• Lưu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Luật Doanh nghiệp


Văn bản pháp luật về Hướng dẫn Luật doanh nghiệp

 

Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990

Tải về Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990
Bản Tiếng Việt

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 48-LCT/HĐNN8

Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 1990

 

LUẬT

 DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN CỦA QUỐC HỘI SỐ 48-LCT/HĐNN8 NGÀY 21/12/1990

Để thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, khuyến khích việc đầu tư kinh doanh, bảo hộ lợi ích hợp pháp của chủ doanh nghiệp tư nhân; tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh;
Căn cứ vào Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật này quy định về doanh nghiệp tư nhân.

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi có quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật này.

Điều 2

Doanh nghiệp tư nhân là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

"Kinh doanh" nói trong Luật này là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

Điều 3

Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của doanh nghiệp tư nhân, thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật của doanh nghiệp tư nhân với các doanh nghiệp khác và tính sinh lợi hợp pháp của việc kinh doanh.

Trong khuôn khổ pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tự do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh.

Điều 4

Quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, quyền thừa kế về vốn, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của chủ doanh nghiệp được Nhà nước bảo hộ.

Điều 5

Ngoài một số ngành, nghề mà pháp luật cấm kinh doanh, việc thành lập doanh nghiệp tư nhân trong các ngành nghề dưới đây phải được Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng cho phép:

1- Sản xuất và lưu thông thuốc nổ, thuốc độc, hoá chất độc;

2- Khai thác các loại khoáng sản quý;

3- Sản xuất và cung ứng điện, nước có quy mô lớn;

4- Sản xuất các phương tiện phát sóng truyền tin; dịch vụ bưu chính viễn thông, truyền thanh, truyền hình, xuất bản;

5- Vận tải viễn dương và vận tải hàng không;

6- Chuyên kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu;

7- Du lịch quốc tế.

Điều 6

Người mất trí, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án tù mà chưa được xoá án, thì không được phép thành lập doanh nghiệp tư nhân.

Điều 7

Nghiêm cấm viên chức tại chức trong bộ máy Nhà nước, các sĩ quan tại ngũ trong các lực lượng vũ trang nhân dân thành lập doanh nghiệp tư nhân.

Chương 2:

THÀNH LẬP, ĐĂNG KÝ KINH DOANH, GIẢI THỂ, PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

Điều 8

Cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân, phải gửi đơn xin phép thành lập doanh nghiệp đến Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.

Đơn xin thành lập doanh nghiệp phải ghi rõ:

1- Họ, tên, tuổi và địa chỉ thường trú của chủ doanh nghiệp;

2- Trụ sở dự định của doanh nghiệp;

3- Mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh cụ thể;

4- Vốn đầu tư ban đầu, trong đó ghi rõ phần vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, tài sản bằng hiện vật;

5- Biện pháp bảo vệ môi trường.

Đơn phải kèm theo phương án kinh doanh ban đầu.

Điều 9

Cá nhân có quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân, phải có đủ các điều kiện sau đây mới được cấp giấy phép thành lập:

1- Mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh rõ ràng; có trụ sở giao dịch và phương án kinh doanh cụ thể;

2- Có đủ vốn đầu tư ban đầu phù hợp với quy mô và ngành, nghề kinh doanh. Vốn đầu tư ban đầu không được thấp hơn vốn pháp định do Hội đồng bộ trưởng quy định;

3- Bản thân hoặc người được thuê làm quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh có trình độ chuyên môn tương ứng mà pháp luật đòi hỏi đối với một số ngành, nghề.

Điều 10

Uỷ ban nhân dân nhận đơn phải cấp hoặc từ chối cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đơn; nếu từ chối cấp giấy phép thì phải nói rõ lý do. Trong trường hợp người xin phép thành lập doanh nghiệp tư nhân thấy việc từ chối cấp giấy phép là không thoả đáng, thì có quyền khiếu nại lên Trọng tài kinh tế cấp trên trực tiếp.

Điều 11

Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày được giấy phép thành lập, chủ doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký kinh doanh tại Trọng tài kinh tế cùng cấp Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập.

Hồ sơ đăng ký kinh doanh bao gồm: giấy phép thành lập, giấy chứng nhận của ngân hàng về số tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng của chủ doanh nghiệp có trong tài khoản ở ngân hàng; giấy chứng nhận của cơ quan công chứng về trị giá tài sản bằng hiện vật thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp tư nhân tương ứng với vốn đầu tư ban đầu đã ghi trong giấy phép thành lập và giấy tờ chứng thực về trụ sở giao dịch của doanh nghiệp.

Quá thời hạn sáu mươi ngày quy định tại đoạn 1, Điều này mà chưa đăng ký, nếu muốn tiếp tục thành lập doanh nghiệp tư nhân, thì chủ doanh nghiệp phải làm lại thủ tục xin phép thành lập. Trong trường hợp có lý do chính đáng, Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập có thể gia hạn giấy phép thành lập không quá ba mươi ngày.

Điều 12

Khi đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân được ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Kể từ thời điểm đó, doanh nghiệp tư nhân được tiến hành hoạt động kinh doanh.

Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Trọng tài kinh tế phải gửi bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh kèm theo hồ sơ của doanh nghiệp cho các cơ quan thuế, tài chính, thống kê và cơ quan quản lý ngành kinh tế, kỹ thuật cùng cấp.

Điều 13

Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương cấp giấy phép phải đăng báo địa phương và báo hàng ngày của trung ương về các điểm chủ yếu sau đây:

1- Họ, tên chủ doanh nghiệp và tên doanh nghiệp;

2- Trụ sở của doanh nghiệp;

3- Mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh;

4- Vốn đầu tư ban đầu;

5- Ngày được cấp giấy phép thành lập, ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, số đăng ký kinh doanh;

6- Thời điểm bắt đầu hoạt động.

