, một bộ phận quan trọng của cơ thể, được coi là bị cố tật nặng. Một thí dụ khác: Một người bị làm điếc một tai. Đối chiếu với Thông tư nói trên thì nạn nhân được xác định tỷ lệ phần trăm thương tật là từ 21% đến 25%. Đối với trường hợp này không cần phải giám định cũng có thể truy tố, xét xử kẻ phạm tội theo khoản 1 Điều 109 Bộ luật hình sự.

b) Thương tích của nạn nhân thuộc loại thương tích nặng (nghĩa là loại thương tích mà nếu không được cứu chữa kịp thời thì nạn nhân sẽ bị thiệt mạng hoặc bị tổn hại nặng đến sức khoẻ), do được cứu chữa kịp thời nên nạn nhân không bị tổn hại nặng đến sức khoẻ, thí dụ: một người bị dao găm đâm thủng bụng, tuy không bị thương các cơ quan nội tạng, nhưng phải mổ bụng để vét máu trong ổ bụng; sau khi được cấp cứu và điều trị thì sức khoẻ không bị tổn hại đáng kể. Đối với trường hợp này, không cần phải giám định cũng có thể truy tố, xét xử kẻ phạm tội theo khoản 2 Điều 109 Bộ Luật Hình sự.

Trong các trường hợp này chứng nhận của cơ quan y tế và các tài liệu khác xác nhận về thương tích ban đầu của nạn nhân và tình hình thực tế về sức khoẻ của nạn nhân sau khi bị gây thương tích, bị gây tổn hại đến sức khoẻ là căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự của kẻ phạm tội.

c) Nạn nhân bị gây cố tật nặng, mặc dù sức khoẻ không bị tổn hại đáng kể (thí dụ: nạn nhân bị làm hỏng nặng diện mạo nhưng sức khoẻ không bị giảm sút đáng kể).

d) Phạm tội thuộc các trường hợp đã được nêu ở mục A.

Trên đây là hai vấn đề hướng dẫn sử dụng bổ sung để kịp thời giải quyết tốt các vụ án về cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.

Toà án các cấp cần lưu ý thông báo công văn này cho các cơ quan công an và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để các cơ quan bạn phối hợp áp dụng.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)

Điều 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.
...
5- Điều 109 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 109. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của người khác;

b) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

c) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

d) Gây thương tích cho nhiều người hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người.

3. Phạm tội gây cố tật nặng, dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định ở điểm a khoản 2 hoặc ở khoản 3 Điều này mà do bị kích động mạnh vì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân hoặc trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì bị cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 7 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 03-TATC năm 1987
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989 (VB hết hiệu lực: 01/07/2000)
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 7 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, NHÂN PHẨM, DANH DỰ CON NGƯỜI
...
7. Phân biệt giữa thương tích với thương tích nặng, giữa tổn hại cho sức khỏe với tổn hại nặng cho sức khỏe (tại các Điều 109, 110 và 103 khoản 2).

- Trước hết, cần xem xét nhiều mặt để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như: phương tiện, công cụ được sử dụng để gây thương tích, bộ phận của cơ thể bị trực tiếp xâm phạm, thương tích ban đầu, kết quả cứu chữa…

Sự phân biệt mức độ thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe cần phải dựa vào kết luận của giám định pháp y và khi cần thiết, dựa vào cả kết luận của bác sĩ điều trị. Những kết luận đó cho biết mức độ thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe khi sự việc mới xẩy ra và khi đã điều trị xong. Đó là căn cứ giúp cho việc định tội và quyết định hình phạt, cũng như cho việc quyết định mức bồi thường thiệt hại.

Xét riêng về thương tích, thì dựa vào những kết luận nói trên của cơ quan chuyên môn, tham khảo luật hình của một số nước xã hội chủ nghĩa, qua thực tế xét xử của ta, có thể xác định:

- Tỷ lệ thương tích từ 10% trở xuống(*), không ây cố tật, là thương tích nhẹ, chưa đến mức cần thiết phải xử lý về hình sự người gây thương tích đó.

- Tỷ lệ thương tích từ 11 đến 30% là thương tích cần thiết phải xử lý về hình sự đối với người gây ra (theo Điều 109 khoản 1);

- Tỷ lệ thương tích từ 31 đến 60% là thương tích nặng hoặc tổn hại nặng đến sức khỏe (theo Điều 109 khoản 2);

- Tỷ lệ thương tích từ 61% trở lên là thương tích rất nặng hoặc tổn hại rất nặng đến sức khỏe (theo điều 109 khoản 3).

Trong trường hợp gây thương tích có tính nguy hiểm cao (như: đánh, chém làm lún xương sọ não, đâm thủng ruột…) nhưng nạn nhân được cứu chữa kịp thời nên không chết, không bị tổn hại nặng đến sức khỏe, hoặc không bị cố tật, thì vẫn bị xử lý theo Điều 109 khoản 2. Đặc biệt là trường hợp hành vi đó có tính chất côn đồ, hung hãn thì cần trừng trị nghiêm khắc.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 7 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 7 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, NHÂN PHẨM, DANH DỰ CON NGƯỜI
...
7. Phân biệt giữa thương tích với thương tích nặng, giữa tổn hại cho sức khỏe với tổn hại nặng cho sức khỏe (tại các Điều 109, 110 và 103 khoản 2).

- Trước hết, cần xem xét nhiều mặt để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như: phương tiện, công cụ được sử dụng để gây thương tích, bộ phận của cơ thể bị trực tiếp xâm phạm, thương tích ban đầu, kết quả cứu chữa…

Sự phân biệt mức độ thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe cần phải dựa vào kết luận của giám định pháp y và khi cần thiết, dựa vào cả kết luận của bác sĩ điều trị. Những kết luận đó cho biết mức độ thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe khi sự việc mới xẩy ra và khi đã điều trị xong. Đó là căn cứ giúp cho việc định tội và quyết định hình phạt, cũng như cho việc quyết định mức bồi thường thiệt hại.

Xét riêng về thương tích, thì dựa vào những kết luận nói trên của cơ quan chuyên môn, tham khảo luật hình của một số nước xã hội chủ nghĩa, qua thực tế xét xử của ta, có thể xác định:

- Tỷ lệ thương tích từ 10% trở xuống(*), không ây cố tật, là thương tích nhẹ, chưa đến mức cần thiết phải xử lý về hình sự người gây thương tích đó.

- Tỷ lệ thương tích từ 11 đến 30% là thương tích cần thiết phải xử lý về hình sự đối với người gây ra (theo Điều 109 khoản 1);

- Tỷ lệ thương tích từ 31 đến 60% là thương tích nặng hoặc tổn hại nặng đến sức khỏe (theo Điều 109 khoản 2);

- Tỷ lệ thương tích từ 61% trở lên là thương tích rất nặng hoặc tổn hại rất nặng đến sức khỏe (theo điều 109 khoản 3).

Trong trường hợp gây thương tích có tính nguy hiểm cao (như: đánh, chém làm lún xương sọ não, đâm thủng ruột…) nhưng nạn nhân được cứu chữa kịp thời nên không chết, không bị tổn hại nặng đến sức khỏe, hoặc không bị cố tật, thì vẫn bị xử lý theo Điều 109 khoản 2. Đặc biệt là trường hợp hành vi đó có tính chất côn đồ, hung hãn thì cần trừng trị nghiêm khắc.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Khoản 7 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Chương 3 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 3: CÁC TỘI XÂM PHẠM NHỮNG QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN

Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 119)

- Khách thể của tội phạm này là quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân

- Về mặt khách quan, bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là những trường hợp như: hành vi của người không có thẩm quyền về vấn đề này mà bắt, giữ hoặc giam người không phải là phạm pháp quả tang; hành vi của cán bộ Công an, Kiểm sát, Tòa án có thẩm quyền về vấn đề này mà bắt, giữ hoặc giam người không có quyết định hợp pháp của Viện kiểm sát hoặc Tòa án từ cấp huyện, quận trở lên (đối với bị can) hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành (đối với người bị tập trung cải tạo).

- Về chủ thể, cần phân biệt: công dân bình thường bị xử lý theo khoản 1; người có chức vụ, quyền hạn (nhưng không có thẩm quyền trong việc bắt, giữ hoặc giam người, hoặc tuy có thẩm quyền trong việc bắt, giữ hoặc giam người nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái pháp luật), thì bị xử lý theo khoản 2.

Cả hai loại chủ thể nói trên mà phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị xử lý theo khoản 3. Hậu quả nghiêm trọng thể hiện như: thiệt hại đối với người bị bắt giam, hoặc gia đình họ (thí dụ: người bị bắt, giam sau đó uất ức mà tự sát; do bị giam lâu mà mắc bệnh tật, ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe hoặc gia đình họ bị chia ly…) hoặc ảnh hưởng xấu về chính trị (thí dụ: do bắt, giam trái pháp luật mà làm cho dư luận quần chúng công phẫn, ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước…).

- Cùng với hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, tùy trường hợp có thể xử lý thêm về tội khác (nếu có) (như: cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 109), dùng nhục hình (Điều 234).

- Trong trường hợp bắt cóc người nhằm chiếm đoạt tài sản thì hành vi bắt cóc cũng xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhưng được coi là một thủ đoạn để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của công dân, do đó, bị xử lý theo Điều 152 (tội bắt cót nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân) mà không xử lý theo Điều 119.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Chương 3 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 5 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 5: CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH VÀ CÁC TỘI PHẠM ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1. Tội phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 144).

