• Lưu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Văn bản pháp luật về Luật nghĩa vụ quân sự


Văn bản pháp luật về Miễn gọi nhập ngũ

 

Luật nghĩa vụ quân sự 1960

Tải về Luật nghĩa vụ quân sự 1960
Bản Tiếng Việt

SẮC LỆNH

SỐ 11/SL NGÀY 28-4-1960 CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ CÔNG BỐ LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

CÔNG BỐ LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ ĐÃ ĐƯỢC QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ KHOÁ THỨ NHẤT, KỲ HỌP THỨ 12, THÔNG QUA NGÀY 15 THÁNG 4 NĂM 1960. LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

Căn cứ vào Điều 42 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà quy định bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và cao quý nhất của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, và công dân có bổn phận làm nghĩa vụ quân sự để bảo vệ Tổ quốc;
Để củng cố quốc phòng, giữ gìn hoà bình, bảo vệ thành quả của cách mạng và sự nghiệp lao động hoà bình xây dựng chủ nghĩa xã hội;
Để phát huy truyền thống yêu nước của nhân dân, phát huy thắng lợi của chế độ tình nguyện tòng quân trước đây, nâng cao ý thức quốc phòng, phổ cập trí thức quân sự trong nhân dân;
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang của nhân dân;
Nay quy định chế độ nghĩa vụ quân sự như sau:

Chương 1:

NGUYÊN TẮC CHUNG

Điều 1

Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đối với Tổ quốc.

Những công dân nam giới từ mưới tám đến bốn mươi lăm tuổi, không phân biệt dân tộc, nghề nghiệp, tôn giáo, tín ngưỡng, thành phần xã hội và trình độ văn hoá, đều có nghĩa vụ quân sự.

Điều 2

Không được làm nghĩa vụ quân sự:

- Những người bị Toà án hoặc pháp luật tước quyền công dân;

- Những người đang ở trong thời gian bị giam giữ hoặc bị quản chế.

Điều 3

Nghĩa vụ quân sự chia làm hai ngạch: tại ngũ và dự bị. Làm nghĩa vụ quân sự là tham gia quân đội thường trực hoặc tham gia quân dự bị.

Điều 4

Quân nhân tại ngũ và quân nhân dự bị gồm có sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ.

Hạ sĩ quan và binh sĩ gồm các cấp bậc sau đây:

- Hạ sĩ quan: thượng sĩ, trung sĩ, hạ sĩ.

- Binh sĩ: binh nhất, binh nhì.

Điều 5

Hạ sĩ quan và binh sĩ chuyển sang ngạch dự bị vẫn được giữ cấp bậc cũ.

Điều 6

Hạ sĩ quan và binh sĩ phục vụ trong ngạch dự bị đến hết bốn mươi lăm tuổi thì hết hạn làm nghĩa vụ quân sự.

Thời hạn phục vụ của sĩ quan theo như quy định trong luật về chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 4 năm 1958.

Điều 7

Lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực trong thời bình ấn định từ mười tám đến hai mươi lăm tuổi. Lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực trong thời chiến do Hội đồng quốc phòng ấn định.

Những người trong những lứa tuổi đó có thể lần lượt được gọi ra phục vụ tại ngũ.

Điều 8

Những quân nhân đang phục vụ theo chế độ tình nguyện sẽ dần dần được phục viên và chuyển sang dự bị hoặc giải ngạch nghĩa vụ quân sự.

Chương 2:

CHẾ ĐỘ PHỤC VỤ CỦA QUÂN NHÂN TẠI NGŨ VÀ QUÂN NHÂN DỰ BỊ

Điều 9

Sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị phục vụ theo chế độ quy định trong luật về chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 4 năm 1958, và những điều khoản có liên quan đến sĩ quan trong Luật này.

Điều 10

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội lục quân là hai năm.

Đối với hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội không quân, hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân, hạ sĩ quan và binh sĩ công an nhân dân vũ trang, thì thời hạn phục vụ tại ngũ là ba năm.

Đối với hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội hải quân thì thời hạn phục vụ tại ngũ là bốn năm.

Điều 11

Hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ có thể được điều động từ quân chủng, binh chủng này sang quân chủng, binh chủng khác; sang quân chủng, binh chủng nào thì theo thời hạn phục vụ ở quân chủng, binh chủng ấy. Thời gian đã phục vụ ở quân chủng, binh chủng, trước được tính vào thời hạn phục vụ ở quân chủng, binh chủng sau.