Điều 14

Trong trường hợp cần đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, chủ doanh nghiệp tư nhân phải:

1- Xin phép Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, nơi đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện và đăng ký kinh doanh tại Trọng tài kinh tế cùng cấp như quy định tại Điều 8 và Điều 11 của Luật này;

2- Thông báo bằng văn bản cho Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập về việc mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày chi nhánh hoặc văn phòng đại diện được cấp giấy đăng ký.

Điều 15

Khi thay đổi mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh, vốn đầu tư ban đầu và các nội dung khác trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân phải khai báo lại với Trọng tài kinh tế đã đăng ký kinh doanh. Đối với doanh nghiệp tư nhân được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương cấp giấy phép, thì chủ doanh nghiệp còn phải đăng báo về những nội dung thay đổi.

Điều 16

Chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giải thể doanh nghiệp của mình, nếu bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp và thanh lý hết hợp đồng mà doanh nghiệp đã ký kết.

Muốn giải thể doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập và thông báo việc xin phép giải thể doanh nghiệp trên báo địa phương và báo hàng ngày của trung ương. Đơn và thông báo phải ghi rõ trình tự và thủ tục thanh lý tài sản, thời hạn thanh toán các khoản nợ và thanh lý các hợp đồng.

Uỷ ban nhân dân chỉ chấp thuận đơn xin giải thể nếu sau mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn thanh toán các khoản nợ, thanh lý các hợp đồng đã ghi trong đơn và thông báo việc xin phép giải thể mà không có đơn khiếu nại.

Việc giải thể doanh nghiệp chỉ được bắt đầu khi đơn xin giải thể được chấp thuận.

Điều 17

Doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức tại một thời điểm tổng số trị giá các tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn, là doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản.

Doanh nghiệp nói tại đoạn 1, Điều này có thể bị Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính tuyên bố phá sản theo đơn xin phá sản của chủ doanh nghiệp; hoặc đơn yêu cầu của một hoặc nhiều chủ nợ; hoặc kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền.

Trình tự và thủ tục phá sản thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản.

Chương 3:

TỔ CHỨC HỌAT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

Điều 18

Doanh nghiệp tư nhân được đặt tên theo ngành, nghề kinh doanh hoặc đặt tên riêng. Trên bảng hiệu, hoá đơn, quảng cáo, báo cáo, tài liệu, giấy tờ giao dịch khác của doanh nghiệp tư nhân phải ghi tên doanh nghiệp, kèm theo các chữ "doanh nghiệp tư nhân" và số vốn đầu tư ban đầu của doanh nghiệp.

Điều 19

Chủ doanh nghiệp tư nhân trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, nhưng tự mình vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn trước Trọng tài kinh tế hoặc Toà án trong các tranh chấp và vụ kiện liên quan đến doanh nghiệp.

Điều 20

Vốn đầu tư ban đầu của doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự khai. Vốn là tiền Việt Nam, ngoại tệ hoặc vàng phải gửi ở ngân hàng, nơi chủ doanh nghiệp mở tài khoản và được ngân hàng chứng nhận. Vốn là tài sản bằng hiện vật thì phải có chứng nhận của cơ quan công chứng.

Vốn đầu tư ban đầu và tài sản khác mà chủ doanh nghiệp tư nhân sử dụng vào việc kinh doanh phải được ghi chép vào sổ sách kế toán của doanh nghiệp.

Điều 21

Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư ban đầu nhưng không được thấp hơn vốn pháp định. Việc tăng hoặc giảm vốn đều phải ghi chép đầy đủ vào sổ sách kế toán.

Điều 22

Theo quy định của pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền:

1- Lựa chọn ngành, nghề, quy mô kinh doanh;

2- Lựa chọn hình thức và cách thức vay vốn;

3- Lựa chọn khách hàng, trực tiếp giao dịch, ký kết hợp đồng với khách hàng;

4- Tuyển dụng và thuê mướn lao động theo yêu cầu kinh doanh;

5- Sử dụng ngoại tệ thu được;

6- Quyết định việc sử dụng phần thu nhập còn lại;

7- Chủ động trong các hoạt động kinh doanh đã đăng ký.

Điều 23

Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình. Trước khi cho thuê, chủ doanh nghiệp phải báo cáo bằng văn bản với Trọng tài kinh tế đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp.

Điều 24

Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp của mình vào doanh nghiệp khác. Trước khi bán hoặc sáp nhập, chủ doanh nghiệp phải gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp nêu rõ lý do, có kèm theo:

1- Giấy xác nhận của các chủ nợ về việc chủ doanh nghiệp thanh toán hết các khoản nợ, giấy cam kết của doanh nghiệp khác hoặc ngân hàng chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp;

2- Giấy xác nhận của các khách hàng về việc doanh nghiệp đã thanh lý hết các hợp đồng hoặc giấy cam kết của doanh nghiệp khác về việc tiếp tục thực hiện các hợp đồng mà doanh nghiệp đã ký kết.

Uỷ ban nhân dân chỉ chấp thuận việc bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp sau khi chủ doanh nghiệp đã đăng báo đơn xin ba lần liên tiếp, cách nhau năm ngày mà không có đơn khiếu nại trong mười lăm ngày kế tiếp. Việc bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp chỉ được thực hiện sau khi đơn đã được chấp thuận.

