• Lữu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Luật giáo dục


Văn bản pháp luật về Luật trẻ em

Văn bản pháp luật về Đạo đức nhà giáo

Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991

Tải về Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991
Bản Tiếng Việt

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 57-LCT/HĐNN8

Hà Nội, ngày 12 tháng 8 năm 1991

 

LUẬT

BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA QUỐC HỘI SỐ 57-LCT/HĐNN8 

Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để nâng cao trách nhiệm của gia đình, cơ quan Nhà nước, nhà trường, tổ chức xã hội và công dân trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhằm bồi dưỡng các em trở thành công dân tốt của đất nước theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh;
Căn cứ vào các Điều 41, 64, 65 và 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật này quy định các quyền cơ bản, bổn phận của trẻ em và việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi.

Điều 2

Trẻ em, không phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con riêng, con chung; không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc của người nuôi dưỡng, đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật.

Điều 3

Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân.

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài nước góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Điều 4

Các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện.

Mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em, đều bị nghiêm trị.

Chương 2:

CÁC QUYỀN CƠ BẢN VÀ BỔN PHẬN CỦA TRẺ EM

Điều 5

1- Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch.

2- Trẻ em không rõ cha, mẹ, khi có yêu cầu, được cơ quan có thẩm quyền giúp đỡ xác định cha, mẹ cho mình.

Điều 6

1- Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dạy để phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức.

2- Trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em ở vùng cao, hải đảo, vùng xa xôi hẻo lánh, được Nhà nước tạo điều kiện trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.

3- Trẻ em tàn tật, trẻ em có khuyết tật, được Nhà nước và xã hội giúp đỡ trong việc điều trị, phục hồi chức năng để hoà nhập vào cuộc sống xã hội; được thu nhận vào các trường, lớp đặc biệt.

4- Trẻ em không nơi nương tựa, được Nhà nước và xã hội tổ chức chăm sóc, nuôi dạy.

Điều 7

Trẻ em có quyền sống chung với cha mẹ. Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹ, trừ trường hợp vì lợi ích của đứa trẻ.

Việc giao, nhận trẻ em làm con nuôi phải theo quy định của pháp luật, bảo đảm cho đứa trẻ được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt.

Mọi trường hợp đưa trẻ em ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào, phải theo quy định của pháp luật.

Điều 8

1- Trẻ em được Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng của mình về những vấn đề có liên quan.

2- Nghiêm cấm việc ngược đãi, làm nhục, hành hạ, ruồng bỏ trẻ em; bắt trộm, bắt cóc, mua bán, đánh tráo trẻ em; kích động, lôi kéo, ép buộc trẻ em thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật hoặc làm những việc có hại đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em.

Điều 9

1- Trẻ em được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ. Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế của Nhà nước theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.

2- Cơ quan y tế Nhà nước có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc phòng bệnh và khám sức khoẻ định kỳ cho trẻ em.

3- Nghiêm cấm việc sử dụng lao động trẻ em trái quy định của pháp luật, có hại cho sự phát triển bình thường của trẻ em.

Điều 10

1- Trẻ em có quyền được học tập và có bổn phận học hết chương trình giáo dục phổ cập. Trẻ em học bậc tiểu học trong các trường, lớp quốc lập không phải trả học phí.

2- Cha mẹ, người đỡ đầu có trách nhiệm tạo điều kiện tốt cho con em học tập.

3- Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền học tập của trẻ em, khuyến khích trẻ em học tập tốt và tạo điều kiện để trẻ em phát triển năng khiếu.

Điều 11

1- Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi.

2- Nhà nước khuyến khích và bảo trợ việc xây dựng, bảo vệ, sử dụng tốt những cơ sở vật chất, kỹ thuật và phương tiện phục vụ trẻ em học tập, sinh hoạt và vui chơi.

3- Nghiêm cấm việc sử dụng những cơ sở vật chất, phương tiện công cộng dành cho việc học tập, vui chơi, giải trí của trẻ em vào mục đích khác.

Điều 12

Trẻ em có quyền có tài sản, quyền thừa kế, quyền hưởng các chế độ bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Cha mẹ, người đỡ đầu hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan phải giữ gìn, quản lý tài sản của trẻ em và giao lại cho trẻ em khi đến tuổi thành niên.