Điều 12

Hạ sĩ quan và binh sĩ đã hết hạn tại ngũ có thể tình nguyện đăng lại một thời hạn ít nhất là một năm.

Điều 13

Ngạch dự bị của hạ sĩ quan và binh sĩ chia làm hai hạng: dự bị hạng một và dự bị hạng hai.

Hạ sĩ quan và binh sĩ hết hạn phục vụ tại ngũ được xếp vào dự bị hạng một. Những công dân khác trong lứa tuổi làm nghĩa vụ quân sự được xếp vào dự bị hạng hai.

Điều 14

Hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ bị bệnh, bị thương, bị tàn phế phế, không còn đủ sức khoẻ để tiếp tục phục vụ trong quân đội, sau khi được thủ trưởng đơn vị bộ đội có thẩm quyền chuẩn y, thì được thoái ngũ.

Điều 15

Những quân nhân dự bị hết hạn tuổi làm nghĩa vụ quân sự, hoặc bị bệnh, bị thương, bị tàn phế, không còn đủ sức khoẻ để làm nghĩa vụ quân sự, sau khi được cơ quan quân sự có thẩm quyền chuẩn y, thì được giải ngạch nghĩa vụ quân sự.

Chương 3:

ĐĂNG KÝ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ, THỐNG KÊ VÀ QUẢN LÝ QUÂN NHÂN DỰ BỊ

Điều 16

Hàng năm vào khoảng năm ngày đầu tháng giêng dương lịch, những công dân nam giới đủ mười tám tuổi tính đến ngày mồng 1 tháng giêng dương lịch, phải đến Uỷ ban hành chính xã, thị xã, thị trấn, khu phố nơi mình ở để được kiểm tra sơ bộ thân thể và đăng ký nghĩa vụ quân sự.

Điều 17

Phụ nữ từ mười tám đến bốn mươi lăm tuổi có kỹ thuật chuyên môn cần cho quân đội cũng đăng ký nghĩa vụ quân sự.

Điều 18

Quân nhân phục viên khi về đến nơi ở hoặc nơi công tác phải đến cơ quan quân sự địa phương để đăng ký vào ngạch dự bị.

Điều 19

Quân nhân dự bị là công nhân, viên chức trong thời gian đi đăng ký nghĩa vụ quân sự vẫn được hưởng lương.

Điều 20

Những quân nhân dự bị khi hết hạn tuổi làm nghĩa vụ quân sự, khi không còn đủ sức khoẻ để tiếp tục làm nghĩa vụ quân sự, khi thay đổi trình độ văn hoá, nghề nghiệp, đơn vị công tác, chỗ ở, phải đến báo cáo với Uỷ ban hành chính xã, thị xã, thị trấn, khu phố nơi mình ở xin giải ngạch nghĩa vụ quân sự hoặc thay đổi đăng ký.

Điều 21

Bộ Quốc phòng lãnh đạo việc đăng ký, thống kê và quản lý quân nhân dự bị trong toàn quốc.

Dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính, cơ quan quân sự địa phương có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc đăng ký, thống kê và quản lý quân nhân dự bị trong địa phương mình.

Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, nông trường, công trường có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc đăng ký, thống kê quân nhân dự bị thuộc đơn vị mình theo sự hướng dẫn của các cơ quan quân sự địa phương.

Chương 4:

TUYỂN BINH

Điều 22

Hàng năm, căn cứ vào nhu cầu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và tình hình của các địa phương, Chính phủ ấn định tổng số người cần tuyển vào quân đội thường trực và quyết định những biện pháp cần thiết để tiến hành việc tuyển binh.

Điều 23

Hàng năm tiến hành tuyển binh một lần vào khoảng thời gian từ mồng 1 tháng 12 năm trước đến ngày 28 tháng 2 năm sau. Trong trường hợp cần thiết Chính phủ có thể quyết định thay đổi thời gian tuyển binh.

Điều 24

Kể từ ngày công bố lệnh tuyển binh, những người trong lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực muốn thay đổi chỗ ở sang địa phương khác phải được Uỷ ban hành chính xã, thị xã, thị trấn, khu phố mình đang ở đồng ý.