Sau khi hoàn tất thủ tục bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp vào một doanh nghiệp khác, chủ doanh nghiệp tư nhân phải khai báo với Trọng tài kinh tế đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để xoá tên trong sổ đăng ký kinh doanh và phải thông báo công khai.

Điều 25

Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ:

1- Khai báo đúng vốn đầu tư để kinh doanh;

2- Kinh doanh theo ngành, nghề ghi trong giấy phép;

3- Ưu tiên sử dụng lao động trong nước; bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động theo quy định của pháp luật lao động; tôn trọng quyền của tổ chức công đoàn theo Luật công đoàn;

4- Bảo đảm chất lượng hàng hoá theo tiêu chuẩn đã đăng ký;

5- Tuân thủ quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh và trật tự, an toàn xã hội;

6- Ghi chép sổ sách kế toán và quyết toán theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính;

7- Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Chương 4:

XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 26

Người thành lập doanh nghiệp tư nhân mà không có giấy phép, kinh doanh mà không đăng ký; kinh doanh không đúng ngành, nghề ghi trong giấy phép hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Điều 27

Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân cho người bị cấm, cho người không được phép thành lập doanh nghiệp; không cấp giấy phép thành lập hoặc giấy đăng ký kinh doanh cho người đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp hoặc đăng ký; chứng nhận sai về vốn gửi ở ngân hàng hoặc về trị giá tài sản bằng hiện vật cho chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Chương 5:

ĐIỀU KHỎAN CUỐI CÙNG

Điều 28

Luật này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 4 năm 1991.

Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.

Trong thời hạn một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày 15 tháng 4 năm 1991, chủ doanh nghiệp tư nhân đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập trước ngày đó phải làm lại các thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990.

 

 

Võ Chí Công

(Đã ký)

 

- Quy định về Vốn pháp định đối với doanh nghiệp tư nhân được hướng dẫn bởi Điều 1 Quy định kèm theo Nghị định 221-HĐBT năm 1991

Căn cứ Luật doanh nghiệp tư nhân đã được kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990;
...
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

Điều 1.

Vốn pháp định đối với doanh nghiệp tư nhân trong từng ngành nghề được quy định trong danh mục kèm theo Nghị định này.

Các hộ kinh doanh có vốn thấp hơn mức vốn pháp định được quy định trong danh mục kèm theo Nghị định này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp tư nhân. Hội đồng Bộ trưởng có quy định riêng.
...
DANH MỤC VỐN PHÁP ĐỊNH ĐỐI VỚI TỪNG NGÀNH NGHỀ

Xem nội dung VB
Quy định về Vốn pháp định đối với doanh nghiệp tư nhân được hướng dẫn bởi Điều 1 Quy định kèm theo Nghị định 221-HĐBT năm 1991
- Đối tượng không được thành lập doanh nghiệp tư nhân được hướng dẫn bởi Điều 2 Quy định kèm theo Nghị định 221-HĐBT năm 1991

Căn cứ Luật doanh nghiệp tư nhân đã được kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990;
...
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
...
Điều 2. Những đối tượng sau đây không được thành lập doanh nghiệp tư nhân:

- Công chức đang làm việc trong các cơ quan hành chính Nhà nước theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng về công chức Nhà nước số 169-HĐBT ngày 25 tháng 5 năm 1991.

- Những người đang giữ các chức vụ trong bộ máy chính quyền các cấp theo chế độ bầu cử.

- Cán bộ quản lý các Liên hiệp xí nghiệp, các xí nghiệp quốc doanh.

- Sĩ quan tại ngũ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam và công an nhân dân Việt Nam.

Xem nội dung VB
Đối tượng không được thành lập doanh nghiệp tư nhân được hướng dẫn bởi Điều 2 Quy định kèm theo Nghị định 221-HĐBT năm 1991
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 3, Điều 4 Quy định kèm theo Nghị định 221-HĐBT năm 1991

Căn cứ Luật doanh nghiệp tư nhân đã được kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990;
...
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
...
Điều 3.

Cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân trong một số ngành nghề do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho phép theo quy định tại điều 5 Luật doanh nghiệp tư nhân, phải làm đơn gửi đến Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét quyết định. Căn cứ quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương (sau đây gọi tắt là Uỷ ban Nhân dân tỉnh) cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân cho đương sự. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, trả lời đơn xin phép thành lập doanh nghiệp tư nhân trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận được đơn hợp lệ.

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng uỷ quyền cho Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh xem xét và cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân theo sự hướng dẫn của Bộ quản lý ngành trong những trường hợp sau đây:

- Một số lĩnh vực thuộc ngành khai khoáng; sản xuất thuốc chữa bệnh đông y gia truyền, sản xuất phân hoá học, sản xuất các loại pháo; sản xuất và cung ứng điện (không thuộc mạng lưới điện quốc gia) với vốn pháp định dưới mức vốn pháp định quy định tại bản danh mục kèm theo Nghị định này.

- Dịch vụ truyền thanh, truyền hình trong phạm vi địa phương.

Sau khi cấp giấy phép thành lập các doanh nghiệp nói trên, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Điều 4.

Trừ những trường hợp quy định tại điều 3 trên đây, việc thành lập doanh nghiệp tư nhân phải được phép của Uỷ ban Nhân dân tỉnh, nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.