- Chủ thể của tội phạm này là “người đang có vợ, có chồng” tức là người đang có một quan hệ hôn nhân hợp pháp hoặc hôn nhân thực tế (hôn nhân đủ điều kiện như luật hôn nhân và gia đình quy định, nhưng còn thiếu điều kiện đăng ký kết hôn).

Người chưa có chồng hoặc chưa có vợ mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đã có vợ, có chồng, là đồng phạm với vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Người có ác ý “tranh chồng, cướp vợ”, phá hoại han5h phúc gia đình của người khác cần bị xử lý nghiêm khắc.

- Về mặt khách quan của tội phạm, kết hôn nói ở điều luật là lấy vợ, lấy chồng bằng giấy tờ gian dối, do đó, được Ủy ban nhân dân công nhận; “chung sống như vợ chồng” là ăn, ở với nhau công khai hoặc lén lút và coi nhau là vợ chồng một cách trái pháp luật.

- Đối với các trường hợp lấy vợ lẽ hoặc chung sống tay ba trở lên, về nguyên tắc, nếu diễn ra ở các tỉnh phía Bắc từ sau ngày ban hành Luật hôn nhân và gia đình (13-1-1960), và ở các tỉnh phía Nam từ sau ngày 25-3-1977 (thi hành pháp luật thống nhất trong cả nước theo Quyết định 76/CP của Hội đồng Chính phủ), thì đó là trái pháp luật. Tuy nhiên, khi vận dụng, cần chú ý là tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có quan hệ đến tình cảm gia đình, giữa vợ và chông giữa cha mẹ và con cái. Vì vậy, cần xem xét thận trọng và toàn diện, có chiếu cố đến tình hình khi sự việc xảy ra, tình trạng đất nước đang có chiến tranh hoặc còn bị chia cắt; chú ý đến phong tục, tập quán, trình độ của quần chúng ở từng miền, từng khu vực; tinh thần đấu tranh của quần chúng đối với hành vi vi phạm; hậu quả đối với hạnh phúc gia đình, đối với xã hội v.v… để quyết định biện pháp xử lý về dân sự (tiêu hôn), hình sự hoặc biện pháp phối hợp với đoàn thể đấu tranh, giáo dục.

Cần xử lý thích đáng trường hợp vi phạm chế độ một vợ một chồng đã được giáo dục, giải thích mà vẫn cố ý vi phạm, đang bị dư luận xã hội phê phán hoặc đã bị buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng, mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 5 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 5 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 5: CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH VÀ CÁC TỘI PHẠM ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
...
2. Tội ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ cha mẹ, vợ chồng, con cái (Điều 147).

Ngược đãi nghiêm trọng thường biểu hiện bằng việc đối xử tồi tệ, như: thường xuyên mắng chửi, xỉ vả, để đói rách, để ở nơi khổ cực, mặc dù có điều kiện khá hơn, gây đau khổ về tinh thần.

Hành hạ thường được biểu hiện bằng việc đối xử tàn ác như: đánh đập, bắt làm việc nặng nhọc quá sức, gây đau khổ về thể chất, nhưng chưa đến mức gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe.

Sự phân biệt giữa “ngược đãi nghiêm trọng” với “hành hạ” chỉ là tương đối, vì trong thực tế có trường hợp hai mặt đó khó phân biệt rõ ràng hoặc quyện vào nhau. Do đó, tùy trường hợp cụ thể của hành vi phạm tội và mối quan hệ giữa người phạm tội với nạn nhân mà định tội là “tội ngược đãi nghiêm trọng…” hay “tội hành hạ…” hoặc định một tội chung là hành hạ và ngược đãi…

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 5 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Chương 5 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 5: CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH VÀ CÁC TỘI PHẠM ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
...
3. Tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em (Điều 149)(1)

Tội phạm này xâm phạm quan hệ tình cảm giữa cha mẹ và con cái và sự phát triển lành mạnh của trẻ em về các mặt tư tưởng tình cảm thể chất.

Tội phạm thể hiện như:

- Bắt trộm trẻ em là hành vi vì tư lợi mà lén lút chiếm đoạt hoặc lừa gạt, dụ dỗ đứa trẻ trong lúc vắng mặt người nuôi dưỡng, chăm sóc để chiếm đoạt, đem bán hoặc nuôi làm con nuôi, hoặc vì tư thù mà bắt trộm nhằm phá hoại hạnh phúc gia đình người khác.

- Mua bán trẻ em là mua hoặc bán trẻ em vì tư lợi, dù là mua của kẻ đã bắt trộm hoặc mua của chính người có con đem bán. Hành vi mua trẻ em khi biết rõ là đứa trẻ bị bắt trộm để về làm con nuôi, cũng bị xử lý về tội mua bán trẻ em. Tuy nhiên cần phân biệt với trường hợp bố mẹ vì đông con hoặc vì khó khăn đặc biệt mà phải bán con mình (dưới hình thức cho làm con nuôi và nhận một số tiền giúp đỡ) cũng như trường hợp vì hiếm con mà mua của chính người có con đem bán để về nuôi thì không coi là phạm tội.

- Đánh tráo trẻ em là hành vi lén lút đổi trẻ em này lấy trẻ em khác, thường xảy ra đối với trẻ sơ sinh (như: đánh tráo em gái lấy em trai, em dị dạng lấy em lành lặn…) thường xảy ra ở nhiều nơi có nhiều sản phụ (nhà hộ sinh, bệnh viện). Người thực hành tội phạm thông thường là người có trách nhiệm (nhân viên y tế), có đủ điều kiện thực việc đánh tráo. Người có hành vi mua chộc người đó (thường là sản phụ) là đồng phạm. Họ còn có thể bị xử lý thêm về tội đưa hối lộ, hoặc tội nhận hối lộ (nếu có).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Chương 5 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 7 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 7: CÁC TỘI PHẠM VỀ KINH TẾ
...
2. Tội lưu hành sản phẩm kém phẩm chất (Điều 177) là cho lưu hành nhiều lần hoặc với số lượng lớn những sản phẩm không đúng tiêu chuẩn chất lượng đã định do đó gây hậu quả nghiêm trọng.

- Cho lưu hành nhiều lần là quyết định đem bán từ hai, ba lần trở lên. Nếu chỉ lưu hành một lần thì phải có số lượng lớn mới coi là phạm tội. Số lượng lớn sản phẩm được xác định tùy theo giá trị của từng đơn vị sản phẩm tạo nên hậu quả nghiêm trọng, như: vài chục xe đạp có khung hở mối hàn hoặc có nhiều bộ phận không thể lắp ráp chắc chắn được; vài trăm ruột phích chỉ giữ được nhiệt độ trong một vài giờ; vài nghìn chiếc khóa chờn chốt, khóa xong vẫn kéo ra được v.v…

Ngoài những thí dụ trên đây, khi gặp những trường hợp khó khăn, cần tham khảo ý kiến của ngành quản lý mặt hàng cụ thể.

Sản phẩm kém phẩm chất là sản phẩm không đúng tiêu chuẩn chất lượng đã định mà người có trách nhiệm sản xuất hoặc phân phối, lưu thông đã biết rõ.

Nếu lưu hành sản phẩm kém phẩm chất nhưng đã ghi rõ chất lượng và định giá thấp hơn giá chính phẩm và được phép của cơ quan có thẩm quyền thì không cấu thành tội phạm.

Có trường hợp hành vi lưu hành sản phẩm kém phẩm chất, gây hậu quả nghiêm trọng lại cấu thành tội phạm khác như: lưu hành thuốc tân dược quá thời hạn sử dụng, đã biến chất, gây hậu quả nghiêm trọng, cấu thành tội phạm quy định ở Điều 196 (tội vi phạm các quy định về chữa bệnh, chế thuốc, bán thuốc gây hậu quả nghiêm trọng); lưu hành thực phẩm mất phẩm chất gây hậu quả nghiêm trọng, cấu thành tội phạm quy định ở Điều 197 (tội vi phạm các quy định về vệ sinh thực phẩm gây hậu quả nghiêm trọng).

- Hậu quả nghiêm trọng của tội phạm này thường là thiệt hại vật chất; trước hết, là đối với người tiêu dùng (dùng sản phẩm chóng hỏng, không dùng được nữa hoặc phải tốn phí vào việc sửa chữa mới dùng được…); mặt khác, là thiệt hại đối với người sản xuất (sản phẩm kém phẩm chất đem lưu hành được hoàn lại để sửa chữa hoặc phải hủy bỏ không đủ tiêu chuẩn đem lưu hành…) và đối với người phân phối lưu thông (nhận lại sản phẩm kém phẩm chất đã lưu hành để hủy bỏ hoặc phải hạ giá…). Cá biệt có trường hợp người tiêu dùng cho sản phẩm kém phẩm chất mà bị tai nạn, thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe (như: thiết vị, máy móc xe cơ giới không đảm bảo chất lượng, không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật nên khi sử dụng gây ra tai nạn). Ngoài ra còn có hậu quả là người tiêu dùng giảm hoặc không còn tín nhiệm đối với nhãn hiệu sản phẩm.