Điều 25

Việc kiểm tra thân thể để tuyển binh do Bộ Y tế phụ trách theo tiêu chuẩn do Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế quy định.

Điều 26

Những người trong lứa tuổi tuyển binh đã đăng ký nghĩa vụ quân sự, nếu bị đau yếu không thể đến trạm tuyển binh được và được Uỷ ban hành chính xã, thị xã, thị trấn, khu phố chứng nhận, thì có thể được hoãn đến kỳ tuyển binh năm sau.

Điều 27

Những người trong lứa tuổi tuyển binh đã đăng ký nghĩa vụ quân sự, nếu là người lao động duy nhất của gia đình, hoặc là con một, thì có thể được Uỷ ban hành chính huyện, thị xã, châu thuộc khu tự trị, quận và khu phố ở các thành phố trực thuộc Trung ương xét và cho miễn phục vụ tại ngũ.

Những trường hợp khác cần miễn hoặc hoãn gọi ra phục vụ tại ngũ sẽ do Chính phủ quy định.

Chương 5:

HUẤN LUYỆN QUÂN SỰ CHO QUÂN NHÂN DỰ BỊ

Điều 28

Sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị, hàng năm phải theo mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng mà tham gia huấn luyện quân sự.

Sĩ quan dự bị mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự hai mươi lăm ngày.

Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự mười lăm ngày.

Điều 29

Đối với quân nhân dự bị là công nhân, viên chức, Chính phủ sẽ quy định việc trả lương trong thời gian tham gia huấn luyện quân sự.

Đối với quân nhân dự bị không ở trong trường hợp nói trên, khi cần thoát ly sản xuất để tham gia huấn luyện quân sự tập trung, Chính phủ sẽ quy định việc giúp đỡ.

Điều 30

Đối với sinh viên, học sinh các trường đại học, các trường chuyên nghiệp trung cấp thì việc huấn luyện quân sự thuộc chương trình giáo dục do Chính phủ quy định.

Điều 31

Bộ Quốc phòng lãnh đạo việc huấn luyện quân sự cho quân nhân dự bị trong toàn quốc.

Dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính, cơ quan quân sự địa phương có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc huấn luyện quân sự cho quân nhân dự bị trong địa phương mình.

Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, nông trường, công trường có nhiệm vụ tổ chức việc huấn luyện quân sự cho quân nhân dự bị thuộc đơn vị mình theo sự hướng dẫn của các cơ quan quân sự địa phương.

Chương 6:

ĐỘNG VIÊN THỜI CHIẾN

Điều 32

Sau khi Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra các mệnh lệnh cần thiết để thực hiện.

Điều 33

Sau khi lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ được công bố:

- Tất cả những quân nhân dù sắp hết hạn tại ngũ đều phải ở lại quân đội cho đến khi có mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng cho thoái ngũ.

- Tất cả quân nhân dự bị khi nhận được mệnh lệnh gọi ra phục vụ tại ngũ phải có mặt đúng ngày, đúng giờ, ở địa điểm đã định.

Điều 34

Việc hoãn gọi ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến do Hội đồng quốc phòng quyết định.

Chương 7:

QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CỦA QUÂN NHÂN TẠI NGŨ VÀ QUÂN DÂN DỰ BỊ

Điều 35

Quân nhân tại ngũ và quân nhân dự bị có tất cả mọi quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân quy định trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Quân nhân còn có những quyền lợi và nghĩa vụ khác quy định trong luật này và trong các điều lệnh và chế độ của quân đội.

Điều 36

Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị và dân quân, tự vệ lập được công trạng sẽ được tặng thưởng huân chương, danh hiệu vinh dự, huy chương, bằng khen.

Điều 37

Những sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị có nhiều thành tích trong huấn luyện quân sự, hoặc trong công tác bảo vệ an ninh, củng cố quốc phòng, có thể được thăng, thưởng.

Điều 38

Quân nhân tại ngũ bị tàn phế, bị bệnh chết, hoặc hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, thì bản thân hoặc gia đình được hưởng chế độ ưu đãi do Chính phủ định.

Điều 39

Quân nhân dự bị, dân quân, tự vệ bị thương hoặc hy sinh trong khi làm nhiệm vụ quân sự thì bản thân hoặc gia đình được hưởng một khoản trợ cấp do Chính phủ định.