Khi xem xét cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân trong các ngành, nghề: điện, cơ khí, luyện kim, hoá chất, điện tử, xây dựng công nghiệp, vận tải đường dài, sản xuất sản phẩm xuất khẩu và một số lĩnh vực thuộc ngành khai khoáng, Uỷ ban Nhân dân tỉnh phải trao đổi với Bộ quản lý ngành để thống nhất ý kiến. Trong trường hợp không thống nhất ý kiến thì báo cáo Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, quyết định.
...
DANH MỤC VỐN PHÁP ĐỊNH ĐỐI VỚI TỪNG NGÀNH NGHỀ

Xem nội dung VB
- Nội dung hướng dẫn Điều này tại Nghị định 221-HĐBT năm 1991 nay được sửa đổi bởi Điều 1 Nghị định 361-HĐBT năm 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)

Căn cứ Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty ngày 21 tháng 12 năm 1990
...
Điều 1. Nay sửa đổi, bổ sung một số điểm trong quy định cụ thể hoá Luật doanh nghiệp tư nhân, ban hành kèm theo Nghị định 221-HĐBT ngày 23 tháng 7 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng:

1. Thay Điều 3 cũ bằng Điều 3 mới như sau:

3a. Cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân trong một số ngành, nghề do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho phép theo Điều 5 Luật doanh nghiệp tư nhân, phải gửi hồ sơ xin phép thành lập doanh nghiệp đến Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là tỉnh) nơi dự định đặt trụ sở doanh nghiệp. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh xem xét, có ý kiến và gửi hồ sơ lên Bộ quản lý ngành. Trường hợp đương sự xin phép thành lập doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành, nghề khác nhau thì căn cứ vào ngành kinh doanh nào là chính, có vốn pháp định cao nhất, hồ sơ được gửi lên Bộ quản lý ngành đó. Bộ trưởng Bộ quản lý ngành xem xét, có ý kiến, trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định và thông báo cho Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh; căn cứ vào quyết định đó, Uỷ ban Nhân dân tỉnh cấp hoặc không cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp cho đương sự.

3b. Những trường hợp sau đây, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng uỷ quyền cho Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh xem xét, quyết định cấp hoặc không cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân sau khi có ý kiến của Bộ quản lý ngành:

Một số lĩnh vực thuộc ngành khai khoáng (quy định tại khoản 3, Điều 14 Nghị định số 95-HĐBT ngày 25 tháng 3 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thi hành Pháp lệnh về tài nguyên khoáng sản);

Sản xuất phân hoá học và sản xuất các loại pháo;

Sản xuất và cung ứng điện (không thuộc mạng lưới điện quốc gia) với vốn pháp định dưới mức vốn pháp định quy định tại bản danh mục kèm theo Nghị định số 221-HĐBT ngày 23 tháng 7 năm 1991;

Dịch vụ cho truyền thanh, truyền hình trong phạm vi địa phương;

Sau khi cấp giấy phép thành lập các doanh nghiệp tư nhân trong các trường hợp nói trên, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Bộ quản lý ngành.

2. Thay Điều 4 cũ bằng Điều 4 mới như sau:

4a. Việc cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân trong những ngành, nghề không thuộc phạm vi quy định tại Điều 3 mới và Điều 5 Luật doanh nghiệp tư nhân, thuộc thẩm quyền của Uỷ ban Nhân dân tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.

Khi xét cấp giấy phép, Uỷ ban Nhân dân tỉnh phải tuân thủ quy định của Hội đồng Bộ trưởng và của Bộ về các điều kiện thành lập doanh nghiệp tư nhân trong từng ngành, nghề (theo khoản 1 Điều 8 của quy định ban hành kèm theo Nghị định 221-HĐBT). Trường hợp cần giải quyết khác với quy định của Bộ quản lý ngành, thì Uỷ ban Nhân dân tỉnh phải trao đổi ý kiến và có sự thống nhất bằng văn bản của Bộ quản lý ngành mới được cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân. Nếu không thống nhất ý kiến thì Uỷ ban Nhân dân tỉnh báo cáo Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, quyết định.

4b. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh uỷ quyền cho sở quản lý ngành tiếp nhận hồ sơ xin phép thành lập doanh nghiệp tư nhân, trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xét. Trường hợp đương sự xin phép thành lập doanh nghiệp tư nhân có kinh doanh nhiều ngành, nghề khác nhau thì Sở quản lý ngành kinh doanh chính hoặc có vốn pháp định cao nhất tiếp nhận hồ sơ.

Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh nhiều ngành, nghề khác nhau thì vốn pháp định làm căn cứ để xem xét cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp là tổng số vốn pháp định của các ngành, nghề mà doanh nghiệp xin phép kinh doanh.

4c. Khi muốn thay đổi, bổ sung ngành, nghề kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân phải xin phép cơ quan đã cấp giây phép thành lập và khai báo lại với cơ quan trọng tài kinh tế. Trường hợp thay đổi, bổ xung ngành, nghề kinh doanh mới thuộc 7 ngành, nghề nêu tại Điều 5 Luật doanh nghiệp tư nhân thì phải tuân theo quy định tại Điều 3 mới.

4d. Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp theo Điều 23 của Luật doanh nghiệp tư nhân, nhưng vẫn có quyền hạn và trách nhiệm của người chủ sở hữu đối với doanh nghiệp đó. Trách nhiệm trước pháp luật đối với hoạt động của doanh nghiệp phải được quy định rõ trong hợp đồng ký kết giữa người cho thuê và người thuê. Hợp đồng thuê doanh nghiệp tư nhân phải được cơ quan công chứng xác nhận. Người thuê doanh nghiệp hoặc người được chủ doanh nghiệp thuê làm quản lý, điều hành doanh nghiệp phải có đủ các điều kiện mà pháp luật đòi hỏi đối với việc kinh doanh ngành nghề đó.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 3, Điều 4 Quy định kèm theo Nghị định 221-HĐBT năm 1991
Nội dung hướng dẫn Điều này tại Nghị định 221-HĐBT năm 1991 nay được sửa đổi bởi Điều 1 Nghị định 361-HĐBT năm 1992 (VB hết hiệu lực: 01/07/2016)
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 5 Quy định kèm theo Nghị định 221-HĐBT năm 1991

Căn cứ Luật doanh nghiệp tư nhân đã được kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990;
...
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
...
Điều 5. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận được đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho chủ doanh nghiệp. Khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho chủ doanh nghiệp, Trong tài kinh tế tỉnh được thu một khoản lệ phí do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.