- Chủ thể của tội phạm này là người có chức vụ trong các cơ sở quốc doanh, các hợp tác xã, các tổ hợp hoặc các cơ sở sản xuất tư nhân được phép sản xuất, kinh doanh. Cụ thể là người có trách nhiệm trong chỉ đạo sản xuất (thường là giám đốc, chủ nhiệm…), kiểm tra chất lượng sản phẩm (gọi tắt là cán bộ K.C.S), phân phối lưu thông (thường là phó giám đốc, phó chủ nhiệm phụ trách kinh doanh, cửa hàng trưởng, quầy trưởng…).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 7 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Chương 7 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 7: CÁC TỘI PHẠM VỀ KINH TẾ
...
3. Tội sử dụng hoặc phân phối điện trái phép gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 182).

Điều luật quy định hai tội phạm: tội sử dụng điện trái phép gây hậu quả nghiêm trọng và tội phân phối điện trái phép gây hậu quả nghiêm trọng.

+ Tội sử dụng điện trái phép gây hậu quả nghiêm trọng có các dấu hiệu:

- Chủ thể là người có hợp đồng sử dụng với cơ quan thẩm quyền hoặc bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự.

- Có hành vi sử dụng điện trái với quy định về việc sử dụng điện của cơ quan có thẩm quyền, trái với quy định của hợp đồng như: sử dụng điện phục vụ sinh hoạt vào sản xuất, kinh doanh trái phép, lấy điện không qua đồng hồ đo đếm điện, dùng các thủ đoạn làm cho đồng hồ đo đếm điện không quay, quay chậm quay ngược lại.

- Gây hậu quả nghiêm trọng như: gây thất thu về điện phí từ 3.000Kw/h trở lên, gây sự cố làm hư hỏng máy móc, thiết vị thiệt hại tương đương với điện phí từ 3.000Kw/h trở lên (tính theo truy nộp tiền điện cộng với tiền nộp phạt hoặc tính theo chế độ phạt lũy tiến); làm mật điện gây ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt bình thường của nhiều gia đình trong khu vực.

Hành vi sử dụng điện trái phép chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì bị xử lý hành chính (như truy nộp tiền điện lấy trộm cộng với tiền nộp phạt hoặc tính theo chế độ phạt lũy tiến; ngừng cung cấp điện có thời hạn, hủy bỏ hợp đồng cung cấp điện, tịch thu những tang vật đã sử dụng vào việc trộm cắp điện…); nếu đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị xử lý về hình sự.

+ Tội phân phối điện trái phép gây hậu quả nghiêm trọng có các dấu hiệu:

- Chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn có quyền quyết định việc phân phối và cũng có thể là cán bộ, công nhân kỹ thuật trực tiếp xử lý đường dây trên mạng điện.

- Có hành vi phân phối điện trái với quy định của cơ quan có thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng như: đối với người tiêu dùng bình thường, thì phân phối ưu tiên; đối với đối tượng đáng được ưu tiên (cơ sở sản xuất…) thì gây khó khăn, phân phối điện thất thường, không đúng như hợp đồng đã thỏa thuận, mà không có lý do chính đáng.

- Gây hậu quả nghiêm trọng như: gây sự cố làm hư hỏng máy móc, thiết bị điện gây hậu thiệt hại tương đương với mức xử lý hành chính nói trên đối với trường hợp lấy trộm từ 3.000Kw/h điện trở lên; kế hoạch sản xuất của càc cơ sở bị đảo lộn, sút kém, sản phẩm bị hư hỏng, kém phẩm chất, kế hoạch phân phối điện thêm khó khăn, căng thẳng; ảnh hưởng xấu đến kế hoạch sản xuất, đến việc đảm bảo sinh hoạt của nhân dân.

Hành vi phân phối điện trái phép chưa gây hậu quả nghiêm trọng như trên thì bị xử lý hành chính; nếu đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị xử lý về hình sự.

Hành vi nhận hối lộ để phân phối điện trái pháp gây hậu quả nghiêm trọng bị xử lý thêm về tội nhận hối lộ (Điều 226 khoản 1 đoạn 2).

+ Theo quy định của điều luật, khoản 2 có thể bao gồm các trường hợp: sử dụng điện vào việc kinh doanh trái phép gây hậu quả nghiêm trọng; sử dụng điện vào việc kinh doanh trái phép tuy chưa gây hậu quả nghiêm trọng, nhưng đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm; sử dụng hoặc phân phối điện trái phép trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác.

Sử dụng điện vào việc kinh doanh trái phép thể hiện như: lén lút chạy máy sản xuất nước đá, làm dép nhựa hoặc đắp lốp xe…, nhằm thu lợi bất chính. “Sử dụng điện hoặc phân phối điện trái phép trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” thể hiện như: gây thiệt hại về máy móc, thiết bị điện, về điện phí gấp 3 lần hậu quả nghiêm trọng nói trên; gây cháy nhà, làm người khác bị thương, gây chết người… trường hợp phạm tội làm chết người thì xử lý thêm về tội vô ý làm chết người (Điều 104 khoản 2 đoạn 2).

Sử dụng hoặc phân phối điện trái phép vào việc sản xuất thuốc nổ để làm pháo hoặc chế tạo chất nổ khác thì xử lý thêm về tội chế tạo chất nổ (Điều 96).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Chương 7 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 8 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 8: CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN, TRẬT TỰ CÔNG CỘNG VÀ TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
...
2. Tội vi phạm các quy định về quản lý vũ khí, phương tiện kỹ thuật, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ (Điều 192).

Tội phạm này có các dấu hiệu:

- Có hành vi vi phạm các quy định về đặt kho, bảo quản, vận chuyển, sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ.

Những quy định hiện đang được áp dụng là Pháp lệnh ngày 27-9-1961 quy định việc quản lý của Nhà nước đối với công tác phòng cháy chữa cháy; Nghị định số 175/CP ngày 11-12-1964 của Hội đồng Chính phủ về việc quản lý vũ khí quân dụng và vũ khí thể thao quốc phòng; Nghị định số 33/CP ngày 24-2-1973 của Hội đồng Chính phủ về việc tàng trữ và sử dụng vật liệu nổ; Nghị định số 94/HĐBT ngày 2-7-1984 của Hội đồng Chính phủ về việc tàng trữ và sử dụng vật liệu nổ; Nghị định số 94/HĐBT ngày 2-7-1984 của Hội đồng Bộ trưởng quy định bổ sung hai Nghị định nói trên.

- Gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác như: làm 1 người chết hoặc 2 người bị thương nặng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản dưới 100.000 đồng trở lên(2)

- Chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn về việc thực hiện những quy định nói trên phạm tội do thiếu trách nhiệm.

Cần lưu ý phân biệt các tội phạm quy định ở Điều 192, Điều 95 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự), Điều 96 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, Điều 268 (tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí) và Điều 193 (tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí gây hậu quả nghiêm trọng).

Chủ thể của tội phạm quy định ở Điều 192 là người có chức vụ, quyền hạn trong việc đặt kho, bảo quản, vận chuyển, sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật, chất nổ chất cháy, chất độc, chất phóng xạ); chủ thể của tội phạm quy định ở các Điều 94 và 96 là bất kỳ ai, không có chức vụ, quyền hạn về các vấn đề trên; còn chủ thể của tội phạm quy định ở Điều 268 là quân nhân được giao sử dụng vũ khí, chất nổ.

- Tội phạm quy định ở các Điều 192 và 268 có dấu hiệu bắt buộc là có hậu quả, còn tội phạm quy định ở các Điều 95 và 96 không có dấu hiệu bắt buộc đó.

- Về mặt khách quan, tội phạm quy định ở Điều 192 là “vi phạm các quy định về đặt kho, bảo quản, vận chuyển, sử dụng vũ khí…” (nhiều loại vũ khí…); tội phạm quy định ở điều 193 ”… để người khác sử dụng vũ khí…” (một vũ khí cụ thể mà chủ thể được giao để sử dụng), nhưng do thiếu trách nhiệm để người khác sử dụng vũ khí gây hậu quả nghiêm trọng.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 8 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Chương 8 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 8: CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN, TRẬT TỰ CÔNG CỘNG VÀ TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
...
3. Tội phạm các quy định về chữa bệnh, chế thuốc gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 196), thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác. Nếu vi phạm mà chưa gây thiệt hại nói trên thì không bị xử lý về hình sự theo tội phạm này.

Tội phạm thể hiện như:

a) Về khám bệnh, chữa bệnh: bất kỳ ai không được phép mà khám bệnh, chữa bệnh trái với quy định của Nhà nước hoặc người có chuyên môn được phép khám bệnh, chữa bệnh, nhưng làm trái với chức năng, nhiệm vụ (như được khám, chữa về chuyên khoa này, lại tự ý khám, chữa về chuyên khoa khác…) hoặc làm trái quy tắc nghề nghiệp (như không thử phản ứng trước lúc tiêm thuốc phải thử phản ứng, không theo dõi trực tiếp người được truyền huyết thanh, mổ xong để quên dụng cụ trong người bệnh nhân) gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe bệnh nhân.

Bộ luật hình sự không quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi phá thai trái phép. Hành vi phá thai trái phép (như phá thai ở ngoài cơ sở y tế) cần được xử lý hành chính. Nếu hành vi đó gây chết người, thì bị xử lý về tội vô ý làm chết người theo Điều 104; nếu gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khỏe của người khác thì bị xử lý theo Điều 110.

b) Về sản xuất, pha chế thuốc, bán thuốc;

- Người không được phép mà sản xuất, pha chế, cấp phát thuốc, bán thuốc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác, thì bị xử lý theo Điều 196.

