• Lữu trữ
  • Thông báo
  • Ghi chú
  • Facebook
  • Google
    • 12

Luật tố tụng hành chính 2015

Bản Tiếng Việt
Bản Tiếng Anh (English)
Lược Đồ
Tải về


Trích lược
Số hiệu: 93/2015/QH13   Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội   Người ký: Nguyễn Sinh Hùng
Ngày ban hành: 25/11/2015   Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: 29/12/2015   Số công báo: Từ số 1247 đến số 1248
Lĩnh vực: Hành chính tư pháp, Tố tụng và các phương thức giải quyết tranh chấp   Tình trạng: Đã biết

Kỳ họp Quốc hội vừa qua, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Tố tụng Hành chính với nhiều thay đổi so với Bộ luật hiện hành. Cụ thể nội dung một số thay đổi quan trọng như sau:

1. Thủ tục xét xử rút gọn

Đây là một nội dung hoàn toàn mới tại Bộ luật Tố tụng Hành chính 2015 này, được quy định tại Chương XIV. Chương này có 9 điều và được phân làm 2 mục: Thủ tục rút gọn ở cấp sơ thẩm và thủ tục rút gọn ở cấp phúc thẩm.

Thủ tục rút gọn này nhằm rút ngắn về thời gian và thủ tục so với thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thông thường nhưng vẫn bảo đảm giải quyết vụ án đúng pháp luật.

Thủ tục rút gọn này được áp dụng với những vụ án có đủ các điều kiện sau đây:

- Có tình tiết đơn giản, tài liệu, chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, đủ cơ sở giải quyết và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;

- Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng;

- Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài có thỏa thuận với đương sự ở Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Trong quá trình giải quyết, nếu xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để áp dụng theo thủ tục rút gọn thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyết định của Toà án theo thủ tục rút gọn là 07 ngày làm việc, kể từ ngày tuyên án.

Thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày làm việc, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định.

2. Phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ văn bản quy phạm pháp luật

Đây cũng là một nội dung hoàn toàn mới của Bộ Luật Tố tụng Hành chính này. Nội dung này được quy định tại chương VIII của Bộ luật với 4 điều. Ngoài ra, nội dung này còn được thể hiện rải rác trong các điều khoản khác như Điều 6, các quy định về quyền hạn, nhiệm vụ của thẩm phán, các nội dung trong quá trình tố tụng.

Theo đó, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội… thì Tòa án thực hiện như sau:

- Nếu chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Chánh án Toà án thực hiện việc kiến nghị theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền thực hiện việc kiến nghị;

- Nếu đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc vụ án đang được xem xét theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm thì Hội đồng xét xử đề nghị Chánh án Tòa án thực hiện kiến nghị hoặc đề nghị người có thẩm quyền thực hiện kiến nghị.

Thẩm quyền kiến nghị được quy định ở theo quy định tại Điều 112 Bộ luật này.

Cơ quan nhận được kiến nghị của Tòa án có trách nhiệm giải quyết như sau:

-  Xem xét và trả lời cho Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị về văn bản hướng dẫn thi hành Luật,  nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Nếu quá thời hạn này mà không có trả lời thì Tòa án áp dụng văn bản có hiệu lực pháp luật cao hơn để giải quyết vụ án.

- Đối với Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì xem xét theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

3. Xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành chính

Một nội dung mới khác của Bộ luật Tố tụng Hành chính này là các quy định về xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng. Nội dung này xuất hiện rải rác trong Bộ luật (tại các điều khoản về thẩm quyền của thẩm phán; trách nhiệm, nghĩa vụ của các đương sự…) và có riêng một chương XX để quy định về nội dung này.