Xem nội dung VB
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 5 Quy định kèm theo Nghị định 221-HĐBT năm 1991
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 6, 7, 8 Quy định kèm theo Nghị định 221-HĐBT năm 1991

Căn cứ Luật doanh nghiệp tư nhân đã được kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990;
...
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
...
Điều 6. Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh các ngành, nghề dưới đây được Nhà nước khuyến khích theo quy định tại điều 7:

1. Sản xuất các sản phẩm thiết yếu cho sản xuất và đời sống, sản xuất hàng xuất khẩu:

- Sản xuất lương thực, thực phẩm trên những địa bàn được quy hoạch làm hàng xuất khẩu.

- Sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu (kể cả thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế).

- Sản xuất hàng dệt, may mặc, da giầy, thủ công, mỹ nghệ để xuất khẩu.

- Khai thác, chế biến nông, lâm, thuỷ, hải sản xuất khẩu.

- Sản phẩm cơ khí phục vụ sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản phẩm.

- Sản xuất các loại hoá chất cơ bản, phân hoá học.

- Trồng rừng và khai thác các vùng đất trống, đồi trọc, mặt nước, để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp.

2. Sản xuất và sửa chữa các phương tiện vận tải và vận tải:

- Đóng mới phương tiện vận tải chuyên dùng, đầu máy toa xe thay thế phương tiện nhập khẩu.

- Sửa chữa các phương tiện vận tải chuyên dùng.

- Vận tải hàng hoá phục vụ các tỉnh miền núi, hải đảo.

3. Xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ chung cả nước hoặc trên địa bàn lãnh thổ.

Điều 7. Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh các ngành, nghề nói tại điều 6 được Nhà nước khuyến khích bằng các chính sách:

- Ưu đãi trong việc xem xét giải quyết đất xây dựng cơ sở sản xuất mới hoặc mở rộng cơ sở sản xuất hiện có theo Luật đất đai hiện hành.

- Ưu tiên trong việc vay vốn của Ngân hàng đầu tư và phát triển để xây dựng cơ sở sản xuất hiện có và mua sắm thêm thiết bị cần thiết cho sản xuất.

- Miễn thuế, giảm thuế theo quy định trong các Luật và Pháp lệnh thuế hiện hành.

- Được tạo điều kiện thuận lợi trong việc xuất nhập khẩu, nhất là xuất khẩu các sản phẩm do cơ sở mình sản xuất; trong việc hợp tác, liên doanh với nước ngoài theo Luật đầu tư; trong việc ra nước ngoài để tiếp cận thị trường, nghiên cứu học tập công nghệ mới.

Để hưởng các ưu đãi này, chủ doanh nghiệp tư nhân phải làm đơn gửi đến Uỷ ban Nhân dân đã cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp xem xét, quyết định.

Điều 8. Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh các ngành, nghề dưới đây phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện do các Bộ quản lý ngành và Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định:

1. Các ngành, nghề do các Bộ quản lý ngành quy định các điều kiện cụ thể:

- Năng lượng.

- Một số lĩnh vực thuộc ngành khai khoáng.

- Luyện kim.

- Sản xuất, lắp ráp điện tử.

- Sản xuất, lắp ráp động cơ điện, biến thế điện, dụng cụ đo điện.

- Sản xuất, lắp ráp và đóng mới các phương tiện vận tải cơ giới và thủ công.

- Sản xuất các sản phẩm nhựa và cao su.

- Sản xuất hoá chất cơ bản; phân hoá học, thuốc trừ sâu; trừ mối.

- Sản xuất, chế biến các loại thuốc đông y gia truyền chữa bệnh, các loại mỹ phẩm có ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân.

- Chế biến lương thực, thực phẩm, nước giải khát.

- Khai thác, chế biến hải sản.

- Khai thác lâm sản.

- Vận tải liên tỉnh, vận tải quá cảnh, vận tải thuỷ.

2. Các ngành, nghề do các Uỷ ban Nhân dân tỉnh quy định các điều kiện cụ thể phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương:

- Sản xuất gạch, ngói nung.

- Sử dụng lò hơi, máy búa, thuốc nổ, khí nén, các chất (không thuộc khoản 1 điều 8) có khí độc thoát ra.

- Sử dụng nguồn nước và xử lý các chất thải công nghiệp.

Xem nội dung VB
Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 6, 7, 8 Quy định kèm theo Nghị định 221-HĐBT năm 1991
- Quy định này được hướng dẫn bởi Điều 10 Quy định kèm theo Nghị định 221-HĐBT năm 1991

Căn cứ Luật doanh nghiệp tư nhân đã được kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990;
...
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
...
Điều 10. Các hộ kinh doanh đã thành lập trước ngày Luật doanh nghiệp tư nhân có hiệu lực đều phải làm lại các thủ tục thành lập đăng ký kinh doanh theo Luật định và theo các quy định của Nghị định này.