Nếu chưa gây thiệt hại nói trên, thì hành vi đó chỉ bị xử lý về hành chính mà không xử lý về tội kinh doanh trái phép (Điều 168).

Hành vi mua vét các loại thuốc nhằm bán lại để thu lợi bất chính bị xử lý về “tội đầu cơ” (Điều 165)(1); nếu là thuốc chữa bệnh, phòng bệnh do Nhà nước không thống nhất quản lý, thì áp dụng khoản 1; nếu là thuốc do Nhà nước thống nhất quản lý thì tùy theo tính chất nghiêm.

Hành vi sản xuất thuốc giải bị xử lý về “tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả” (Điều 167) và tùy theo trường hợp mà áp dụng khoản 2 hoặc 3.

- Người được phép sản xuất, pha chế, cấp phát thuốc hoặc bán thuốc mà làm không đúng quy định (như sản xuất không đúng quy cách, phẩm chất; pha chế không đúng công thức quy cách; cấp phát không đúng chủng loại, liều lượng; bán thuốc mất phẩm chất, đã quá thời hạn sử dụng theo quy định…) gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác, thì bị xử lý theo Điều 196.

Hành vi của nhân viên cửa hàng dược phẩm lợi dụng chức vụ, quyền hạn rút thuốc thật, thuốc tốt đem ra ngoài bán giá cao và thay thế bằng thuốc giả, thì bị xử lý về “tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa” (Điều 133) và “tội buôn bán hàng giả” (Điều 167);

- Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (quy định ở khoản 2) là những trường hợp như: làm chết từ 2 người trở lên hoặc gây thương tích nặng, gây cố tật hoặc làm cho bệnh tình thêm trầm trọng khó chữa đối với 3 người trở lên (hay 1 người chết và 2 người bị thương nặng trở lên).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Chương 8 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Chương 8 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 8: CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN, TRẬT TỰ CÔNG CỘNG VÀ TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
...
5. Tội chống người thi hành công vụ (Điều 205) thể hiện như:

- Dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực chống người thi hành công vụ như đánh, trói… nhưng chưa gây chết người, thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của người thi hành công vụ hoặc đe dọa sẽ đánh, trói… người đó.

- Dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép người thi hành công vụ thực hiện những hành vi trái pháp luật như: dùng số đông người lấy danh nghĩa thương binh cưỡng ép cán bộ quản lý thị trường cho đem hàng hóa đầu cơ đang bị tạm giữ, cưỡng ép cán bộ kiểm lâm cho chở gỗ khai thác trái phép đang bị tạm giữ…

Hậu quả nghiêm trọng (quy định ở khoản 2) có thể là: người thi hành công vụ không hoàn thành được nhiệm vụ; việc chấp hành pháp luật ở địa phương hoặc khu vực trở nên lỏng lẻo; kẻ xấu lợi dụng cơ hội reo rắc dư luận gây ảnh hưởng xấu.

Nếu người phạm tội giết người thi hành công vụ, thì họ bị xử lý về tội giết người theo Điều 101 khoản 1 điểm c; nếu họ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người thi hành công vụ, thì tùy tình tiết của vụ án, họ bị xử lý theo Điều 109 khoản 2 điểm b (gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe) hoặc theo Điều 109 khoản 3 (gây cố tật nặng hoặc dẫn đến chết người).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Chương 8 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 9 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 9: CÁC PHẠM TỘI VỀ CHỨC VỤ
...
2) Tội cố ý làm lộ bí mật công tác, tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác (Điều 222); tội vô ý làm lộ bí mật công tác, tội làm mất tài liệu bí mật công tác (Điều 223).

Hiện nay mới có Nghị quyết số 69/CP ngày 14-6-1962 của Hội đồng Chính phủ quy định những vấn đề thuộc phạm vi “bí mật của Nhà nước”, còn “bí mật công tác” và “bí mật công tác quân sự” thì chưa được văn bản pháp luật nào chỉ rõ nội dung. Nhưng trong thực tế, có thể hiểu “bí mật công tác” hoặc “bí mật công tác quân sự” là loại bí mật có mức độ quan trọng thấp hơn bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, nếu để tiết lộ cũng có hại cho cách mạng.

Trong hoạt động xét xử của ngành Tòa án, nói chung mọi tài liệu, chứng cứ chưa được phép công bố đều thuộc bí mật công tác, vì nếu tiết lộ sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra, xét xử, thi hành án.

Hậu quả nghiêm trọng được quy định ở khoản 2 Điều 222 thể hiện như: gây khó khăn cho công tác, gây ảnh hưởng rất xấu cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội có bí mật công tác bị tiết lộ, có tài liệu bí mật công tác bị chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy; tạo điều kiện cho kẻ xấu khoét sâu nhược điểm của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội…

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 9 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 9 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 9: CÁC PHẠM TỘI VỀ CHỨC VỤ
...
2) Tội cố ý làm lộ bí mật công tác, tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác (Điều 222); tội vô ý làm lộ bí mật công tác, tội làm mất tài liệu bí mật công tác (Điều 223).

Hiện nay mới có Nghị quyết số 69/CP ngày 14-6-1962 của Hội đồng Chính phủ quy định những vấn đề thuộc phạm vi “bí mật của Nhà nước”, còn “bí mật công tác” và “bí mật công tác quân sự” thì chưa được văn bản pháp luật nào chỉ rõ nội dung. Nhưng trong thực tế, có thể hiểu “bí mật công tác” hoặc “bí mật công tác quân sự” là loại bí mật có mức độ quan trọng thấp hơn bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, nếu để tiết lộ cũng có hại cho cách mạng.

Trong hoạt động xét xử của ngành Tòa án, nói chung mọi tài liệu, chứng cứ chưa được phép công bố đều thuộc bí mật công tác, vì nếu tiết lộ sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra, xét xử, thi hành án.

Hậu quả nghiêm trọng được quy định ở khoản 2 Điều 222 thể hiện như: gây khó khăn cho công tác, gây ảnh hưởng rất xấu cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội có bí mật công tác bị tiết lộ, có tài liệu bí mật công tác bị chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy; tạo điều kiện cho kẻ xấu khoét sâu nhược điểm của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội…

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 9 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 10: CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

1) Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 231)

Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội được thể hiện ở các hành vi tố tụng hình sự như: khởi tố bị can, quy trách nhiệm hình sự của một người trong báo cáo kết thúc điều tra hoặc truy tố một người về tội phạm mà người đó trên thực tế không thực hiện hoặc họ có vi phạm pháp luật mà rõ ràng chỉ đáng xử lý về hành chính. Hành vi tố tụng nói trên được thể hiện bằng quyết định khởi tố, báo cáo kết thúc điều tra chuyển Viện kiểm sát truy tố hoặc cáo trạng.

Đối với những trường hợp người thực hiện hành vi tuy có nguy hiểm, nhưng có tình tiết mà Bộ luật hình sự không coi là phạm tội (như: tình trạng không có năng lực trách nhiệm theo Điều 12, hành động phòng vệ chính đáng theo Điều 13, hành động trong tình thế cấp thiết theo Điều 14…), việc điều tra, thu thập chứng cứ có trường hợp gặp trở ngại, khó chứng minh rõ ràng ý thức của người thực hiện hành vi, việc tổ chức giám định y khoa có khi phải tiến hành nhiều lần, do đó, việc đánh giá vụ án khó bảo đảm chính xác ngay được. Trong các trường hợp đó, nếu người bị truy cứu trách nhiệm hình sự được kết luận là không có tội, thì không xử lý kiểm sát viên hoặc điều tra viên về tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội.

Hành vi được thực hiện do cố ý tức là biết rõ là sai mà vẫn làm. Động cơ cá nhân (nếu có) có ý nghĩa về lượng hình. Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người bị truy cứu trách nhiệm hình sự được tống đạt quyết định khởi tố hoặc cáo trạng.

Nếu do thiếu trách nhiệm (cẩu thả hoặc quá tự tin) mà truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị xử lý theo Điều 220; nếu không có hậu quả nghiêm trọng thì có thể bị xử lý hành chính.

- Chủ thể của tội phạm này là kiểm sát viên, điều tra viên, tức là người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với công dân có tội.

Kiểm tra viên, điều tra viên tuy hoạt động theo chế độ tập trung thống nhất lãnh đạo trong toàn ngành, theo chế độ thủ trưởng, nhưng vẫn có trách nhiệm cá nhân. Vì vậy, kiểm sát viên, điều tra viên thi hành lệnh của cấp trên, ký quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội, mặc dù trước khi thực hiện hành vi đó đã báo cáo ý kiến của mình, vẫn bị xử lý theo Điều 231. Cấp trên ra lệnh truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, cũng bị xử lý theo Điều 231 (nếu là cố ý) hoặc theo Điều 220 (nếu là vô ý và gây hậu quả nghiêm trọng).