Điều 13

Trẻ em có bổn phận:

1- Yêu quý, kính trọng, hiếu thảo đối với ông bà, cha mẹ, lễ phép với người lớn, thương yêu em nhỏ, đoàn kết với bạn bè, giúp đỡ người già yếu, tàn tật, giúp đỡ gia đình làm những việc vừa sức mình;

2- Chăm chỉ học tập, rèn luyện thân thể; tuân theo nội quy của nhà trường;

3- Tôn trọng pháp luật; thực hiện nếp sống văn minh, trật tự công cộng và an toàn giao thông; giữ gìn của công, tôn trọng tài sản của người khác;

4- Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Điều 14

1- Trẻ em không được đánh bạc, uống rượu, hút thuốc và dùng các chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ.

2- Nghiêm cấm việc lôi kéo trẻ em đánh bạc, cho trẻ em uống rượu, hút thuốc, dùng chất kích thích có hại cho sức khoẻ.

3- Nghiêm cấm việc dụ dỗ, dẫn dắt trẻ em mại dâm, bán hoặc cho trẻ em sử dụng những văn hoá phẩm đồi truỵ, đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ em.

Điều 15

Việc truy cứu trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự đối với trẻ em vi phạm pháp luật, phải theo quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên.

Chương 3:

TRÁCH NHIỆM CỦA GIA ĐÌNH, NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI

Điều 16

1- Cha mẹ hoặc người đỡ đầu là người trước tiên chịu trách nhiệm về việc bảo vệ, chăm sóc, nuôi dạy trẻ em, dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em.

2- Cha mẹ, các thành viên lớn tuổi khác trong gia đình, người đỡ đầu phải làm gương tốt về mọi mặt cho trẻ em noi theo; khi gặp khó khăn tự mình không giải quyết được, có thể yêu cầu cơ quan hoặc tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện tốt nghĩa vụ của mình.

3- Trong trường hợp ly hôn hoặc trong các trường hợp khác, người cha hoặc người mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên có nghĩa vụ đóng góp để nuôi dưỡng, giáo dục con; có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con theo quy định của pháp luật.

Nghiêm cấm hành vi xúi giục trẻ em thù ghét cha mẹ, gia đình hoặc người đỡ đầu.

Điều 17

Cha mẹ, người đỡ đầu phải chịu trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự về những thiệt hại do hành vi của đứa trẻ mình nuôi dạy gây ra.

Điều 18

1- Nhà trẻ, trường, lớp mẫu giáo, trường phổ thông phải có những điều kiện cần thiết để bảo đảm chất lượng nuôi dạy trẻ em, thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của Nhà nước.

2- Cô nuôi dạy trẻ, giáo viên, tổng phụ trách Đội phải được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, phải có sức khoẻ, có phẩm chất, đạo đức tốt, yêu nghề, yêu trẻ, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ.

Điều 19

1- Nhà nước dành một tỷ lệ ngân sách thích đáng trong kế hoạch hàng năm cho việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2- Các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp, theo chức năng, quyền hạn của mình, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện chương trình công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, bảo đảm thực hiện các quyền của trẻ em.

3- Các cơ quan bảo vệ pháp luật, theo chức năng của mình, có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp thực hiện việc bảo vệ các quyền và lợi ích của trẻ em, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật của trẻ em, giáo dục trẻ em hư và cải tạo trẻ em vi phạm pháp luật.

Điều 20

Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em có nhiệm vụ giúp Hội đồng bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân cùng cấp hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc và giám sát việc thực hiện kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; tổ chức sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế có liên quan để thực hiện việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Điều 21

1- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm:

a) Tuyên truyền, giáo dục đoàn viên, hội viên và nhân dân chấp hành tốt pháp luật về trẻ em;

b) Vận động các gia đình thực hiện tốt việc chăm sóc, giáo dục trẻ em;

c) Chăm lo, bảo vệ quyền lợi của trẻ em, giám sát việc chấp hành pháp luật về trẻ em, đưa ra những kiến nghị cần thiết đối với các cơ quan Nhà nước hữu quan để thực hiện những nhiệm vụ đó; ngăn ngừa những hành vi và kháng nghị đối với những quyết định xâm phạm quyền, lợi ích của trẻ em.

2- Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, ngoài trách nhiệm quy định tại khoản 1, Điều này, có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan để tổ chức, hướng dẫn việc nuôi con khoẻ, dạy con ngoan.

3- Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, ngoài trách nhiệm quy định tại khoản 1, Điều này, có nhiệm vụ phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, tổ chức, hướng dẫn hoạt động của thiếu nhi.