Theo đó, việc xử lý áp dụng với các hành vi sau:

- Hành vi vi phạm nội quy phiên toà

- Hành vi xúc phạm uy tín của Toà án, danh dự, nhân phẩm, uy tín, sức khoẻ của những người tiến hành tố tụng hoặc những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Toà án

- Hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Toà án

- Xử lý hành vi cố ý không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

- Xử lý hành vi can thiệp vào việc giải quyết vụ án

- Hành vi cản trở việc giao, nhận, cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng của Toà án

- Hành vi cản trở cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng theo yêu cầu của Toà án

- Hành vi đưa tin sai sự thật nhằm cản trở việc giải quyết vụ án của Toà án

- Hành vi không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án

Trình tự, thủ tục, thẩm quyền xử phạt, mức tiền phạt cụ thể đối với các hành vi nêu trên sẽ thực hiện theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và các quy định có liên quan.

4. Các quy định về Kiểm tra viên, thẩm tra viên, kiểm sát viên

Các nội dung này được quy định lần lượt ở các điều sau:

Điều 40. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm tra viên

Điều 44. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên

Điều 50. Những trường hợp Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi

Điều 51. Thủ tục từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên

Điều 52. Quyết định việc thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên

(những quy định này không có ở Bộ luật cũ).

Bên cạnh đó, đối với kiểm sát viên thì Bộ luật mới cũng có thêm một số nhiệm vụ, quyền hạn mới:

- Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện.

- Kiểm sát việc thụ lý giải quyết vụ án.

- Nghiên cứu hồ sơ vụ án theo quy định của Luật này; yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án.

- Yêu cầu, kiến nghị Tòa án thực hiện các hoạt động tố tụng theo đúng quy định của Luật này.

- Đề nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật.

5. Bảo đảm tranh tụng trong xét xử

Theo quy định tại điều 18 Bộ luật Tố tụng hành chính mới này thì Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định.

Theo đó, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Toà án thụ lý vụ án hành chính và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác.

Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai (trừ trường hợp không được công khai theo quy định).

Tòa án phải điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định.

6. Đối thoại trong quá trình tố tụng

Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Hành chính mới này thì trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, Toà án có trách nhiệm tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án. Việc đối thoại phải được tiến hành theo các nguyên tắc sau:

- Bảo đảm công khai, dân chủ, tôn trọng ý kiến của đương sự;

- Không được ép buộc các đương sự thực hiện việc giải quyết vụ án hành chính trái với ý chí của họ;

- Nội dung đối thoại, kết quả đối thoại thành giữa các đương sự không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

Cần lưu ý là sẽ không tiến hành đối thoại với các vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn, vụ án khiếu nại về danh sách cử tri và các trường hợp sau:

- Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.

- Đương sự không thể tham gia đối thoại được vì có lý do chính đáng.

- Các bên đương sự thống nhất đề nghị không tiến hành đối thoại.

Kết quả đối thoại được xử lý như sau:

- Trường hợp người khởi kiện vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, người bị kiện giữ nguyên quyết định, hành vi bị khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vẫn giữ nguyên yêu cầu thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án hành chính theo quy định của Luật này.

- Trường hợp người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện thì Thẩm phán lập biên bản về việc người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện và ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính.

- Trường hợp người bị kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi kiện thì Toà án lập biên bản về việc cam kết của đương sự. Theo đó:

+ Nếu trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản mà một trong các đương sự không thực hiện cam kết của mình thì Tòa án tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án hành chính theo quy định.

+ Trường hợp nhận được quyết định hành chính mới hoặc văn bản rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự khác biết. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án, nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành và đình chỉ việc giải quyết vụ án. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

7. Chứng cứ

Về chứng cứ, Bộ luật Tố tụng hành chính mới đã bổ sung thêm hai loại chứng cứ sau:

- Các thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự.

- Văn bản xác nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Về nguồn cung cấp chứng cứ thì cũng được bổ sung thêm hai nguồn sau:

- Văn bản xác nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập;

- Văn bản công chứng, chứng thực

Bên cạnh đó, đối với những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp, nếu như có nghi ngờ về tính xác thực của tình tiết, sự kiện trong văn bản này thì Thẩm phán có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đã cung cấp, giao nộp văn bản xuất trình văn bản gốc.

Trong hoạt động giao nộp chứng cứ thì quy định mới cũng xác định: nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà các đương sự đã giao nộp và Toà án đã thu thập được để giải quyết vụ án.

Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu hoặc xét thấy cần thiết, Tòa án có thể tự mình hoặc ủy thác tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm rõ các tình tiết của vụ án.

Ngoài ra, trong hoạt động thu thập chứng cứ, Bộ luật cũng cho phép đương sự thực hiện quyền thu thập chứng cứ thông qua các biện pháp sau:

- Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, thông điệp dữ liệu điện tử;

- Vật chứng;

- Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng;

- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ án mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ;

- Yêu cầu Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực lời khai của người làm chứng;

- Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ;

- Yêu cầu giám định, định giá, thẩm định giá;

- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các công việc khác theo quy định của pháp luật.

Đối với những người đưa ra chứng cứ giả mạo thì sẽ phải bồi thường thiệt hại nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác và phải chịu chi phí giám định nếu Tòa án quyết định trưng cầu giám định.

8. Quyền tiếp cận, trao đổi tài liệu, chứng cứ.

Một nội dung mới khác được quy định ở Bộ luật này là quyền tiếp cận, trao đổi chứng cứ. Theo đó, đương sự có quyền được biết, ghi chép, sao chụp, trao đổi tài liệu, chứng cứ do đương sự khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 96 của Luật này.

Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì trong thời hạn 05 ngày làm việc họ phải thông báo cho đương sự khác biết về việc họ đã giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án để đương sự khác liên hệ với Tòa án thực hiện quyền tiếp cận tài liệu, chứng cứ.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ thì Tòa án phải thông báo cho đương sự biết để họ thực hiện quyền tiếp cận tài liệu, chứng cứ.

Về thời hạn giao nộp chứng cứ sẽ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định, tuy nhiên sẽ không vượt quá thời hạn ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm.

Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đương sự mới giao nộp chứng cứ mà Toà án đã yêu cầu giao nộp trước đó thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp chứng cứ đó.

Đối với chứng cứ mà trước đó Toà án không yêu cầu đương sự phải giao nộp hoặc chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên toà sơ thẩm

Ngoài ra, đương sự cũng được quyền giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm trong hai trường hợp sau đây:

- Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng;

- Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm.

Đương sự cũng được quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, VKS xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm nếu những tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu giao nộp, hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng hoặc những tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc.

9. Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hành chính 2015 này thì phiên họp này là một giai đoạn bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án. Theo đó, đương sự có quyền đề nghị Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đối thoại và tham gia phiên họp trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Thẩm phán sẽ có nhiệm vụ tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại theo quy định của Bộ luật.

Trước khi tiến hành phiên họp Thẩm phán phải thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp.

Trong trường hợp vụ án không tiến hành đối thoại được thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành việc đối thoại.

Thành phần tham gia phiên họp gồm có:

a) Thẩm phán chủ trì phiên họp;

b) Thư ký Toà án ghi biên bản phiên họp;

c) Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự;

d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có);

đ) Người phiên dịch, nếu có đương sự không biết tiếng Việt.

10. Tống đạt, thông báo văn bản tố tụng

Nội dung của Bộ luật này bổ sung thêm một hình thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng đó là tống đạt bằng phương tiện điện tử. Hình thức này sẽ thực hiện theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác.

Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo bằng phương tiện điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Bên cạnh đó, Bộ luật cũng bổ sung một đối tượng thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng là “người có chức năng tống đạt”.

Đối với hoạt động thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thì có thêm 1 kênh thông báo là cổng thông tin điện tử của Tòa án.

Trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ thì ngoài việc lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo, văn bản cần tống đạt còn được niêm yết công khai theo quy định.

11. Thủ tục nộp đơn khởi kiện

Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hành chính mới này, Khi khởi kiện vụ án hành chính thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải làm đơn khởi kiện theo đúng quy định tại Điều 118 của Bộ luật.

Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.

Tuy nhiên, trong trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp các tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.

Các tài liệu, chứng cứ khác, người khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Toà án trong quá trình giải quyết vụ án.