Chương 8:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 40

Những hành vi vi phạm các điều khoản trong luật này và những hành vi làm cản trở hoặc phá hoại việc thi hành chế độ nghĩa vụ quân sự sẽ tuỳ từng trường hợp mà bị trừng trị theo pháp luật.

Điều 41

Những điều khoản trong các luật lệ ban hành trước đây trái với luật này đều bãi bỏ.

Điều 42

Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ nhất, kỳ họp thứ 12, thông qua trong phiên họp ngày 15 tháng 4 năm 1960.

 

 

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

 

- Chương này được hướng dẫn bởi Nghị định 217-CP năm 1961

Căn cứ Luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 04 năm 1960
...
Điều 1. – Nay ban hành điều lệ về đăng ký, thống kê và quản lý quân nhân dự bị.

Điều 2. – Những quy định trước đây về việc đăng ký, thống kê và quản lý quân nhân dự bị trái với điều lệ này đều bãi bỏ.

Điều 3. – Ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành điều lệ này.
...
ĐIỀU LỆ VỀ ĐĂNG KÝ, THỐNG KÊ VÀ QUẢN LÝ QUÂN NHÂN DỰ BỊ

Chương 1: NGUYÊN TẮC CHUNG

Điều 1. – Tất cả các công dân đến tuổi làm nghĩa vụ quân sự các quân nhân (sĩ quan hạ sĩ quan và binh sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam và trong lực lượng Công an nhân dân vũ trang) chuyển sang ngạch dự bị, đều phải được đăng ký nghĩa vụ quân sự theo những điều quy định trong điều lệ này.

Điều 2. – Khi đăng ký nghĩa vụ quân sự những người nói trong điều 1 được sắp xếp vào một trong những loại sau đây:
...
Điều 3. – Đăng ký vào loại tuyển binh thời bình tất cả công dân nam giới từ 18 đến 25 tuổi có đủ điều kiện để phục vụ trong quân đội thường trực, trừ những sinh viên và học sinh đang học tại các trường đại học, các trường chuyên nghiệp trung cấp, và những người thuộc vào các trường hợp được miễn hoặc hoãn gọi ra phục vụ tại ngũ trong thời bình quy định trong điều 27 luật nghĩa vụ quân sự.
...
Điều 4. – Đăng ký vào loại sĩ quan dự bị những người sau đây:
...
Điều 5. – Đăng ký vào loại hạ sĩ quan và binh 1 dự bị hạng 1 những người sau đây:
...
Điều 6. – Đăng ký vào loại hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị hạng 2 những người sau đây:
...
Điều 7. – Không đăng ký nghĩa vụ quân sự những người sau đây:
...
Điều 8. – Quân nhân dự bị hết hạn tuổi hoặc không còn đủ điều kiện sức khỏe để phục vụ trong ngạch dự bị thì được giải ngạch và xóa sổ đăng ký nghĩa vụ quân sự.

Điều 9. – Những người vì điều kiện sức khỏe đã được giải ngạch và xóa sổ đăng ký nghĩa vụ quân sự, nhưng sau một thời gian nếu kiểm tra lại thấy sức khỏe đã thay đổi và có đủ điều kiện để tiếp tục làm nghĩa vụ quân sự, thì lại được đăng ký nghĩa vụ quân sự.

Chương 2: QUY TẮC ĐĂNG KÝ, THỐNG KÊ VÀ QUẢN LÝ QUÂN NHÂN DỰ BỊ

Điều 10. – Quân nhân chuyển sang ngạch dự bị phải được đăng ký nghĩa vụ quân sự ở đơn vị mình theo quy định ở điều 28 chương IV của điều lệ này. Khi về đến địa phương cư trú hoặc công tác, trong hạn 10 ngày, phải đến cơ quan đăng ký xin chứng thực vào chứng minh thư nghĩa vụ quân sự, nếu là sĩ quan thì đến xin chứng thực ở Tỉnh đội, Thành đội, nếu là hạ sĩ quan và binh sĩ thì đến xin chứng thực ở Huyện đội, Thị đội. Trường hợp người quân nhân chuyển sang ngạch dự bị về cư trú hoặc công tác ở khu tự trị Thái Mèo thì đến xin chứng thực ở Châu đội.
...
Điều 11. – Sinh viên tốt nghiệp các trường đại học và trúng tuyển kỳ thi sĩ quan dự bị, cán bộ các ngành ngoài quân đội được phong cấp sĩ quan dự bị phải được đăng ký nghĩa vụ quân sự theo thủ tục quy định cho các sĩ quan chuyển sang ngạch dự bị, nếu là sinh viên thì đăng ký tại trường, nếu là cán bộ các ngành thì đăng ký tại cơ quan công tác.