Điều 22

1- Nhà nước bảo trợ các công trình khoa học và công nghệ, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, mọi sáng kiến, việc làm có lợi cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; khuyến khích các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần dành một phần quỹ phúc lợi hoặc lợi nhuận vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2- Quỹ bảo trợ trẻ em được thành lập bằng sự đóng góp của các cơ quan Nhà nước, đoàn thể nhân dân, tổ chức kinh tế, văn hoá, tổ chức từ thiện, tổ chức nhân đạo và các tổ chức xã hội khác, của các cá nhân ở trong nước, ngoài nước, viện trợ quốc tế cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

3- Nghiêm cấm việc sử dụng Quỹ bảo trợ trẻ em và các nguồn tài chính khác dành cho việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vào mục đích khác.

Chương 4:

KHEN THƯỞNG VÀ XỦ LÝ VI PHẠM

Điều 23

Cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, được khen thưởng theo chế độ chung của Nhà nước.

Điều 24

Người xâm phạm quyền của trẻ em, ngược đãi, làm nhục, hành hạ, ruồng bỏ trẻ em; kích động, lôi kéo, ép buộc trẻ em thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em làm hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tuỳ theo mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Chương 5:

ĐIỀU KHỎAN CUỐI CÙNG

Điều 25

Những quy định trước đây trái Luật này đều bãi bỏ.

Điều 26

Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 9, thông qua ngày 12 tháng 8 năm 1991.

 

 

Võ Chí Công

(Đã ký)

 

- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam được hướng dẫn bởi Nghị định 362-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 07/09/1994)

Để thi hành Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ban hành ngày 16 tháng 8 năm 1991,
...
Điều 1.

Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam là cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng; có chức năng tổ chức phối hợp hoạt động của các ngành, các cấp, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức nhân đạo, để thực hiện các mục tiêu, kế hoạch, chế độ, chính sách và chương trình hành động vì trẻ em nhằm thực hiện Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em nước ta như những cam kết của nước ta với cộng đồng quốc tế về Công ước trẻ em.

Thành phần Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam gồm:

- Chủ tịch Uỷ ban, do một Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm nhiệm

- Các Phó Chủ tịch Uỷ ban, trong đó có một Phó Chủ tịch chuyên trách.

Các Phó Chủ tịch Uỷ ban là đại diện Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế.

Các Uỷ viên là đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Hội đồng Đội Trung ương, các Bộ Văn hoá - Thông tin và Thể thao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính.

Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam được sử dụng con dấu và có ngân sách riêng.

Bộ máy chuyên trách của Uỷ ban do Chủ tịch Uỷ ban quyết định.

Điều 2. Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a) Xây dựng phương hướng, kế hoạch, chương trình hành động, các chế độ, chính sách về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định. Chủ trì tổ chức phối hợp triển khai và hướng dẫn đôn đốc các ngành, các địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch, chương trình đó.

b) Phối hợp với các ngành, Uỷ ban Nhân dân các cấp, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan truyền thông đại chúng tổ chức việc tuyên truyền, phổ biến Luật và các chính sách về bảo vệ và chăm sóc trẻ em; kết hợp chặt chẽ chương trình hành động chung của Chính phủ về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em với chương trình kế hoạch công tác cụ thể của các ngành, các địa phương.

c) Phối hợp với Uỷ ban kế hoạch nhà nước trong việc xây dựng kế hoạch và ngân sách đầu tư cho các chương trình chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em.

d) Phối hợp với Bộ Tài chính trong việc bảo đảm ngân sách và phân phối sử dụng ngân sách, vốn đầu tư và trang thiết bị phục vụ việc chăm lo sức khoẻ, học tập, vui chơi giải trí của trẻ em.

đ) Được Hội đồng Bộ trưởng uỷ nhiệm yêu cầu và tiếp nhận viện trợ của các tổ chức quốc tế và nước ngoài cho các chương trình vì trẻ em; cùng Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước thực hiện việc phân bổ và hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc sử dụng viện trợ về công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em nhằm đạt hiệu quả cao.

e) Tổ chức việc kiểm tra, đánh giá kết quả việc thực hiện chương trình chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em.

Điều 3.

Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình thông qua hoạt động tập thể của Uỷ ban, hoạt động của từng thành viên trong Uỷ ban và hoạt động của Thường trực Uỷ ban.

Chủ tịch và các Phó chủ tich hợp thành Thường trực Uỷ ban.

Chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em chịu trách nhiệm chung trước Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về toàn bộ hoạt động của Uỷ ban.