Xem nội dung VB
Quy định này được hướng dẫn bởi Điều 10 Quy định kèm theo Nghị định 221-HĐBT năm 1991
- Chương này được hướng dẫn bởi Điều 9 Quy định kèm theo Nghị định 221-HĐBT năm 1991

Căn cứ Luật doanh nghiệp tư nhân đã được kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990;
...
QUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG CỤ THỂ HOÁ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
...
Điều 9. Các Bộ quản lý ngành, các Uỷ ban Nhân dân tỉnh phải rà soát lại ngay các quy định đã ban hành để sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, hoàn chỉnh các điều kiện cụ thể và hướng dẫn, tổ chức kiểm tra việc thực hiện. Doanh nghiệp tư nhân nào không bảo đảm các điều kiện cụ thể đã ban hành thì Bộ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh có quyền yêu cầu doanh nghiệp phải chấn chỉnh, tổ chức lại hoặc tạm đình chỉ hoạt động của doanh nghiệp cho đến khi bảo đảm các điều kiện cụ thể đã quy định hoặc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Xem nội dung VB
- Việc xử lý vi phạm trong đăng ký kinh doanh doanh nghiệp tư nhân được hướng dẫn bởi Mục VIII Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 2011 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)

Theo quy định tại Điều 5 Ban Quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật doanh nghiệp tư nhân ban hành kèm theo Nghị định 221-HĐBT ngày 23-7-1991; Điều 5 bản quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật công ty ban hành kèm theo Nghị định 222-HĐBT ngày 23-7-1991, chạm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (CNĐKKD) cho doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty.

Để thực hiện nghiêm chỉnh các quy định tren, TTKT Nhà nước ban hành Thông tư này hướng dẫn Trọng tài kinh tế các cấp, các chủ doanh nghiệp tư nhân, công ty thực hiện việc đăng ký kinh doanh.
...
VIII- XỬ LÝ VI PHẠM:

1- Việc xem xét để cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là nhiệm vụ và quyền hạn của Trọng tài kinh tế . Vì vậy Trọng tài kinh tế phải thực hiện tốt nhiệm vụ này để cho các hoạt động kinh doanh được thực hiện theo pháp luật.

- Tránh đề ra các yêu cầu, đòi hỏi không cần thiết đối với các doanh nghiệp khi đăng ký kinh doanh. Nghiêm cấm việc lợi dụng quyền hạn này để sách nhiễu, gây phiền hà cho doanh nghiệp. Mọi hành vi vi phạm, khi phát hiện sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

2-Mọi người trong cơ quan Trọng tài kinh tế, các doanh nghiệp có quyền tố cáo những hành vi lợi dụng quyền hạn trong việc đăng ký kinh doanh để mưu lợi cá nhân hoặc cục bộ. chủ tịch Trọng tài kinh tế xem xét, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các đơn, thư phát giác, tố cáo việc này, đồng thời báo cáo lên Trọng tài kinh tế Nhà nước.

Việc đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty là một việc mới đối với Trọng tài kinh tế - Vì vậy quy định có tính hướng dẫn trong thông tư này có thể chưa đủ hoặc có điểm chưa phù hợp với thực tế. Trọng tài kinh tế các cấp khi thực hiện đăng ký kinh doanh cần phản ánh kịp thời những vướng mắc về Trọng tài kinh tế Nhà nước để kịp bổ sung, sửa đổi.

Xem nội dung VB
Chương này được hướng dẫn bởi Điều 9 Quy định kèm theo Nghị định 221-HĐBT năm 1991
Việc xử lý vi phạm trong đăng ký kinh doanh doanh nghiệp tư nhân được hướng dẫn bởi Mục VIII Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 2011 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)

Điều 1: Sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân như sau:

1- Điều 10 được sửa đổi như sau:

"Điều 10

Uỷ ban nhân dân nhận đơn phải cấp hoặc từ chối cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đơn; nếu từ chối cấp giấy phép thì phải nói rõ lý do. Trong trường hợp người xin phép thành lập doanh nghiệp tư nhân thấy việc từ chối cấp giấy phép là không thoả đáng thì có quyền khiếu nại lên cơ quan Nhà nước cấp trên trực tiếp của Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp".

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục VI Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)

Theo quy định tại Điều 5 Ban Quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật doanh nghiệp tư nhân ban hành kèm theo Nghị định 221-HĐBT ngày 23-7-1991; Điều 5 bản quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật công ty ban hành kèm theo Nghị định 222-HĐBT ngày 23-7-1991, chạm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (CNĐKKD) cho doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty.

Để thực hiện nghiêm chỉnh các quy định tren, TTKT Nhà nước ban hành Thông tư này hướng dẫn Trọng tài kinh tế các cấp, các chủ doanh nghiệp tư nhân, công ty thực hiện việc đăng ký kinh doanh.
...
VI- GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ VIỆC KHÔNG ĐƯỢC CẤP GIẤY PHÉP THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP , GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ KINH DOANH

Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước giải quyết các khiếu nại về việc không được cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp,không được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Thời hạn giải quyết việc khiếu nại này quy định là 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn khiếu nại.

Người khiếu nại phải gửi kèm theo đơn khiếu nại các giấy tờ sau đây:

- Văn bản từ chối cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

- Toàn bộ hồ sơ xin phép thành lập doanh nghiệp, hồ sơ đăng ký kinh doanh.

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)
Điều này được hướng dẫn bởi Mục VI Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)
- Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)

Điều 1: Sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân như sau:
...
2- Đoạn đầu Điều 11 được sửa đổi như sau:

"Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập, chủ doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký kinh doanh tại cơ quan kế hoạch cùng cấp uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập".

Xem nội dung VB
- Quy định này được hướng dẫn bởi Mục I, II, III, VII Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)

Theo quy định tại Điều 5 Ban Quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật doanh nghiệp tư nhân ban hành kèm theo Nghị định 221-HĐBT ngày 23-7-1991; Điều 5 bản quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật công ty ban hành kèm theo Nghị định 222-HĐBT ngày 23-7-1991, chạm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (CNĐKKD) cho doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty.