Điều 12. – Hàng năm vào khoảng 5 ngày đầu tháng giêng dương lịch, khi có thông báo của Ủy ban hành chính huyện, châu, khu phố, thị xã hoặc thành phố không chia ra khu phố các công dân nam giới đến tuổi làm nghĩa vụ quân sự phải đến Ủy ban hành chính cơ sở nơi cư trú để kiểm tra sức khỏe và đăng ký nghĩa vụ quân sự; nếu là công nhân, viên chức thì đăng ký ở đơn vị công tác.

Điều 13. – Sau khi đăng ký nghĩa vụ quân sự, những người đủ điều kiện thì được cấp chứng minh thư nghĩa vụ quân sự, những người không đủ điều kiện đăng ký thì được cấp giấy chứng nhận.

Điều 14. – Quân nhân dự bị khi thay đổi chỗ ở, hoặc đơn vị công tác phải báo cáo với cơ quan đăng ký cũ xin chuyển đăng ký; khi đến chỗ ở mới hoặc đơn vị công tác mới phải xin đăng ký lại. Trong trường hợp thay đổi chức vụ công tác, trình độ văn hóa, nghề nghiệp chuyên môn, v.v… người quân nhân dự bị phải báo cáo xin đăng ký bổ sung.

Điều 15. – Quân nhân dự bị, khi được gọi ra phục vụ tại ngũ thời bình hoặc thời chiến, phải mang theo chứng minh thư nghĩa vụ quân sự đến địa điểm quy định để được kiểm tra và nhận nhiệm vụ. Khi đã được tuyển và bổ sung vào một đơn vị quân đội thường trực thì người quân nhân dự bị phải nộp chứng minh thư nghĩa vụ quân sự cho đơn vị. Đơn vị có trách nhiệm báo cho cơ quan quân sự địa phương quản lý người quân nhân dự bị đó để xóa sổ đăng ký nghĩa vụ quân sự; cơ quan quân sự địa phương có trách nhiệm bàn giao cho đơn vị bộ đội những hồ sơ cần thiết có liên quan đến quân nhân đó.

Điều 16. – Quân nhân dự bị, khi được cử ra nước ngoài công tác hay học tập từ một năm trở lên, phải báo cáo xin tạm thời xóa sổ đăng ký và nộp lại chứng minh thư nghĩa vụ quân sự tại cơ quan quân sự địa phương.
...
Điều 17. – Nếu quân nhân dự bị bị tước quyền chính trị, bị tù, bị quản chế, bị tập trung giáo dục cải tạo hoặc bị tước quân tịch, thì cơ quan quân sự địa phương có trách nhiệm xóa sổ đăng ký, thu hồi chứng minh thư nghĩa vụ quân sự. Sau một thời gian nếu người đó lại có đủ điều kiện để làm nghĩa vụ quân sự, thì cơ quan quân sự nói trên xét và đăng ký lại.

Điều 18. – Quân nhân dự bị, khi hết hạn tuổi làm nghĩa vụ quân sự hoặc không còn đủ điều kiện sức khỏe để tiếp tục làm nghĩa vụ quân sự, thì nộp chứng minh thư nghĩa vụ quân sự tại Ủy ban hành chính cơ sở nơi cư trú hoặc đơn vị công tác để xin giải ngạch và xóa sổ đăng ký nghĩa vụ quân sự. Thủ tục giải ngạch do Bộ Quốc phòng quy định.

Điều 19. – Trong thời gian ở ngạch dự bị, nếu quân nhân dự bị chết thì thân nhân có nhiệm vụ báo cáo và nộp chứng minh thư nghĩa vụ quân sự tại Ủy ban hành chính cơ sở nơi cư trú. Ủy ban hành chính cơ sở xóa sổ đăng ký nghĩa vụ quân sự và báo cáo lên cơ quan quân sự địa phương quản lý người quân nhân dự bị đó.
...
Chương 3: QUY TẮC ĐĂNG KÝ NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC HOÃN GỌI RA PHỤC VỤ TẠI NGŨ TRONG THỜI CHIẾN

Điều 20. – Trong thời chiến, tất cả những quân nhân dự bị ở các địa phương và các cơ quan Nhà nước đều phải sẵn sàng làm nghĩa vụ tham gia bảo vệ Tổ quốc theo luật nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên để bảo đảm hoạt động liên tục của một số ngành cần thiết một bộ phận quân nhân dự bị sẽ được hoãn gọi ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến theo điều 34 luật nghĩa vụ quân sự.