Phó chủ tịch chuyên trách giúp Chủ tịch lãnh đạo, điều khiển bộ máy công tác của Uỷ ban, được Chủ tịch uỷ nhiệm quyết định một số công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban.

Các uỷ viên Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào công việc của Uỷ ban. Các cơ quan, đoàn thể có đại diện là thành viên có trách nhiệm chỉ đạo các tổ chức trong ngành thực hiện các chương trình, kế hoạch về bảo vệ, chăm sóc trẻ em như đã được phân công, tạo điều kiện để đại diện của cơ quan đoàn thể trong Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em hoạt động đều đặn và có hiệu quả.

Điều 4.

Ở một số Bộ phải tiến hành nhiều công tác liên quan đến nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em như: Bộ y tế, Bộ giáo dục và đào tạo, Bộ văn hoá - Thông tin và thể thao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần có cán bộ chuyên trách giúp Bộ trưởng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra các công việc của Bộ về thi hành Luật bảo vệ và chăm sóc, giáo dục trẻ em và thực hiện chương trình hành động của Chính phủ ta về trẻ em.

Ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em trực thuộc Uỷ ban Nhân dân do một Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân kiêm Chủ tịch Uỷ ban. Uỷ ban có một Phó chủ tịch chuyên trách và một số cán bộ chuyên trách, số lượng do Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố quy định.

Ở cấp huyện, quận và tương đương thành lập Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em trực thuộc Uỷ ban Nhân dân do Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân làm Chủ tịch Uỷ ban, có cán bộ chuyên trách giúp việc đặt tại Văn phòng Uỷ ban Nhân dân.

Ở cấp xã, phường thành lập Ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em trực thuộc Uỷ ban Nhân dân do một Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân làm Trưởng ban.

Điều 5.

Nghị định này thay thế quyết định số 259-CT ngày 25 tháng 9 năm 1989, quyết định số 329-CT ngày 12 tháng 9 năm 1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, quyết định số 112-NV ngày 2 tháng 5 năm 1961 của Bộ Nội vụ. Các văn bản quy định trước đây của Hội đồng Bộ trưởng và của các cơ quan trung ương khác trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Chủ tịch Uỷ ban chăm sóc và bảo vệ trẻ em Việt Nam chịu trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện Nghị định này.

Xem nội dung VB
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam được hướng dẫn bởi Nghị định 362-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 07/09/1994)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 1 Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)

Căn cứ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em công bố ngày 16 tháng 8 năm 1991;
...
Điều 1.

1. Trẻ em là công dân Việt Nam, sống ở trong nước, được hưởng các quyền theo quy định của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và các văn bản pháp luật khác.

Các quyền của trẻ em được tôn trọng và thực hiện.

Trẻ em phải làm tròn bổn phận của mình theo quy định của pháp luật.

2. Trẻ em là công dân Việt Nam, trong thời gian sinh sống ở nước ngoài, được Nhà nước bảo vệ quyền các em được hưởng và làm tròn bổn phận của mình theo quy định của Luật pháp Việt Nam và luật pháp của nước trẻ em Việt Nam đang sinh sống; trường hợp luật pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và luật pháp của nước trẻ em đang sinh sống có quy định khác nhau, thì quyền và bổn phận của trẻ em được thực hiện theo quy chế quản lý người nước ngoài của nước sở tại, theo thủ tục ngoại giao hai nước và theo tinh thần công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 mà hai nước đã tham gia.

3. Trẻ em có quốc tịch nước ngoài, trẻ em không có quốc tịch sinh sống ở Việt Nam được Nhà nước Việt Nam bảo hộ các quyền của trẻ em quy định tại Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em theo quy chế quản lý người nước ngoài của Việt Nam và thủ tục ngoại giao hai nước.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 1 Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 3, 4 Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)

Căn cứ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em công bố ngày 16 tháng 8 năm 1991;
...
Điều 3. Trẻ em được quyền khai sinh theo họ cha hoặc họ mẹ.

Sau khi sinh con, chậm nhất là một tháng, cha mẹ phải làm giấy khai sinh cho con.

Trường hợp có khó khăn, thời hạn khai sinh cho con chậm nhất không quá ba tháng.

Trẻ em trong mọi độ tuổi, không kể vì lý do gì, nếu chưa được khai sinh thì bản thân, cha mẹ hay người đỡ đầu có quyền yêu cầu cơ quan chức năng tiến hành khai sinh cho trẻ em. Cơ quan chức năng phải đáp ứng yêu cầu đó một cách thuận lợi, không được gây khó khăn, phiền hà.