Việc gửi đơn khởi kiện ngoài các biện pháp thông thường (gửi trực tiếp, gửi qua bưu điện) thì còn có thể gửi trực tuyến trong trường hợp Toà án áp dụng hình thức nhận đơn trực tuyến qua cổng thông tin điện tử của Tòa án. Ngày khởi kiện trong trường hợp này sẽ là ngày gửi đơn.

Về việc xác định ngày khởi kiện thì Bộ luật mới này cũng có điều chỉnh đối với trường hợp gửi đơn qua bưu điện. Theo đó, trong trường hợp ngày Toà án nhận được đơn do tổ chức bưu chính chuyển đến mà thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì ngày khởi kiện là ngày Toà án nhận được đơn;

Trường hợp ngày Toà án nhận được đơn mà thời hiệu khởi kiện đã hết thì Toà án phải tiến hành xác minh ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức bưu chính. Nếu xác minh được ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức bưu chính thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức bưu chính; nếu không xác minh được ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức bưu chính thì ngày khởi kiện là ngày ghi trong đơn khởi kiện.

Trong trường hợp chuyển vụ án cho Toà án thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn khởi kiện đến Toà án đã thụ lý nhưng không đúng thẩm quyền.

Về thời hiệu khởi kiện thì Bộ luật mới cũng bổ sung quy định đối với trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định nhưng không đồng ý hoặc không nhận được quyết định giải quyết khiếu nại. Cụ thể thời hạn này sẽ là:

- 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần 2;

- 01 năm, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại.

Một lưu ý quan trọng là nếu đơn khởi kiện bị yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì thời gian thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không tính vào thời hiệu khởi kiện.

Đối với việc trả lại đơn khởi kiện thì Bộ luật này cũng có quy định thêm rằng đơn khởi kiện và các tài liệu mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện sẽ phải được sao lại và lưu tại Toà án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.

12. Các biện pháp ngăn chặn

Căn cứ áp dụng các biện pháp này thay đổi từ việc “cho rằng quyết định đó là trái pháp luật và việc thi hành quyết định đó sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng khó khắc phục.” thành “việc thi hành quyết định đó sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng không thể khắc phục.”

Về trách nhiệm của tòa án trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn thì Bộ luật này cũng quy định thêm rằng nếu Tòa án chậm áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng, gây thiệt hại cho người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án phải bồi thường.

Các biện pháp ngăn chặn này sẽ bị huỷ bỏ biện khi thuộc một trong các trường hợp sau:

- Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng;

- Căn cứ của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn;

- Vụ án đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;

- Các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định của Luật này;

- Vụ án được đình chỉ

13. Lập hồ sơ vụ án hành chính

- Hồ sơ vụ án hành chính gồm đơn từ và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ của đương sự, người tham gia tố tụng khác; các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ án; các văn bản tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án hành chính.

- Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ vụ án hành chính phải được đánh số bút lục, sắp xếp theo thứ tự ngày, tháng, năm. Giấy tờ, tài liệu có trước thì để ở dưới, giấy tờ, tài liệu có sau thì để ở trên và phải được quản lý, lưu giữ, sử dụng theo quy định của pháp luật.

14. Thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng

Theo quy định tại điều 170, Tòa án sẽ xét xử vắng mặt đương sự, người tham gia tố tụng khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Người khởi kiện, người đại diện hợp pháp của người khởi kiện có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

- Người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;

- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.

15. Nội dung nghị án

Khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, kết quả việc tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật và nghiên cứu, áp dụng án lệ hành chính (nếu có) có liên quan để quyết định về các vấn đề sau đây:

-  Tính hợp pháp và có căn cứ về hình thức, nội dung của quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện;

- Tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính;

- Thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính;

- Mối liên hệ giữa quyết định hành chính, hành vi hành chính với quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và những người có liên quan;

- Tính hợp pháp và có căn cứ của văn bản hành chính có liên quan (nếu có);

- Vấn đề bồi thường thiệt hại và các vấn đề khác (nếu có)

16. Một số thay đổi về thời hạn

Thời hạn gửi đơn đề nghị Toà án ra quyết định buộc thi hành bản án, quyết định của Toà án là 5 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Trước đây, không có quy định về việc này mà chỉ có quy định về việc nộp đơn đề nghị đôn đốc thi hành án.