- Hậu quả nghiêm trọng quy định ở Điều 231 khoản 2 điểm b thể hiện như: người không có tội bị giam giữ lâu ngày bị kết án tù oan, tự sát, bị tan nát gia đình, bị kệt quệ về kinh tế.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 10: CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
...
2) Tội ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật (Điều 232)

- Đó là hành vi ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật về hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình và lao động trong các giai đoạn tố tụng về sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, thi hành án. Tính chất trái pháp luật được thể hiện ở nội dung bản án, hoặc quyết định (như: kết án người rõ ràng không có tội; tuyên không có tội đối với người rõ ràng có tội, truất quyền thừa kế, quyền sở hữu của công dân không có căn cứ hợp pháp; đình chỉ tố tụng không có căn cứ v.v…) Bản án hoặc quyết định có thể sai toàn bộ hoặc sai một phần sai này rõ ràng trái pháp luật.

- Hành vi đó là cố ý, tức là biết rõ là sai mà vẫn làm. Động cơ cá nhân (nếu có) chỉ có ý nghĩa về lượng hình. Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm tuyên án hoặc tống đạt quyết định trái pháp nói trên.

- Nếu do thiếu trách nhiệm (cẩu thả hoặc quá tự tin) mà bản án quyết định trái pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị xử lý theo Điều 220; nếu không có hậu quả nghiêm trọng, thì có thể bị xử lý hành chính.

- Chủ thể của tội phạm này là thẩm phán, hội thẩm nhân dân, tức là người có thẩm quyền ra bản án hoặc quyết định đối với bị cáo hoặc đương sự.

Theo nguyên tắc, hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán, do đó, mỗi thành viên trong Hội đồng xét xử đều có trách nhiệm hình sự khi cố ý ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật. Nhưng qua thực tiễn, cần xem xét sự việc cụ thể và thái độ của từng thành viên trong Hội đồng xét xử khi biểu quyết để xác định trách nhiệm cụ thể của từng người (như: đối với một bản án hoặc quyết định được cố ý ra trái pháp luật được biểu quyết theo đa số, một thành viên của Hội đồng xét xử đã biểu quyết ngược lại, thì không thể bị xử lý về tội này).

Theo nguyên tắc “khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Hội đồng xét xử trong mọi trường hợp đều phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc xét xử vụ án. Khi cần thiết hoặc khi Tòa án cấp dưới hỏi, Tòa án cấp trên có thể cho những ý kiếnchỉ đạo, hướng dẫn về việc áp dụng pháp luật, nhưng không đề ra mức xử lý cụ thể, và không có tính chầt ra mệnh lệnh. Do đó, nếu các thành viên của Hội đồng xét xử, theo sự hướng dẫn của cấp trên, ra bản án hoặc quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật vẫn bị xử lý theo Điều 232. Cấp trên hướng dẫn Hội đồng xét xử ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật có thể bị xử lý hành chính; nếu cho ý kiến có tính chất cố ý ép buộc Hội đồng xét xử ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật thì cũng bị xử lý về tội ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật (Điều 232).

- Hậu quả nghiêm trọng quy định ở Điều 232, khoản 2 thể hiện như: kẻ phạm tội nghiêm trọng đã trốn sau khi bản án tha sai; người bị kết án oan đã bị giam lâu ngày, tự sát, bị tan nát gia đình, bị kiệt quệ về kinh tế.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 10: CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
...
3) Tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật (Điều 233) có những dấu hiệu như:

- Chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy Nhà nước hoặc tổ chức xã hội, có quyền lực đối với nhân viên tư pháp; đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình như: ra chỉ thị, muốn chủ quan của mình, nếu không theo sẽ gặp khó khăn cho bản thân hoặc trong công tác (như bị thi hành kỷ luạt, mất thành tích, không được đề bạt hoặc mất quyền lợi khác…), mặc dù họ đã được nhân viên tư pháp trình bày rõ việc làm đó là trái pháp luật.

Nếu người có chức vụ, quyền hạn chỉ “nhờ vả” (không có tính chất ép buộc) nhân viên tư pháp mà người này lại tự nguyên làm thì sự “nhờ vả” đó không cấu thành tội phạm này.

- Phải có sự ép buộc làm trái pháp luật một cách nghiêm trọng như: ép buộc bắt giam người chỉ vi phạm nhỏ, tạm tha người đang cần phải tạm giữa hoặc tha người phạm tội không thể tha được, ép buộc truy tố người không có tội hoặc phạt nặng người phạm tội ít nghiêm trọng; ép buộc nhanh chóng xử ly hôn không trải qua điều tra, lập hồ sơ đầy đủ và tiến hành hòa giải… Sự ép buộc đó là đối với nhân viên tư pháp (như điều tra viên, kiềm sát viên, thẩm pháp, bội thẩm nhân dân, thư ký Tòa án, giám định viên…) tức là những người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi tố tụng.

- Người ép buộc thực hiện hành vi một cách cố ý tức là biết sai mà vẫn làm. Động cơ cá nhân (nếu có) chỉ có ý nghĩa về lượng hình.

Nếu do nghe báo cáo không chính xác mà quyết định cụ thể, không biết đó là sai, thì không cấu thành tội phạm này. Nếu do thiếu trách nhiệm mà ép buộc, gây hậu quả nghiêm trọng thì bị xử lý theo Điều 220 (tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng).

Nhân viên tư pháp biết rõ là bị ép buộc làm trái pháp luật mà vẫn làm, thì cũng phải chịu trách nhiệm hình sự (tùy theo hành vi cụ thể mà xử lý theo Điều 232 hoặc Điều 220).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 10: CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
...
4) Tội dùng nhục hình (Điều 234)

- Dùng nhục hình trong hoạt động tư pháp là tra tấn, đánh đập người bị điều tra, xéthỏi hoặc bị giam giữ, cũng như dùng những thủ đoạn tàn ác gây đau đớn về thể xác, gây tổn hại về sức khoẻ (như bắt nhịn đói, nhịn khác, ăn cơm nhạt, không cho ngủ…)

- Tội phạm thực hiện do cố ý; người dùng nhục hình biết rõ là trái pháp luật, nhưng vẫn thực hiện do động cơ cá nhân hoặc động cơ không đúng về lợi ích công tác. Động cơ phạm tội không có ý nghĩa đối với việc định tội. Động cơ không đúng, về lợi ích công tác có thể được xem xét khi lượng hình.

- Chủ thể của tội phạm là điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, nhân viên trại giam, trại cải tạo và cũng có thể là công an xã, phường trong khi hoạt động tư pháp (bắt giữ người khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền)

Nhân viên công an xã, phường, hải quan, thuế vụ, kiểm lâm dùng nhục hình trong khi xử lý về hành chính đối với người phạm pháp, người bị tình nghi thì bị xử lý theo Điều 221 về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc lạm quyền trong khi hành công vụ.

- Hậu quả nghiêm trọng quy định ở khoản 2 thể hiện như: người bị nhục hình bị suy kiệt, uất ức mà tự sát, gây ảnh hưởng chính trị không tốt.

Nếu nạn nhân bị chết hoặc bị gây thương tích, thì tùy tình tiết của vụ án, cần xử lý thêm về tội vô ý làm chết người (Điều 104), tội cố ý gây thương tích… (Điều 109) hoặc tội giết người (Điều 101).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 10: CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
...
5) Tội bức cung (Điều 235)

- Bức cung là dùng thủ đoạn trái pháp luật trong khi tiến hành điều tra làm cho người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng cho việc giải quyết vụ án.

Thủ đoạn trái pháp luật có thể là: dọa dùng nhục hình, dọa giam họ hoặc giam người thân của họ; không cho họ khai để tự bào chữa; ép buộc họ khai theo ý muốn của điều tra viên.

Hậu quả nghiêm trọng quy định trong điều luật có thể là: do bị bức cung, người bị thẩm vấn khai không đúng sự thật, dẫn đến việc bắt giữ, truy tố, xét xử ai, oan. Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định ở khoản 2 của điều luật thể hiện như: người bị bức cung do bị suy kiệt, do uất ức mà tự sát, do bị bắt giữ, truy tố, xét xử sai, oan mà kinh tế gia đình bị kiệt quệ, gia đình bị tan nát; gây ảnh hưởng chính trị không tốt đối với tính công minh của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Người bị thẩm vấn ở đây có thể là người bị tình nghi phạm tội, bị can, người làm chứng người bị hại.

Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm xảy ra hậu quả nghiêm trọng. Người bức cung thực hiện hành vi do cố ý, biết sai mà vẫn làm, do động cơ cá nhân hoặc động cơ sai trái vì lợi ích công tác. Động cơ không có ý nghĩa về mặt định tội.

Chủ thể của tội phạm có thể là điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán hoặc công an xã, phường trong khi hoạt động tư pháp (như: bắt, giữ người khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền…).

Nhân viên công an xã, phường, hải quan, thuế vụ, kiểm lâm bức cung trong khi xử lý về hành chính người phạm pháp, người bị tình nghi thì bị xử lý theo Điều 221 về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 10: CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
...
6) Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án (Điều 136)

- Tội phạm được thể hiện như: thêm, bớt, sửa đổi, hủy hoặc cố ý làm hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án nhằm làm sai lệch hồ sơ vụ án, tức là thực hiện một cách cố ý (thí dụ: làm thay đổi lời khai của người làm chứng, rút bớt giấy chứng thương, thay đổi vật chứng làm cho người có tội thành không có tội hay ngược lại, hoặc làm cho tội nặng thành tội nhẹ hay ngược lại).

Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm thực hiện một trong các hành vi trên đây làm cho hồ sơ không còn phù hợp sự thật khách quan của vụ án, không đòi hỏi phải có hậu quả xẩy ra.

- Chủ thể của tội phạm là điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, nhân viên tư pháp khác (như thư ký Tòa án…), luật sư, bào chữa viên, nói chung là những người do nhiệm vụ có quan hệ đến hồ sơ vụ án.

Hậu quả nghiêm trọng quy định ở khoản 2 thể hiện như: người có tội được miễn tố, được tuyên không phạm tội nhờ đó mà trốn tránh được trách nhiệm, người phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng được xử lý về tội ít nghiêm trọng hoặc về trường hợp ít nghiêm trọng người có tội bị bắt, giam oan, bị truy tố, xét xử oan gây công phẫn trong dư luận xã hội.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 7 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 10: CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
...
7) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn tha trái pháp luật người bị giam (Điều 238). Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn giam người trái pháp luật (Điều 239).

+ Chủ thể của hai tội này là:

a) - Người có thẩm quyền trong việc giam, tha (như: kiểm sát viên, thẩm phán);

b) - Người có chức vụ, quyền hạn có quan hệ đến người bị giam, nhưng không có thẩm quyền quyết định việc giam hoặc tha (như: nhân viên trại giam có nhiệm vụ thi hành quyết định giam hoặc quyết định tha).

+ Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn tha trái pháp luật người bị giam và lạm dụng chức vụ, quyền hạn giam người trái pháp luật được thể hiện như:

- Hành vi của chủ thể nói ở điểm a là ra lệnh tha không có lý do chính đáng, hợp pháp người đã có lệnh giam hoặc đã có án tù giam; không ra lệnh tha người đã hết hạn giam.

- Hành vi của chủ thể nói ở điểm b là tự mình tha người đang bị giam khi không có quyết định của Viên kiểm sát hay của Tòa án; không chấp hành lệnh tha người hết hạn tạm giam hoặc người hết hạn tù giam hoặc quyết định tạm hoãn, miễn hoặc giảm việc chấp hành hình phạt của Tòa án.

+ Theo Điều 238, tội phạm bị xử lý theo khoản 1 trong trường hợp không có hoặc có hậu quả nghiêm trọng; bị xử lý theo khoản 2 trong trường hợp phạm tội ra lệnh tha hoặc tha trái pháp luật người bị giam về một tội nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như: người được tha trái pháp luật ra ngoài xã hội lại phạm tội nghiêm trọng, hoặc đặc biệt nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu trong quần chúng…

Theo Điều 239, phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng được xử lý theo khoản 2 như: người đang bị giam đã có lệnh tha hoặc người hết hạn giam do không được tha mà uất ức dẫn tới tự sát, gây ảnh hưởng xấu trong dư luận xã hội…

+ Hành vi tha, giam trái pháp luật nói trên được thực hiện do cố ý. Nếu hành vi được thực hiện do tùy tiện, thiếu trách nhiệm (tức là do vô ý) thì bị xử lý theo Điều 220 (nếu có hậu quả nghiêm trọng) hoặc bị xử lý hành chính (nếu không có hậu quả nghiêm trọng).

+ Hành vi giam người trái pháp luật (người không có tội hoặc người không đáng bị giam) bị xử lý về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 119).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 7 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 8 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 10: CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
...
8) Tội không chấp hành án, tội cản trở việc thi hành án (Điều 240)

+ Tội không chấp hành án là tội của người mặc dù áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết mã vẫn cố ý không chấp hành án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

+ Tội không chấp hành án là tội của người mặc dù bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết mà vẫn cố ý không chấp hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ở đây là án và quyết định về dân sự, hôn nhân gia đình, lao động; án hình sự về cải tạo không giam giữ, quản chế, phạt tiền, bồi thường thiệt hại, tịch thu tài sản.

Đối với án hình sự về phạt tù, người được tại ngoại trốn thì bị truy nã và cưỡng chế chấp hành án; người bị giam trốn thì tùy từng trường hợp; bị xử lý theo Điều 84 (tội chống phá trại giam) hoặc theo Điều 245 (Tội trốn khỏi nơi giam).

Cố ý không chấp hành mặc dù bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết là những trường hợp như: bị cưỡng bức dọn đồ đạc để trả nhà hciếm igữ trái pháp mà kêu gào, xô đẩy, giằng co, gây huyên náo để chống lại; bị niêm phong, kê biên tài sản, phát mại tài sản hoặc khấu trừ lương (để buộc phải bồi thường thiệt hại, phải trả nợ hoặc thi hành việc trợ cấp nuôi con…) mà cũng có những hành vi như trên và có khi còn có những lời nói gây ảnh hưởng xấu cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội; người đang chấp hành án cải tạo không giam giữ đã được giải thích, giáo dục, răn đe vẫn không chịu nộp phần khấu trừ thu nhập do quyết định của bán án hoặc vẫn lẩn trốn sự giám sát, giáo dục của cơ quan hoặc tổ chức xã hội được giao trách nhiệm.

+ Tội cản trở việc thi hành án là tội của người có lợi dụng chức vụ, quyền hạn xúi giục hoặc tạo điều kiện cho người chấp hành án không chấp hành án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (thí dụ: không bắt người bị kết án tù đang tại ngoại đi chấp hành hình phạt; không khấu trừ tiền lương của bị đơn theo đúng chính sách pháp luật; không cho người có trách nhiệm thuộc quyền của mình thực hiện quyền lực của Nhà nước trong việc thi hành án…).

Bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, nếu còn bị khiếu nại mà chưa có quyết định khác của cấp có thẩm quyền thì vẫn phải bị xử lý theo Điều 240.

+ Chủ thể của tội không chấp hành án là người có nghĩa vụ chấp hành bản án hoặc quyết định và cũng có thể là người có quyền lợi quan hệ với người có nghĩa vụ chấp hành án; chủ thể của tội cản trở việc thi hành án là người có chức vụ, quyền hạn, có trách nhiệm thi hành án (chấp hành viên hoặc người có nghĩa vụ thực hiện quyền lực của Nhà nước trong việc thi hành án… hoặc người có chức vụ, quyền hạn, nhưng không có nghĩa vụ về việc thi hành án (như cán bộ cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội…).

+ Hai tội phạm đều được thực hiện do cố ý.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 8 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 9 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 10: CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
...
9) Tội cung cấp tài liệu sai sự thật, tội khai báo gian dối (Điều 241)

Tội phạm thể hiện ở những hành vi như: hành vi của giám định viên cố ý kết luận gian dối, sai trái với thực tế khách quan; hành vi của người phiên dịch bằng chữ viết hay lời nói, cố ý dịch gian dối, sai với lời khai của những người tham gia tố tụng hoặc những tài liệu trong hồ sơ vụ án; hành vi của người làm chứng cố ý khai hoặc cung cấp tài liệu mà mình biết rõ sai sự thật.

Những hành vi trên do thiếu trách nhiệm tức vô ý (đối với giám định viên, người phiên dịch), nếu có hậu quả nghiêm trọng thì bị xử lý theo Điều 220. Nếu do trí nhớ kém (đối với người làm chứng), thì không bị xử lý về hình sự.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 9 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 10 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 10: CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
...
10) Tội từ chối khai báo, tội từ chối kết luận giám định (Điều 242) thể hiện ở những hành vi như:

- Hành vi của người làm chứng, người bị hại cố ý từ chối hoặc trốn tránh khai báo (như: có giấy mời mà không đến hoặc đến nhưng không khai…) mà không có lý do chính đáng, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử.

Theo thực tiễn xét xử, người làm chứng có quan hệ thân thích với bị can, bị cáo (như bố mẹ, vợ chồng, anh chị em ruột) từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc về trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, vẫn bị xử lý theo Điều 242, nếu họ từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo về các trường hợp phạm tội khác, thì chiếu cố đến quan hệ gia đình nên không xử lý về mặt hình sự.

Cũng theo thực tiễn xét xử, đối với người làm chứng hoặc người bị hại vì bằng quan với vụ án, vì sợ phiền phức mất công việc hoặc sợ bị can, bị cáo trả thù mà từ chối hoặc trốn tránh khai báo, thì cần giáo dục mà không nên truy trách nhiệm hình sự.

Bị can, bị cáo từ chối hoặc trốn tránh khai báo không bị xử lý theo Điều 242 vì cơ quan Nhà nước có nhiệm vụ điều tra, chứng minh về tội phạm của họ.

- Hành vi của giám định viên cố ý từ chối hoặc trốn tránh việc kết luận giám định về việc đã được trưng cầu mà không có lý do chính đáng (như: không có trở ngại về sức khỏe, công tác) hoặc từ chối việc kết luận giám định vì có quan hệ thân thiết với bị can, bị cáo nhưng không có báo cáo rõ trước với cơ quan đã trưng cầu giám định, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thì bị xử lý theo Điều 242.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 10 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 11 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 10: CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
...
11) Tội vi phạm niêm phong, kê biên tài sản (Điều 244).

Tội phạm thể hiện ở những hành vi như: phá hủy niêm phong (xé, bóc, làm rách giấy niêm phong, làm đứt cặp chỉ…) tiêu dùng (tiêu dùng lương thực bị kê biên…), chuyển nhượng (chuyển thành sở hữu của người khác); đánh tráo (thay thế tài sản khác vào tài sản bị kê biên); cất giấu (đem tài sản bị kê biên đi giấu ở nơi khác); hoặc hủy hoại tài sản bị kê biên làm cho tài sản bị kê biên mất hẳn giá trị sử dụng.