Điều 4. Trẻ em chưa có quốc tịch hoặc muốn thay đổi quốc tịch thì bản thân, cha mẹ hay người đỡ đầu có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định hoặc thay đổi quốc tịch cho trẻ em, theo quy định của pháp luật. Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm giúp đỡ trẻ em, cha mẹ hay người đỡ đầu thực hiện yêu cầu đó một cách thuận lợi.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 3, 4 Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)

Căn cứ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em công bố ngày 16 tháng 8 năm 1991;
...
Điều 5. Trẻ em không rõ cha, mẹ, khi có đơn yêu cầu xác định cha, mẹ cho mình, thì cơ quan nhận đơn có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu đó. Nếu việc đó không thuộc chức năng, quyền hạn của mình, cơ quan nhận đơn có trách nhiệm chuyển đơn hoặc hướng dẫn người làm đơn đến cơ quan có chức năng, thẩm quyền, yêu cầu giúp đỡ giải quyết.

Cơ quan có chức năng, thẩm quyền sau khi nhận đơn, phải giúp đương sự thực hiện yêu cầu, không được thoái thác trách nhiệm của mình.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 6, 7, 8, 9 Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)

Căn cứ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em công bố ngày 16 tháng 8 năm 1991;
...
Điều 6. Trong việc chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em, Bộ Y tế có trách nhiệm:

1. Dựa vào Ngân sách Nhà nước dành cho y tế, khả năng huy động xã hội đóng góp và viện trợ quốc tế, tiến hành xây dựng, củng cố mạng lưới y tế từ trung ương đến cơ sở, ban hành quy chế về phòng bệnh, khám bệnh và chữa bệnh cho trẻ em: từng bước thực hiện việc khám sức khoẻ định kỳ và lập sổ theo dõi sức khoẻ cho trẻ em; bảo đảm cho trẻ em dưới 6 tuổi được khám bệnh và chữa bệnh tại cơ sở y tế của Nhà nước không phải trả tiền; đặc biệt quan tâm đến trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em tàn tật và trẻ em có khuyết tật, tạo điều kiện để các em trở lại cuộc sống bình thường.

2. Có kế hoạch sản xuất các thứ thuốc cần thiết cho trẻ em, bảo đảm điều kiện và chất lượng khám bệnh và chữa bệnh, đặc biệt là số lượng và chất lượng cán bộ, nhân viên y tế chuyên khoa nhi, cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, thuốc men.

3. Cùng với Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Bộ Giáo dục và Đào tạo, xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các chế độ phòng bệnh, khám bệnh và chữa bệnh cho trẻ em, khám và chữa bệnh cho những người làm công việc hàng ngày tiếp xúc với trẻ em; hướng dẫn cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng các em cách phòng bệnh và chữa một số bệnh thông thường.

Điều 7. Cha mẹ, người đỡ đầu có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khoẻ, về tiêm chủng, theo kế hoạch của y tế cơ sở, thực hiện các quyết định của thầy thuốc về khám bệnh, chữa bệnh đối với trẻ em.

Điều 8. Các cơ quan xí nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức, đơn vị cơ sở khác, không được phân công những người đang có bệnh truyền nhiễm vào những công việc phải tiếp xúc với trẻ em.

Điều 9. Cấm đặt kho có chứa chất nổ, chất cháy, chất độc hại, hoặc cơ sở sản xuất, kinh doanh có chất thải độc hại, có tiếng ồn lớn, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường, nơi có nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học, cơ sở y tế, văn hoá phục vụ trẻ em.

Không được xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học, cơ sở y tế, văn hoá phục vụ trẻ em gần những nơi có kho tàng và cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các loại nói trên.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 6, 7, 8, 9 Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)
- Chương này được hướng dẫn bởi Điều 10 đến Điều 25 Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)

Căn cứ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em công bố ngày 16 tháng 8 năm 1991;
...
Điều 10. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm:

1. Hướng dẫn và giúp Uỷ ban nhân dân các cấp xây dựng, mở rộng mạng lưới nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học cả quốc lập và dân lập, để ngày càng thu nhận được nhiều trẻ em trong độ tuổi vào học.

2. Phối hợp với các ngành hữu quan ở trung ương và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức, chỉ đạo xây dựng và phát triển các lớp năng khiếu cho trẻ em, các trường lớp dành riêng cho trẻ em tàn tật và trẻ em có khuyết tật.