Điều 21. – Nay thành lập Hội đồng hoãn trưng với nhiệm vụ giúp Hội đồng Chính phủ nghiên cứu những quy tắc, tiêu chuẩn đăng ký hoãn gọi ra phục vụ tại ngũ thời chiến và hướng dẫn các ngành làm các công tác cần thiết để chuẩn bị cho việc trình lên Hội đồng quốc phòng dự thảo quyết định về việc hoãn gọi ra phục vụ thời chiến. Thành phần Hội đồng hoãn trưng do Bộ Quốc phòng và Ủy ban kế hoạch Nhà nước đề nghị lên Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Chương 4: CHỨC TRÁCH CÁC CƠ QUAN TRONG VIỆC ĐĂNG KÝ, THỐNG KÊ VÀ QUẢN LÝ QUÂN NHÂN DỰ BỊ

Điều 22. – Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm lãnh đạo chung việc đăng ký, thống kê và quản lý quân nhân dự bị. Bộ Tổng Tham mưu và Tổng cục Chính trị, trong phạm vi được Bộ Quốc phòng ủy nhiệm, chịu trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện các công tác đó.
...
Điều 23. – Các Ủy ban hành chính từ cấp huyện, châu trở lên có trách nhiệm lãnh đạo các cơ quan quân sự địa phương đồng cấp và Ủy ban hành chính cấp dưới thực hiện việc đăng ký thống kê, quản lý quân nhân dự bị, và có trách nhiệm bảo đảm cho mọi công dân chấp hành đầy đủ việc đăng ký nghĩa vụ quân sự.

Điều 24. – Các Ủy ban hành chính cơ sở (xã, thị xã, thị trấn, khu phố, thành phố không chia ra khu phố) có nhiệm vụ trực tiếp tổ chức việc đăng ký, thống kê và quản lý những quân nhân dự bị thuộc các loại tuyển binh thời bình, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị hạng 1 và hạng 2, đồng thời nắm danh sách và tình hình thay đổi của các sĩ quan dự bị trong địa phương mình để kịp thời báo cáo lên cơ quan quân sự cấp trên trực tiếp.
...
Điều 25. – Các cơ quan, công trường, nông trường, xí nghiệp, trường học v.v… có trách nhiệm tổ chức đăng ký, thống kê và quản lý quân nhân dự bị trong đơn vị mình dưới sự lãnh đạo của Ủy ban hành chính địa phương và theo sự hướng dẫn của cơ quan quân sự địa phương.

Điều 26. – Các Bộ, các ngành trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ đôn đốc các cơ quan, công trường, nông trường, xí nghiệp, trường học v.v… trực thuộc thực hiện việc đăng ký, thống kê và quản lý quân nhân dự bị.

Điều 27. – Đối với các đơn vị công tác lưu động, thuộc các Bộ, các ngành trực thuộc trung ương thì các Bộ, các ngành trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổ chức đăng ký, thống kê, quản lý quân nhân dự bị và báo cáo cho cơ quan quân sự nơi các Bộ, các ngành trực thuộc trung ương đóng trụ sở.

Điều 28. – Các đơn vị bộ đội từ cấp Trung đoàn trở lên, các Tỉnh đội, Thành đội và các Ban chỉ huy Công an nhân dân vũ trang các tỉnh, thành và khu tự trị, trong phạm vi quyền hạn của mình, có trách nhiệm đăng ký nghĩa vụ quân sự, lập bảng đăng ký, cấp chứng minh thư nghĩa vụ quân sự cho các quân nhân thuộc đơn vị mình được xuất ngũ và chuyển sang ngạch dự bị; gửi bảng đăng ký của sĩ quan dự bị về cho Tỉnh đội, Thành đội hoặc Quân khu, gửi bảng đăng ký của hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị về cho Huyện đội, Châu đội, Thị đội nơi quân nhân dự bị về cư trú hoặc công tác; giao chứng minh thư nghĩa vụ quân sự cho quân nhân dự bị mang về địa phương làm các thủ tục quy định ở điều 10.