Những hành vi nói trên do người chủ tài sản bị niêm phong, kê biên (hoặc người đại diện của họ được giao giữ) thực hiện một cách cố ý. Người có chức vụ, quyền hạn được giao giữ tài sản bị niêm phong, kê biên (do cơ quan Nhà nước quản lý nên được coi là tài sản xã hội chủ nghĩa) mà thực hiện hành vi phá hủy niêm phong thì cũng bị xử lý theo Điều 244; nếu tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấy hoặc hủy hoại tài sản bị kê biên, thì xử lý về “tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa” tương ứng với hình thức của hành vi đã thực hiện.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 11 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 12 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 10: CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
...
12) Tội trốn khỏi nơi giam (Điều 245).

Tội phạm này thể hiện ở hành vi của người đang bị giam (tức là đang có lệnh tạm giam hoặc đang chấp hành án tù) hoặc đang bị dẫn giải (do phạm pháp quả tang, do có lệnh tạm giam hoặc do chuyển trại…) mà bỏ trốn (tức là thoát khỏi sự quản lý của trại giam, trại cải tạo, hoặc của người dẫn giải). Tội phạm này được thực hiện do cố ý. Hành vi nói trên được thực hiện nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị xử lý theo Điều 84 về tội chống phá trại giam.

Hành vi trốn của người bị giữ, người bị tình nghi phạm tội (chưa có quyết định tạm giam) hoặc của người đang bị tập trung cải tạo (bị xử lý bằng một quyết định hành chính) không bị xử lý theo Điều 245, mà được xem xét khi xử lý tội phạm của họ (nếu có, đối với người bị tình nghi) hoặc khi xét về kết quả cải tạo của họ (đối với người bị tập trung cải tạo).

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 12 Chương 10 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 11: CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN

1. Tội chống mệnh lệnh (Điều 250). Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh (Điều 251)

+ Hai tội phạm đều xâm phạm việc chấp hành mệnh lệnh, giữ vững kỷ luật của quân đội và gây ảnh hưởng xấu đến sức chiến đấu, sức mạnh của lực lượng vũ trang. Tội chống mệnh lệnh có mức độ nguy hiểm hơn tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh.

Mệnh lệnh là mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc của cấp trên có thẩm quyền. Phải xem xét một cách toàn diện như: nội dung và tầm quan trọng của mệnh lệnh, cấp ra mệnh lệnh, thời gian, không gian của sự việc, hậu quả (nếu có) để đánh giá mức độ và tính nguy hiểm của hành vi chống mệnh lệnh hoặc chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh; nội dung của mệnh lệnh càng quan trọng, yêu cầu của mệnh lệnh càng khẩn trương, cấp ra mệnh lệnh càng cao, phạm vi chấp hành mệnh lệnh càng rộng, thì hậu quả và tính chất của tội phạm càng nghiêm trọng.

+ Tội chống mệnh lệnh là hành vi cố ý không chấp hành hoặc chấp hành ngược lại mệnh lệnh; tội phạm không đòi hỏi phải có hậu quả, nhưng nếu có hậu quả nghiêm trọng, thì xử lý theo khoản 2; nếu có hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì xử lý theo khoản 3.

Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh là hành vi chấp hành mệnh lệnh một cách lơ là, chậm trễ, tùy tiện, thể hiện ý thức thiếu trách nhiệm, cố ý về hành vi, nhưng vô ý gây hậu quả nghiêm trọng. Tội phạm này đòi hỏi phải có hậu quả nghiêm trọng mới bị xử lý theo khoản 1; nếu có hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị xử lý theo khoản 2.

+ Hậu quả nghiêm trọng (được quy định ở Điều 250 khoản 2 điểm 1 và Điều 251 khoản 1) thể hiện như: đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu; bộ đội thương vong nhiều.

+ Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (quy định ở điều 250, khoản 3 và điều 251, khoản 2) thể hiện như: đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, bộ đội bị thương vong nhiều, bị thiệt hại lớn về vũ khí, phương tiện chiến đấu.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 11: CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN

1. Tội chống mệnh lệnh (Điều 250). Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh (Điều 251)

+ Hai tội phạm đều xâm phạm việc chấp hành mệnh lệnh, giữ vững kỷ luật của quân đội và gây ảnh hưởng xấu đến sức chiến đấu, sức mạnh của lực lượng vũ trang. Tội chống mệnh lệnh có mức độ nguy hiểm hơn tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh.

Mệnh lệnh là mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc của cấp trên có thẩm quyền. Phải xem xét một cách toàn diện như: nội dung và tầm quan trọng của mệnh lệnh, cấp ra mệnh lệnh, thời gian, không gian của sự việc, hậu quả (nếu có) để đánh giá mức độ và tính nguy hiểm của hành vi chống mệnh lệnh hoặc chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh; nội dung của mệnh lệnh càng quan trọng, yêu cầu của mệnh lệnh càng khẩn trương, cấp ra mệnh lệnh càng cao, phạm vi chấp hành mệnh lệnh càng rộng, thì hậu quả và tính chất của tội phạm càng nghiêm trọng.

+ Tội chống mệnh lệnh là hành vi cố ý không chấp hành hoặc chấp hành ngược lại mệnh lệnh; tội phạm không đòi hỏi phải có hậu quả, nhưng nếu có hậu quả nghiêm trọng, thì xử lý theo khoản 2; nếu có hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì xử lý theo khoản 3.

Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh là hành vi chấp hành mệnh lệnh một cách lơ là, chậm trễ, tùy tiện, thể hiện ý thức thiếu trách nhiệm, cố ý về hành vi, nhưng vô ý gây hậu quả nghiêm trọng. Tội phạm này đòi hỏi phải có hậu quả nghiêm trọng mới bị xử lý theo khoản 1; nếu có hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị xử lý theo khoản 2.

+ Hậu quả nghiêm trọng (được quy định ở Điều 250 khoản 2 điểm 1 và Điều 251 khoản 1) thể hiện như: đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu; bộ đội thương vong nhiều.

+ Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (quy định ở điều 250, khoản 3 và điều 251, khoản 2) thể hiện như: đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, bộ đội bị thương vong nhiều, bị thiệt hại lớn về vũ khí, phương tiện chiến đấu.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 11: CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN
...
2. Tội đầu hàng địch (Điều 256).

+ Tội phạm này thể hiện ở hành vi của quân nhân trong chiến đấu với quân địch mà tự nguyện hạ vũ khí để cho địch bắt làm tù binh hoặc chạy sang hàng ngũ địch, không thuộc trường hợp quy định ở Điều 72 (tội phản bội Tổ quốc) và Điều 85 (tội trốn đi nước ngoài hoặc tội trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân).

Quân nhân chạy sang hàng ngũ địch trước hoặc sau trận đánh (như đang ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu; đang bảo vệ chốt, chờ lệnh nổ súng hoặc xuất kích… sau khi kết thúc giao chiến với địch…) nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 72 và Điều 85, cũng bị xử lý về tội đầu hàng địch.

Quân nhân trong chiến đấu bị địch bắt trong tình thế không có khả năng chống trả địch (như do bị thương hoặc bất ngờ bị địch bắt…), không bị coi là phạm tội.

+ Hậu quả nghiêm trọng quy định ở khoản 2 điểm d thể hiện như: bộ đội bị thương vong, một số mất tinh thần chiến đấu, đơn vị bị tan rã…

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 11: CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN
...
3. Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho dịch khi bị bắt làm tù binh (Điều 257)

+ Tội phạm này thể hiện ở hành vi của quân nhân khi bị bắt làm tù binh đã khai báo bí mật quân sự cho địch hoặc tự nguyên làm việc cho địch.

Khai báo bí mật quân sự cho địch có thể do bị địch cưỡng bức,dụ dỗ hoặc do tự nguyện. Khai báo bí mật quân sự hoặc bí mật công tác quân sự, có lợi cho địch. Bí mật càng quan trọng thì tội phạm càng nghiêm trọng.

Tự nguyên làm việc cho địch có thể là tự nguyện ngay từ đầu hoặc là lúc đầu bị địch cưỡng ép, dụ dỗ sau lại tự nguyện làm việc cho địch (như làm việc trong các cơ quan quân sự của địch, cung cấp tin tức cho địch về những người trong trại tù binh).

Nếu tự nguyện làm việc cho địch nhằm chống chính quyền nhân dân, thì tùy theo hành vi cụ thể mà xử lý về tội tương ứng như: nhận làm tay sai cho địch, cùng với quân địch xâm nhập lãnh thổ, thì bị xử lý về “tội phản bội Tổ quốc”; giả tạo trốn trại tù binh để trở về quân ngũ làm nội gián cho địch, thì bị xử lý về “tội gián điệp”.

Nếu nhận làm những công việc bình thường như: cuốc đất, làm vườn, y tá, nấu bếp, tạp vụ, đại diện tù binh để tiện giao dịch, chăm sóc anh em, thì không cấu thành tội phạm.