3. Ban hành Quy chế về nhà trẻ, trường lớp mẫu giáo, trường phổ thông, nhằm bảo đảm những điều kiện cần thiết cho việc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em đạt hiệu quả tốt; học sinh học tại các trường, lớp tiểu học của Nhà nước không phải trả học phí.

4. Kết hợp với các ngành Y tế và Tư pháp đưa chương trình giáo dục y tế học đường, chương trình giáo dục pháp luật phù hợp với học sinh từng độ tuổi, vào giảng dạy tại các trường, lớp mẫu giáo, phổ thông.

Điều 11. Nhà nước khuyến khích việc thành lập Hội cha mẹ học sinh. Hội bảo trợ học đường, các tổ chức chăm sóc, giáo dục trẻ em, góp phần cùng nhà trường, cùng chính quyền địa phương chăm lo việc tu sửa trường lớp, quản lý, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm giúp đỡ tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả, theo sự hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế và Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em.

Điều 12. Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Văn hoá - Thông tin và Thể thao, theo chức năng của mình, có trách nhiệm phối hợp với các ngành, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội có liên quan, tổ chức việc giáo dục, bồi dưỡng cho người làm cha, mẹ những kiến thức cần thiết về nuôi dạy con.

Điều 13. Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em các cấp có trách nhiệm giúp đỡ, tạo điều kiện cho Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Phụ nữ cùng cấp tổ chức các hoạt động tập hợp, giáo dục thiếu nhi và tổ chức phong trào nuôi con khoẻ, dạy con ngoan.

Điều 14. Bộ Văn hoá - Thông tin và Thể thao, Bộ Thương mại và Du lịch, có trách nhiệm:

1. Phối hợp với các ngành hữu quan nghiên cứu, hướng dẫn, thực hiện kế hoạch và phương pháp luyện tập tăng cường sức khoẻ cho trẻ em phù hợp với từng lứa tuổi.

2. Phối hợp với Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội khác, các Hội văn học nghệ thuật và các ngành hữu quan, xây dựng và thực hiện các kế hoạch phục vụ nhu cầu văn hoá, nghệ thuật, thể thao, du lịch của trẻ em; chỉ đạo các cơ quan thuộc phạm vi, quản lý của Bộ và Uỷ ban nhân dân các địa phương thực hiện các kế hoạch đó, chú trọng các mặt sau đây:

a) Tổ chức việc sáng tác, xuất bản, phát hành các loại sách báo, phim ảnh, nhạc, hoạ và xây dựng các tiết mục sân khấu như múa, hát, nhạc, kịch, xiếc v.v... thích hợp với trẻ em, bảo đảm tỷ lệ ít nhất là 15% so với tổng số tác phẩm, văn hoá phẩm sản xuất, xuất bản hàng năm.

b) Tổ chức việc sản xuất các dụng cụ thể dục thể thao, dụng cụ giáo dục thẩm mỹ cho trẻ em.

c) Xây dựng các thư viện, câu lạc bộ, nhà văn hoá, nhà hát, rạp chiếu phim, cơ sở tập luyện, v.v... dành cho trẻ em. Nếu chưa có điều kiện xây dựng những công trình riêng cho trẻ em, phải quy định ít nhất là dành 20% thời gian cho trẻ em trong kế hoạch sử dụng các công trình chung.

3. Quy định những bộ phim và những tiết mục sân khấu không được chiếu, biểu diễn cho trẻ em xem. Các nhà hát, rạp chiếu phim hoặc đơn vị tổ chức chiếu, biểu diễn, không được để trẻ em vào xem những phim và tiết mục sân khấu đó; không phát trên Đài phát thanh, Đài truyền hình những phim, tiết mục sân khấu nói trên.

Điều 15. Nghiêm cấm việc sản xuất, nhập khẩu, sao lại, tàng trữ và lưu hành những văn hoá phẩm, đồ chơi có hại cho việc giáo dục trẻ em.

Công dân Việt Nam phát hiện những văn hoá phẩm, đồ chơi có hại cho việc giáo dục trẻ em, có trách nhiệm báo cho cơ quan hoặc viên chức có chức năng, thẩm quyền biết sự việc để xem xét xử lý.

Cơ quan, viên chức nhận được thông báo của công dân, phải tiến hành xem xét, xử lý kịp thời và thông báo kết quả xử lý cho công dân đó biết.

Điều 16. Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội có trách nhiệm:

1. Ban hành danh mục những loại công việc không được sử dụng lao động trẻ em và danh mục những công việc chỉ được sử dụng lao động trẻ em trong độ tuổi quy định.