Điều 29. – Cơ quan Công an khi đăng ký hộ khẩu, cấp giấy di chuyển hộ khẩu, phải kiểm tra việc đăng ký nghĩa vụ quân sự của quân nhân dự bị. Đối với những người chưa làm đủ các thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự thì chưa cấp giấy di chuyển hoặc chưa đăng ký hộ khẩu và giúp cho họ đến cơ quan quân sự địa phương làm các thủ tục đăng ký cần thiết, để rồi cấp giấy di chuyển hoặc đăng ký hộ khẩu ngay cho họ.

Điều 30. – Các cơ quan, công trường, nông trường, xí nghiệp, v.v… khi tuyển người vào làm việc trong đơn vị mình có trách nhiệm kiểm tra việc đăng ký nghĩa vụ quân sự đối với người được tuyển mà đã làm đủ các thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự, thì đăng ký lại cho họ; đối với người chưa làm thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự, thì giúp cho họ làm đủ các thủ tục trước khi tuyển.

Điều 31. – Khi quân nhân dự bị bị tước quyền chính trị, bị tù, bị quản chế hoặc bị tập trung giáo dục cải tạo, thì cơ quan chấp hành án hoặc Ủy ban hành chính cơ sở có trách nhiệm báo cho cơ quan quân sự địa phương quản lý người quân nhân dự bị đó biết để thu hồi chứng minh thư nghĩa vụ quân sự…

Điều 32. – Cơ quan Y tế có trách nhiệm kiểm tra sức khỏe cho những người đăng ký nghĩa vụ quân sự theo chế độ quy định hoặc theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng.

Điều 33. – Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm quy định và hướng dẫn thi hành các thủ tục về đăng ký, thống kê và quản lý quân nhân dự bị, và các chế độ báo cáo, kiểm tra hàng năm về số lượng chất lượng của quân nhân dự bị.

Xem nội dung VB
Chương này được hướng dẫn bởi Nghị định 217-CP năm 1961
- Điều này được sửa đổi bởi Điều 1 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)

Điều 1: Nay sửa đổi những điều 8 và 10 của Luật nghĩa vụ quân sự và thay bằng những điều (mới) sau đây:

1. Điều 8 (mới) - Những quân nhân đang phục vụ theo chế độ tình nguyện sẽ dần dần được phục viên và chuyển sang dự bị, hoặc giải ngạch nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, để đáp ứng những yêu cầu đặc biệt về xây dựng quân đội và tác chiến, Bộ quốc phòng được phép thực hiện chế độ tình nguyện đối với một số hạ sĩ quan và binh sĩ.

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Điều 1 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)
- Điều này được sửa đổi bởi Điều 1 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)

Điều 1: Nay sửa đổi những điều 8 và 10 của Luật nghĩa vụ quân sự và thay bằng những điều (mới) sau đây:
...
2. Điều 10 (mới) - Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội lục quân là 4 năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội phòng không - không quân, của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội hải quân, của hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân là 5 năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật trong Công an nhân dân vũ trang theo như thời hạn phục vụ tại ngũ của các binh chủng, quân chủng trong Quân đội nhân dân.

Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ trưởng Bộ công an có thể kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân thuộc quyền mình; mỗi lần kéo dài thời hạn phục vụ không được quá 1 năm.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)

Điều 1

Nay sửa đổi ... điều ... 10...của luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 và thay bằng ... điều (mới) sau đây:
...
2. Điều 10 (mới): Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội lục quân là ba năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội không quân là bốn năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân là bốn năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội hải quân là năm năm.

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật trong Công an nhân dân vũ trang theo như thời hạn phục vụ tại ngũ của các binh chủng, quân chủng trong Quân đội nhân dân.

Trong trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ trưởng Bộ công an có thể kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân thuộc quyền mình nhưng không được quá bốn tháng.