+ Gây hậu quả nghiêm trọng quy định ở khoản 2 điểm b thể hiện như: khai báo mọi mặt tình hình của đơn vị trong đó có kế hoạch bố phòng, kế hoạch tác chiến, do đó, đơn vị bị nhiều thương vong, bị thiệt hại lớn về vũ khí, phương tiện chiến đấu…

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 11: CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN
...
4. Tội bỏ vị trí chiến đấu (Điều 258)

+ Tội phạm thể hiện ở hành vi của quân nhân bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu.

Bỏ vị trí chiến đấu là tự ý rời khỏi vị trí của người quân dân đang chiến đấu với kẻ địch hoặc đang ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu (như: rời bỏ chốt tiền tiêu) nhưng không có ý thức rời bỏ hàng ngủ quân đội.

Không làm nhiệm vụ chiến đấu là tuy có mặt ở vị trí chiến đấu nhưng không thực hiện nhiệm vụ (như nấp dưới chiến hào không dám bắn trả quân địch).

Nếu bỏ vị trí chiến đấu sau đó lại rời bỏ hàng ngũ quân đội thì phạm hai tội: bỏ vị trí chiến đấu và đào ngũ.

+ Gây hậu quả nghiêm trọng quy định ở khoản 2 điểm d thể hiện như: chốt tiền tiêu bị tiêu diệt, kẻ địch lấn chiếm gây ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần chiến đấu của đơn vị…

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 11: CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN
...
5. Tội đào ngũ (Điều 259)

Tội phạm thể hiện ở hành vi của quân dân rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ, cụ thể là tự ý đi khỏi đơn vị, trốn về nhà hoặc trốn đi nơi khác, có ý thức bỏ hẳn đơn vị.

Quân nhân làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào hoặc Campuchia mà trốn ở lại nước đó, nếu không nhằm chống chính quyền nhân dân là phạm tội đào ngũ và tội ở lại nước ngoài trái phép (Điều 89). Quân nhân làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào hoặc Campuchia mà trốn sang nước ngoài khác, nếu không có mục đích chống chính quyền nhân dân là phạm tội đào ngũ và tội xuất cảnh trái phép.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 11: CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN
...
6. Tội trốn tránh nhiệm vụ (Điều 260)

+ Tội phạm thể hiện ở hành vi của quân nhân tự gây thương tích, gây tổn hại đến sức khỏe của mình hoặc dùng các thủ đoạn gian dối khác nhằm trốn tránh nhiệm vụ.

Tự gây thương tích có thể là tự mình hoặc nhờ người khác gây thương tích cho mình (như: bắn vào tay, vào chân, chặt đốt ngón tay bóp cò…) bằng bất kỳ phương tiện gì làm mất khả năng chiến đấu vĩnh viện hoặc tạm thời.

Tự gây thương tích có thể là tự mình hoặc có thể như uống hóa chất làm cho dạ dày bị loét, ăn cháo loãng dài ngày hoặc không ăn uống để cho sức khỏe bị giảm sút…

Dùng hình thức gian dối khác như: giả vờ ốm đau, bệnh tật, giả vờ lạc ngũ, nhập vào đơn vị khác…

Những hành vi trên nhằm không phải đi chiến đấu, không phải làm một nhiệm vụ cụ thể nào đó ở trong quân đội hoặc để được nhận một nhiệm vụ cụ thể khác.

Người phạm tội trốn tránh nhiệm vụ cũng không có ý thức rời bỏ hàng ngũ quân đội như người phạm tội bỏ vị trí chiến đấu, nhưng có chỗ khác nhau: người trốn tránh nhiệm vụ chỉ thực hiện hành vi phạm tội bằng hành động. Còn người phạm tội bỏ vị trí chiến đấu có thể thực hiện hành vi phạm tội không bằng hành động (có mặt ở vị trí chiến đấu nhưng không thực hiện nhiệm vụ)

+ Gây hậu quả nghiêm trọng quy định ở khoản 2 điểm d thể hiện như: gây ảnh hưởng lớn đến sức chiến đấu của đơn vị…

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 6 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 7 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 11: CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN
...
7. Tội vắng mặt trái phép (Điều 261)

+ Tội phạm được thể hiện ở hành vi của quân nhân không được cấp chỉ huy cho phép mà đi khỏi đơn vị có tính chất tạm thời và với ý thức sẽ quay trở lại đơn vị, không đến đơn vị đúng kỳ hạn như được cử đi công tác, được đi phép, ra bệnh viện mà tự ý về nhà, đi tranh thủ việc riêng, không đến đơn vị đúng hạn định mà không được cấp chỉ huy cho phép hoặc không có lý do chính đáng.

+ Đã bị thi hành kỷ luật tự phê bình, khiển trách, cảnh cáo… mà còn vi phạm; đó là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm

+ Người phạm tội vắng mặt trái phép không có ý thức rời bỏ hàng ngũ quân đội, mà chỉ là tạm thời vắng mặt ở đơn vị, thể hiện ý thức tự do vổ lỷ luật đến mức độ bị xử lý về hình sự.

Cần quan tâm vừa bảo đảm giữ vững kỷ luật của quân đội, vừa xem xét cụ thể thời gian, hoàn cảnh của sự việc, yêu cầu của chiến đấu hoặc nhiệm vụ trước mắt để xử lý thỏa đáng, tránh máy móc.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 7 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 8 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 11: CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN
...
8. Tội vi phạm quy định về sử dụng vũ khí (Điều 268)

Tội phạm được thể hiện ở hành vi của quân nhân được giao vũ khí, chất nổ để sử dụng, nhưng sử dụng không đúng quy định, nên đã vô ý gây hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản (như: bắn muông thú, hoặc dùng chất nổ đánh bắt cá làm chết người hoặc gây thương tích, làm cháy nhà…)

Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định ở khoản 2 được thể hiện như: gây chết từ 2 người trở lên hoặc làm bị thương nặng từ 3 người trở lên (hay 1 người chết và 2 người bị thương nặng) hoặc làm cháy nhiều nhà…

Người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn được giao sử dụng vũ khí, chất nổ, thực hiện tội phạm do vô ý và gây hậu quả nghiêm trọng. Người phạm tội quy định ở Điều 95 và Điều 96 không có chức vụ, quyền hạn thực hiện tội phạm do vô ý và bị coi là tội phạm dù chưa gây hậu quả.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 8 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 9 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 11: CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN
...
9. Tội quấy nhiễu nhân dân (Điều 273).

Tội phạm này xâm phạm tình đoàn kết quân dân, tình thương yêu, chăm sóc, xây dựng của nhân dân đối với quân đội.

Tội phạm thể hiện ở hành vi của quân nhân quấy nhiễu gây thiệ thại cho nhân dân, làm mất đoàn kết quân dân như: xin d6an không cho cứ lấy, mượn đồ dùng làm hư hỏng không chịu sửa chữa trước khi trả, mua chịu, trả nợ dây dưa, chọc ghẹo phụ nữ… Hành vi thường xảy ra nhiều lần và liên tiếp.

Thiệt hại gây cho nhân dân là không đáng kể, nhưng gây nhiều phiền hà cho nhân dân, làm cho nhân dân xa lánh, phẫn nộ, sợ sệt… Nếu gây thiệt hại đáng kể về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản thì phải xử lý về tội phạm tương ứng. Cần xem xét thận trọng, xác định rõ hậu quả là làm mất đoàn kết quân dân để xác định tội phạm và xử lý cho thỏa đáng.

Hậu quả nghiêm trọng quy định ở khoản 2 điểm d thể hiện như: nhân dân địa phương không hợp tác với quân đội, hoặc yêu cầu đơn vị chuyển đi nơi khác…

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 9 Chương 11 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986
- Chương này được hướng dẫn bởi Chương 12 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986

Căn cứ Điều 24 Luậ tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao họp trong các ngày 28 và 29-11-1986 với sự tham gia của đồng chí đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí đại diện Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ra Nghị quyết hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
...
Chương 12: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG CỦA PHẦN CÁC TỘI PHẠM

1. Việc vận dụng điều luật quy định nhiều tội phạm

Thương thường một điều luật quy định một tội phạm; nhưng cũng có trường hợp một điều luật quy định nhiều tội phạm. Việc quy định đó theo quy ước tương đối hợp lý là do tội phạm đó gần gũi nhau, có nguyên tắc, đường lối xử lý giống nhau và trong một số trường hợp, có thể thống nhất làm một.

Việc vận dụng một điều luật quy định nhiều tội phạm, tùy theo trường hợp, có thể được thực hiện theo một trong các cách sau đây:

a) Đối với hành vi cấu thành một tội phạm nào trong điều luật quy định nhiều tội phạm, thì xử lý theo tên của tội phạm đó mà không viện dẫn toàn bộ tên tội của điều luật. Thí dụ: Điều 95 quy định năm tội, có trường hợp Tòa án xử lý một bị cáo chỉ phạm một tội, tội mua bán trái phép vũ khí quân dụng.

b) Đối với những hành vi cấu thành nhiều tội phạm được quy định trong điều luật, nếu các hành vi đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, thì xử lý theo tên tội với đầy đủ các hành vi đã được thực hiện và được quy định tại điều luật. Thí dụ: theo Điều 95, có trường hợp Tòa án xử lý một bị cáo về tội chế tạo, tàng trữ vũ khí quân dụng (do bị cáo chế tạo xong rồi tàng trữ).

Nếu các hành vi đó tuy có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng hành vi nọ là điều kiện để thực hi