2. Tổ chức quản lý, chỉ đạo việc chăm sóc, giáo dục trẻ em là con liệt sĩ, con thương binh nặng, và trẻ em không nơi nương tựa; phối hợp với các cơ quan, các ngành, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội hữu quan chỉ đạo việc tổ chức, xây dựng mạng lưới nuôi dạy các em.

3. Tổ chức quản lý và chỉ đạo việc chỉnh hình, phục hồi chức năng cho trẻ em có khuyết tật; tổ chức việc dạy nghề và lao động cho những trẻ em tàn tật nhưng còn khả năng lao động, nghiên cứu sản xuất và cung cấp các phương tiện lao động, sinh hoạt chuyên dùng cho trẻ em.

4. Nghiêm cấm: việc bắt trẻ em đi ăn xin hoặc làm những việc không lành mạnh để kiếm tiền cho người lớn; việc lợi dụng danh nghĩa nuôi con nuôi để bóc lột trẻ em, bắt trẻ em làm công việc nặng nhọc, quá sức mình; việc không trả công lao động cho trẻ em tương xứng với công sức các em bỏ ra.

Điều 17. Bộ Công nghiệp nhẹ, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Bộ Thương mại và Du lịch, theo chức năng của mình có kế hoạch thực hiện hoặc phối hợp thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh phục vụ trẻ em ngày một tốt hơn các mặt hàng lương thực, thực phẩm, dược phẩm, học phẩm, văn hoá phẩm, dụng cụ y tế, thể dục thể thao, đồ chơi, đồ dùng và quần áo, giày dép trẻ em.

Điều 18. Không được sử dụng nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học, cơ sở y tế, văn hoá, thể thao và những cơ sở khác dành để phục vụ chăm sóc, giáo dục trẻ em vào mục đích khác; trường hợp sử dụng những cơ sở đó vào việc lợi khác, không ảnh hưởng xấu đến việc phục vụ trẻ em, phải được sự thoả thuận của cơ quan trực tiếp quản lý cơ sở đó và phải bảo đảm không để cơ sở đó bị xuống cấp.

Nếu vì lợi ích chung, cần sử dụng những cơ sở nói trên vào mục đích khác, phải được sự thoả thuận của ngành chủ quản và được Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền quản lý ra quyết định, sau khi đã bố trí cơ sở khác tương xứng để thay thế.

Điều 19. Bộ Nội vụ có trách nhiệm phối hợp với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cùng các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan, tổ chức hữu quan, có kế hoạch hướng dẫn tổ chức thực hiện việc bảo vệ các quyền và lợi ích của trẻ em, ngăn chặn việc lôi kéo, xúi giục trẻ em làm điều phạm pháp, có biện pháp phòng ngừa hành vi phạm pháp của trẻ em, giáo dục và cải tạo trẻ em phạm pháp; đồng thời, có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi giam giữ trẻ em trái pháp luật, đánh đập, tra tấn trẻ em, xâm phạm đến sức khoẻ, danh dự trẻ em.

Điều 20. Kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm của các cấp, các ngành phải thể hiện rõ nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em các cấp có trách nhiệm giúp Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân cùng cấp, xét duyệt, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; theo định kỳ, báo cáo kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đó ở địa phương, ngành mình lên cấp trên trực tiếp.

Điều 21. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội từng thời kỳ, Uỷ ban vật giá Nhà nước, Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em có trách nhiệm cùng các bộ hữu quan, trình Hội đồng Bộ trưởng những chính sách và chủ trương cụ thể về giá những mặt hàng dành phục vụ trẻ em như dược phẩm, học phẩm, văn hoá phẩm, dụng cụ y tế, thể dục thể thao, đồ chơi, đồ dùng và quần áo, giày dép trẻ em; giá vé các buổi chiếu bóng, biểu diễn nghệ thuật, thi đấu thể thao phục vụ trẻ em.

Điều 22. Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện, Bộ Văn hoá - Thông tin và Thể thao, Bộ Xây dựng, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo chức năng, quyền hạn của mình, ban hành quy chế ưu đãi trẻ em khi sử dụng phương tiện giao thông công cộng, tham quan danh lam thắng cảnh, vào nơi vui chơi, giải trí công cộng có bán vé.

Điều 23. Nhà nước khuyến khích việc thành lập Quỹ bảo trợ trẻ em ở các cấp, các ngành từ trung ương đến cơ sở.