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Điều 1 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)
- Chương này được bổ sung bởi Điều 2 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)

Điều 2: Nay bổ sung tiếp theo điều 34b của Luật nghĩa vụ quân sự, điều 34c như sau:

Điều 34c - Trong thời bình, khi có tình hình khẩn trương nhưng chưa cần ra lệnh động viên, để kịp thời tăng cường các lực lượng vũ trang và bảo đảm cho các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu, theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng được quyền gọi một số quân nhân đã xuất ngũ, một số cán bộ và nam nữ công nhân, nhân viên kỹ thuật ra phục vụ tại ngũ.

Xem nội dung VB
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 2 và Khoản 3 Điều 2 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)

Điều 2

Nay bổ sung tiếp theo ... điều ... 32, 34 của luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 ... điều ... 32b, 34b sau đây:
...
2. Điều 32b: Việc gọi quân nhân dự bị ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến quy định như sau:

Thủ tướng Chính phủ ra lệnh gọi sĩ quan dự bị cấp tướng;

Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra lệnh gọi quân nhân dự bị từ cấp tá trở xuống;

Theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính khu tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra lệnh gọi quân nhân dự bị từ cấp uý trở xuống;

Theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, khu phố ra lệnh gọi hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị.

3. Điều 34b: Trong thời bình, theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng tổ chức động viên thực tập cho các địa phương, cơ quan, đơn vị sản xuất và các tổ chức khác. Những người có nghĩa vụ quân sự có nhiệm vụ chấp hành nghiêm chỉnh các mệnh lệnh về động viên thực tập của Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Chủ tịch Uỷ ban hành chính địa phương.

Xem nội dung VB
Chương này được bổ sung bởi Điều 2 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)
Chương này được bổ sung bởi Khoản 2 và Khoản 3 Điều 2 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)

Điều 1

Nay sửa đổi ... điều 7... của luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 và thay bằng ... điều (mới) sau đây:

1. Điều 7 (mới): Lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực trong thời bình là từ mười tám đến hai mươi nhăm tuổi, trong thời chiến là từ mười tám đến bốn nhăm tuổi.

Việc lần lượt gọi các lứa tuổi ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến do Hội đồng quốc phòng định.

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)

Điều 1

Nay sửa đổi ... điều ... 28... của luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 và thay bằng ... điều (mới) sau đây:
...
3. Điều 28 (mới): Sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị hàng năm phải tham gia huấn luyện quân sự theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.

Sĩ quan dự bị, hạ sĩ quan kỹ thuật dự bị, binh sĩ kỹ thuật dự bị và những người được chọn để đào tạo thành sĩ quan dự bị mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự hai mươi nhăm ngày.

Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị bộ binh mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự mười lăm ngày.

Trong trường hợp thật cần thiết, Hội đồng Chính phủ quyết định việc tổ chức huấn luyện quân sự tập trung cho quân nhân dự bị trong một thời gian không quá tám tháng.

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)

Điều 1

Nay sửa đổi ... điều ... 32 của luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 và thay bằng ... điều (mới) sau đây:
...
4. Điều 32 (mới): Sau khi Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra các mệnh lệnh cần thiết để thực hiện.

Uỷ ban hành chính các cấp có nhiệm vụ thi hành mệnh lệnh động viên của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.

Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và các tổ chức khác có nhiệm vụ bảo đảm cho quân nhân dự bị thuộc tổ chức của mình chấp hành lệnh động viên được nhanh chóng.

Xem nội dung VB
Điều này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)
- Chương này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)

Điều 2

Nay bổ sung tiếp theo ... điều 27...của luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 ... điều 27b...sau đây:

1. Điều 27b: Bộ trưởng Bộ quốc phòng lãnh đạo công tác tuyển binh trong toàn quốc.

Uỷ ban hành chính các cấp lãnh đạo cơ quan quân sự địa phương và các ngành có liên quan ở địa phương tổ chức thực hiện việc tuyển binh trong địa phương mình.

Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và các tổ chức khác có nhiệm vụ bảo đảm cho công tác tuyển binh trong tổ chức của mình tiến hành được tốt.

Xem nội dung VB
Chương này được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962 (VB hết hiệu lực: 01/01/1982)
Văn bản gốc
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 11/SL   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Hồ Chí Minh
Ngày ban hành: 28/04/1960   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 11/05/1960   Số công báo: Số 19
Lĩnh vực: Quốc phòng   Tình trạng: Đã biết
Từ khóa: Luật nghĩa vụ quân sự 1960

1.223

Thành viên
Đăng nhập bằng Google
36858