Để thực hiện nghiêm chỉnh các quy định tren, TTKT Nhà nước ban hành Thông tư này hướng dẫn Trọng tài kinh tế các cấp, các chủ doanh nghiệp tư nhân, công ty thực hiện việc đăng ký kinh doanh.

I- MỤC ĐÍCH ĐĂNG KÝ KINH DOANH
...
II- TRÁCH NHIỆM VÀ THẨM QUYỀN ĐĂNG KÝ KINH DOANH:
...
III- TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KINH DOANH:
...
VII- KIỂM TRA VIỆC THỰC HIỆN ĐĂNG KÝ KINH DOANH

Xem nội dung VB
Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)
Quy định này được hướng dẫn bởi Mục I, II, III, VII Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)
- Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)

Điều 1: Sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân như sau:
...
3- Đoạn cuối Điều 12 được sửa đổi như sau:

"Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cơ quan kế hoạch phải gửi bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh kèm theo hồ sơ của doanh nghiệp cho cơ quan thuế, tài chính, thống kê và các cơ quan quản lý ngành kinh tế, kỹ thuật cùng cấp".

Xem nội dung VB
- Quy định về trách nhiệm của trọng tài kinh tế đối với việc lưu trữ bảo quản hồ sơ đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Mục V Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)

Theo quy định tại Điều 5 Ban Quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật doanh nghiệp tư nhân ban hành kèm theo Nghị định 221-HĐBT ngày 23-7-1991; Điều 5 bản quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật công ty ban hành kèm theo Nghị định 222-HĐBT ngày 23-7-1991, chạm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (CNĐKKD) cho doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty.

Để thực hiện nghiêm chỉnh các quy định tren, TTKT Nhà nước ban hành Thông tư này hướng dẫn Trọng tài kinh tế các cấp, các chủ doanh nghiệp tư nhân, công ty thực hiện việc đăng ký kinh doanh.
...
V- LƯU TRỮ BẢO QUẢN HỒ SƠ ĐĂNG KÝ KINH DOANH LẬP BÁO CÁO ĐĂNG KÝ KINH DOANH:

Trọng tài kinh tế khi đăng ký kinh doanh phải thực hiện việc về lưu trữ, bảo quản hồ sơ đăng ký kinh doanh, lập báo cáo đăng ký kinh doanh như sau:

1- Hồ sơ đăng ký kinh doanh được lưu trữ tại Trọng tài kinh tế đã thực hiện việc đăng ký kinh doanh; được bảo quản tốt để sử dụng lâu dài; được sắp xếp khoa học để thuận tiện tra cứu tài liệu khi cần thiết, có phân công trách nhiệm của người quản lý hồ sơ (khi có sự thay đổi người quản lý phải có giao nhận rõ ràng, có biên bản và người chứng kiến việc giao nhận).

2- Mỗi tháng một kỳ, Trọng tài kinh tế đã thực hiện việc đăng ký kinh doanh phải lập báo cáo đăng ký kinh doanh theo mẫu quy định gửi lên Trọng tài kinh tế Nhà nước. Thời hạn gửi báo cáo tháng trước không được chậm quá ngày 5 của tháng sau.

3- Việc Trọng tài kinh tế thực hiện việc quản lý đăng ký kinh doanh bằng máy tính để phục vụ cho yêu cầu của Nhà nước và của Trọng tài kinh tế các tỉnh có nhu cầu đó trong phạm vi của tỉnh.

Xem nội dung VB
Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)
Quy định về trách nhiệm của trọng tài kinh tế đối với việc lưu trữ bảo quản hồ sơ đăng ký kinh doanh được hướng dẫn bởi Mục V Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)
- Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)

Điều 1: Sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân như sau:
...
4- Điểm 1 Điều 14 được sửa đổi như sau:

"1- Xin phép Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện và đăng ký kinh doanh tại cơ quan kế hoạch cùng cấp Uỷ ban nhân dân đã cho phép dặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện theo quy định tại Điều 8 và Điều 11 của Luật này;".

Xem nội dung VB
Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)

Điều 1: Sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân như sau:
...
5- Điều 15 được sửa đổi như sau:

"Điều 15

Khi thay đổi mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh, vốn đầu tư ban đầu và các nội dung khác trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân phải khai báo lại với cơ quan kế hoạch đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đối với doanh nghiệp tư nhân được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp giấy phép thành lập, thì chủ doanh nghiệp còn phải đăng báo về những nội dung thay đổi".

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)

Theo quy định tại Điều 5 Ban Quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật doanh nghiệp tư nhân ban hành kèm theo Nghị định 221-HĐBT ngày 23-7-1991; Điều 5 bản quy định của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật công ty ban hành kèm theo Nghị định 222-HĐBT ngày 23-7-1991, chạm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Trọng tài kinh tế phải cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (CNĐKKD) cho doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty.