Quỹ bảo trợ trẻ em của cấp nào thì Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em cấp đó quản lý và sử dụng vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, không được dùng vào mục đích khác.ở những cơ quan, đơn vị không có Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em, thì Công đoàn nơi đó quản lý và sử dụng quỹ bảo vệ trẻ em đúng mục đích.

Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam có trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra việc quản lý và sử dụng quỹ bảo trợ trẻ em ở các cấp, các ngành.

Điều 24. Cha mẹ, người đỡ đầu và những thành viên lớn tuổi trong gia đình có trách nhiệm giáo dục trẻ em làm tròn bổn phận của mình và có biện pháp giáo dục, ngăn cấm trẻ em đánh bạc, uống rượu, hút thuốc, sử dụng ma tuý và các chất kích thích có hại khác.

Cha mẹ, người đỡ đầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi vi phạm pháp luật của trẻ em do mình nuôi dạy; trách nhiệm đó càng nặng nếu những vi phạm của trẻ em lại do tác động của cha mẹ, người đỡ đầu.

Điều 25. Khi có kháng nghị của đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội đối với quyết định xâm phạm đến quyền và lợi ích của trẻ em.

Cơ quan, tổ chức, đơn vị có quyết định xâm phạm đến quyền và lợi ích của trẻ em, khi nhận được kháng nghị của đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội, phải trả lời và thông báo cách giải quyết của mình cho đoàn thể, tổ chức kháng nghị biết, chậm nhất là một tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị.

Xem nội dung VB
Chương này được hướng dẫn bởi Điều 10 đến Điều 25 Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)
- Chương này được hướng dẫn bởi Mục III Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)

Căn cứ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em công bố ngày 16 tháng 8 năm 1991;
...
III. KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 26. Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em mỗi cấp, có trách nhiệm theo dõi, đánh giá và đề nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp, Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em cấp trên xét khen thưởng những cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có thành tích trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, theo chế độ khen thưởng của Nhà nước.

Điều 27. Người nào vi phạm pháp luật về trẻ em phải chịu một hay nhiều hình thức xử lý quy định tại Điều 17 và Điều 24 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Việc xử lý kỷ luật được áp dụng theo điều lệ về kỷ luật do Hội đồng Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 195/CP ngày 31 tháng 12 năm 1964.

Việc xử phạt hành chính được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính công bố ngày 07 tháng 12 năm 1989 và các quy định pháp luật khác có liên quan đến xử phạt hành chính.

Việc bồi thường thiệt hại dân sự, được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự.

Việc xử lý bằng biện pháp hình sự được thực hiện theo quy định của Bộ Luật hình sự và Luật bổ sung, sửa đổi Bộ Luật hình sự.

Xem nội dung VB
Chương này được hướng dẫn bởi Mục III Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 24 Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)

Căn cứ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em công bố ngày 16 tháng 8 năm 1991;
...
Điều 24. Cha mẹ, người đỡ đầu và những thành viên lớn tuổi trong gia đình có trách nhiệm giáo dục trẻ em làm tròn bổn phận của mình và có biện pháp giáo dục, ngăn cấm trẻ em đánh bạc, uống rượu, hút thuốc, sử dụng ma tuý và các chất kích thích có hại khác.

Cha mẹ, người đỡ đầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi vi phạm pháp luật của trẻ em do mình nuôi dạy; trách nhiệm đó càng nặng nếu những vi phạm của trẻ em lại do tác động của cha mẹ, người đỡ đầu.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 24 Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 24 Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)

Căn cứ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em công bố ngày 16 tháng 8 năm 1991;
...
Điều 24. Cha mẹ, người đỡ đầu và những thành viên lớn tuổi trong gia đình có trách nhiệm giáo dục trẻ em làm tròn bổn phận của mình và có biện pháp giáo dục, ngăn cấm trẻ em đánh bạc, uống rượu, hút thuốc, sử dụng ma tuý và các chất kích thích có hại khác.

Cha mẹ, người đỡ đầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi vi phạm pháp luật của trẻ em do mình nuôi dạy; trách nhiệm đó càng nặng nếu những vi phạm của trẻ em lại do tác động của cha mẹ, người đỡ đầu.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 24 Nghị định 374-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 06/04/2005)
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 57-LCT/HĐNN8   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Võ Chí Công
Ngày ban hành: 12/08/1991   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 30/09/1991   Số công báo: Số 18
Lĩnh vực: Dân số, trẻ em, gia đình, bình đẳng giới   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991

724

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
38064