Tòa án sau khi nhận được đơn đề nghị có trách nhiệm ra quyết định trong vòng 3 ngày làm việc (trước đây, thời gian ra văn bản đôn đốc thi hành án là 5 ngày làm việc).

Việc ra quyết định thay thế người tố tụng (thẩm phán, thư ký, kiểm sát viên…) sẽ phải thực hiện trong vòng 5 ngày làm việc (trước đây là 7 ngày làm việc).

Việc giải quyết đơn khiếu nại, kiến nghị trước đây do chánh án thực hiện thì theo quy định của Bộ luật này chánh án sẽ phân công một thẩm phán giải quyết. Thời gian giải quyết là 5 ngày làm việc (trước đây là 3 ngày làm việc).

Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị thì người khởi kiện/viện kiểm sát có thể khiếu nại, kiến nghị với Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp trong thời hạn 7 ngày làm việc (trước đây là 10 ngày làm việc).

Việc trả lời khiếu nại, kiến nghị của chánh án tòa án cấp trên sẽ được thực hiện trong thời hạn 10 ngày làm việc (trước đây là 5 ngày làm việc).

Việc thụ lý vụ án sẽ được thông báo cho người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thời hạn 3 ngày làm việc (trước đây là 5 ngày làm việc).

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình và tài liệu, chứng cứ kèm theo hoặc yêu cầu độc lập (nếu có). Người được thông báo cũng có thể được gia hạn một lần không quá 07 ngày làm việc nếu có lý do chính đáng. Thời hạn này theo quy định trước đây lần lượt là 15 ngày và 10 ngày.

Việc Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án sẽ được thực hiện trong vòng 5 ngày làm việc (quy định trước đây là 3 ngày làm việc).

Về việc gửi quyết định giám đốc thẩm sẽ phải thực hiện rrong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định (trước đây, thời hạn này là 30 ngày làm việc).

19. Một số nội dung thay đổi khác

- Bổ sung quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của tòa án cấp cao. Hiện nay có 3 tòa cấp cao đặt ở Tp.HCM, Đà Nẵng, Hà Nội.

- Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hành chính có thêm trách nhiệm “bảo vệ người chưa thành niên” trong khi tiến hành hoạt động của mình.

- Nhà nước sẽ có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án.

- Trong trường hợp vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khởi kiện Toà án sẽ yêu cầu người khởi kiện lựa chọn cơ quan giải quyết và có văn bản thông báo cho Tòa án biết. Nếu người khởi kiện không lựa chọn cơ quan giải quyết thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện.

- Tại điều 40, Bộ luật Tố tụng Hành chính đã khẳng định: Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.

- Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp Phó của mình đại diện.

- Địa điểm tổ chức phiên tòa có thể là trụ sở Toà án hoặc có thể ngoài trụ sở Tòa án nhưng phải bảo đảm tính trang nghiêm và hình thức phòng xử án.

- Hai trường hợp Hội đồng xét xử sơ thẩm tổ chức với hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân được quy định cụ thể như sau:

+ Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh liên quan đến nhiều đối tượng.

+ Vụ án phức tạp.

- Trong phần khai mạc phiên toà đã bổ sung thêm yêu cầu người làm chứng phải cam kết khai báo đúng sự thật, nếu khai không đúng phải chịu trách nhiệm pháp luật, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên và yêu cầu người giám định, người phiên dịch cam kết cung cấp kết quả giám định chính xác, phiên dịch đúng nội dung cần phiên dịch.

- Chủ tọa phiên toà không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh tụng trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án.

- Luật tố tụng hành chính này cũng có riêng một chương XVIII để quy định về thủ tục giải quyết vụ án hành chính có yếu tố nước ngoài.

Luật Tố tụng hành chính 2015 này có hiệu lực từ ngày 1/7/2016.

Từ khóa: Luật tố tụng hành chính 2015

15.993

Thành viên
Đăng nhập bằng Google