Để thực hiện nghiêm chỉnh các quy định tren, TTKT Nhà nước ban hành Thông tư này hướng dẫn Trọng tài kinh tế các cấp, các chủ doanh nghiệp tư nhân, công ty thực hiện việc đăng ký kinh doanh.
...
IV- ĐĂNG KÝ KHI THAY ĐỔI KINH DOANH

Theo quy định của Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty, khi thay đổi mục tiêu, ngành nghề kinh doanh, vốn đầu tư ban đầu và các nội dung khác trong hồ so đăng ký kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân, Công ty phải khai báo lại với Trọng tài kinh tế đã đăng ký kinh doanh. Việc khai báo sự thay đổi kinh doanh được thực hiện như sau:

1- Thay đổi ngành, nghề kinh doanh: Muốn thay đổi ngành nghề kinh doanh đã đăng ký khi thành lập doanh nghiệ, chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty phải có văn bản cho phép doanh nghiệp được kinh doanh theo ngành, nghề mới của cấp có thẩm quyền cho phép kinh doanh ngành nghề đó .... đồng thời Doanh nghiệp phải chứng kinh trước Trọng tài kinh tế về vốn đầu tư (vốn điều lệ) của doanh nghiệp tại thời điểm xin thay đổi ngành nghề phù hợp với quy mô tổ chức kinh doanh ngành nghề đó của doanh nghiệp và không thấp hơn vốn pháp định đôí với ngành nghề đó.

2- Thay đổi vốn đầu tư ban đầu (vốn điều lệ) khi có sự thay đổi vốn đầu tư ban đầu (vốn điều lệ) chủ doanh nghiệp tư nhân, công ty phải có các căncứ xác nhận số vốn thay đổi và không được thấp hơn vốn pháp định đối với ngành nghề kinh doanh.

3- Thay đổi trụ sở giao dich: Chủ doanh nghiệp tư nhân, Công ty muốn đăng ký thay đổi trụ sở giao dịch cần có các giấy tờ chứng thực hợp lệ về quyền sử dụng trụ sở nơi dự định chuyển đến của doanh nghiệp.

4- Thay đổi tên doanh nghiệp: Khi doanh nghiệp muốn thay đổi tên doanh nghiệp (mà không thay đổi ngành nghề kinh doanh) thì doanh nghiệp phải làm lại thủ tục đăng ký kinh doanh như khi thành lập doanh nghiệp.

5- Thay đổi chi nhánh, văn phòng đại diện:

a) Thay đổi trụ sở: thực hiện như điểm 3 của mục này.

b) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện: Chủ doanh nghiệp tư nhân, Công ty phải khai báo với Trọng tài kinh tế đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho chi nhánh, văn phòng đại diện về thời hạn đình chỉ hoạt động- Trường hợp đình chỉ hẳn thì nộp lại cho Trọng tài kinh tế giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của chi nhánh, văn phòng đại diện đã được cấp.

6- Riêng đối với các công ty:

a) Khi thay đổi thành viên của Hội đồng quản lý, giám đốc, kiểm soát viên, công ty phải thông báo cho trọng tài kinh tế biết bằng văn bản.

b) Công ty cổ phần khi được cấp giấy phép phát hành cổ phiếu mới, trái phiếu phải khai báo với trọng tài kinh tế trước khi thực hiện việc phát hành cổ phiếu mới, trái phiếu.

Khi doanh nghiệp đăng ký thay đổi kinh doanh , nếu đã có đủ điều kiện nói trên, trọng tài kinh tế chấp nhận việc đăng ký thay đổi theo trình tự sau đây:

a) Ghi vào sổ đăng ký kinh doanh những thay đổi của doanh nghiệp .

b) Ghi vào giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh những thay đổi của doanh nghiệp ghi ngày chứng nhận đăng ký, ký tên và đóng dấu.

c) Làm văn bản có những nội dung thay đổi của doanh nghiệp (không có mẫy giấy in sẵn) gửi đến các cơ quan tài chính, thuế, thóng kê, cơ quan quản lý ngành kinh tế kỹ thuật cùng cấp đồng thời gửi trọng tài kinh tế Nhà nước khi giử báo cáo đăng ký kinh doanh hàng tháng.

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)
Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Thông tư 07-TT/ĐKKD năm 1991 (VB hết hiệu lực: 25/07/1998)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)

Điều 1: Sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân như sau:
...
6- Điều 17 được sửa đổi như sau:

"Điều 17

Doanh nghiệp tư nhân lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thùa lỗ trong hoạt động kinh doanh, sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.

Việc giải quyết phá sản doanh nghiệp tư nhân được thực hiện theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp".

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 7 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)

Điều 1: Sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân như sau:
...
7- Điều 23 được sửa dổi như sau:

"Điều 23

Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình. Trước khi cho thuê, chủ doanh nghiệp phải báo cáo bằng văn bản với cơ quan kế hoạch đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trong thời hạn chho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp".

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 7 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)
- Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)

Điều 1: Sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân như sau:
...
8- Đoạn cuối Điều 24 đựơc sửa đổi như sau:

"Sau khi hoàn tất thủ tục bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp vào một doanh nghiệp khác, chủ doanh nghiệp tư nhân phải khai báo với cơ quan kế hoạch đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để xoá tên trong sổ đăng ký kinh doanh và phải thông báo công khai".

Xem nội dung VB
Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)

Điều 1: Sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân như sau:
...
9- ... Các chữ "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng" được sửa đổi thành các chữ "Thủ tướng Chính phủ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)

Điều 1: Sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân như sau:
...
9- Các chữ "Hội đồng bộ trưởng" được sửa đổi thành các chữ "Chính phủ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)
- Cụm từ này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)

Điều 1: Sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân như sau:
...
9- Các chữ "Hội đồng bộ trưởng" được sửa đổi thành các chữ "Chính phủ".

Xem nội dung VB
Cụm từ này được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 (VB hết hiệu lực: 01/01/2000)
Văn bản gốc
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 48-LCT/HĐNN8   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Võ Chí Công
Ngày ban hành: 21/12/1990   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 28/02/1991   Số công báo: Số 4
Lĩnh vực: Doanh nghiệp, hợp tác xã   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990

1.324

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
38054